A.Môi trường vĩ mô Italia
1.Giới thiệu
Nước cộng hòa Italia, nằm ở phía Nam châu Âu, là một bán đảo trải dài ra trung tâm Biển
Địa Trung Hải, có diện tích 301.230 km2, dân số 58,15 triệu người. Thủ đô của Italia là Rome, là
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa với gần 3 triệu dân – đông nhất nước, có kim ngạch nhập khẩu
đứng thứ 2 sau thành phố Mila,ở miền Bắc với khoảng 1,5 triệu dân. Khoảng 90% theo đạo Thiên
chúa La Mã. Số người biết đọc và biết viết chiếm gần 99% dân số. Ngôn ngữ chính thức là tiếng
Italia.
Ngoài ra còn một số vùng ở miền Bắc có sử dụng thêm ngôn ngữ khác như: tiếng Đức ở
một phần vùng Trentino – Alto Adige, một số ít người dùng tiếng Pháp ở vùng Valle d’Aosta, một
số ít người dùng tiếng Slovenia ở khu vực Trieste – Gorizia giáp Slovenia.Ngôn ngữ chính trong
giao tiếp quốc tế là tiếng Anh.
2.Môi trường tự nhiên
2.1.Địa hình
5
Italia có đường biên giới đất liền tổng cộng 1.932,2 km, trong đó giáp với Áo 430km (phía
Bắc), với Pháp 488km, với Vatican 3,2km (trong lòng thủ đô Roma của Italia), với San Marino
39km (trong lòng Italia), với Slovenia 232km (phía Bắc), với Thụy sỹ 740km (phía bắc).
Cơ hội: Những sản phẩm dịch vụ mà công ty đầu tư phát triển ở Italia có thể xâm nhập dễ
dàng vào thị trường những nước tiếp giáp ranh giới Italia (nhờ diện tích Italia nhỏ và giáp nhiều
quốc gia khác).
Thách thức: Nhưng cũng có thể những sản phẩm dịch vụ của công ty sẽ bị cạnh tranh bởi
những quốc gia láng giềng đó.
Biển cả bao bọc ba mặt đất nước Italia. Bờ biển dài 7.560 km, nhìn ra bốn biển: Adratique phía
Đông, Ionia phía Nam, Tyrrhenia phía Tây, và Liguria phía Tây Bắc.
Cơ hội: Như vậy, Italia có điều kiện thuận lợi phát triển các mặt hàng về thủy hải sản, du
lịch, và với hệ thống giao thông đường thủy rộng lớn giúp phát triển việc giao lưu buôn bán với
các quốc gia trên thế giới. Do đó kinh doanh về những sản phẩm dịch vụ về biển cũng dễ dàng
hơn.
Thách thức: Bởi chính những công ty lâu năm trong ngành tại đây.
Khoảng 35% diện tích Italia là những ngọn núi cao trên 762m, 42% diện tích là đồi núi. Chỉ
chưa đầy 1/4 diện tích là đồng bằng. Hai rặng núi chạy trên đất Italia là Alpes và Apennines.
Những hồ lớn nhất Italia đều tập trung ở chân dãy Alpes, hồ Garda (383 km2), hồ Maggiore (220
km2), hồ Como (150 km2). Các con suối phía sườn Tây Alpes đổ vào con sông quan trọng nhất
6
Italia là sông Po. Thung lũng sông Po là đồng bằng chủ yếu của vùng này, những cánh đồng màu
mỡ và bằng phẳng nhất Italia.
Như vậy việc vận chuyển ở Italia có lẽ gặp ít nhiều khó khăn do địa hình đồi núi cản trở
nhiều, do đó chi phí vận chuyển là điều cần lưu ý khi kinh doanh hoặc đặt nhà phân phối. Đồng
thời nên chú ý về thói quen tiêu dùng khác nhau của khách hàng đồng bằng và miền núi. Việc thiết
lập kênh phân phối cũng phải phù hợp với từng vùng miền, những vùng đồng bằng hay những
vùng tập trung dân cư thì kênh phân phối ngắn, còn những vùng có địa thế hiểm trờ thì kênh phân
phối dài.
2.2.Khí hậu
Hầu hết các vùng của Italia có khí hậu Địa Trung Hải, kiểu khí hậu thường gặp ở vùng
Nam Âu. Tuy nhiên, sự đa dạng về mặt địa hình đã khiến cho một số nơi có khí hậu khác biệt.
Khí hậu ở vùng núi Alpes có thể rất lạnh trong những mùa Đông khắc nghiệt nhiều tuyết,
thế nhưng chính dãy Alpes đã che chắn cho Italia khỏi phải chịu một mùa đông lạnh giá. Vùng
thung lũng sông Po và vùng đồng bắng Italia tuy có mùa đông khắc nghiệt nhưng không kéo dài,
mùa hè thì rất ấm áp.
Ở bán đảo, mùa đông là khí hậu ôn hoà, mùa hè ấm hơn. Vùng đồng bằng ven biển ấm áp
và dễ chịu cả trong mùa đông, còn những vùng cao, mùa đông thường có tuyết rơi. Thỉnh thoảng
lại xảy ra những đợt lạnh giá và những cơn nóng nực, nhưng đều không kéo dài.
Do nằm gần châu Phi, chỉ cách một eo biển nhỏ, nên khí hấu miền Nam Italia chịu ảnh
hưởng từ những cơn scirocco, tức những cơn gió nóng từ Bắc Phi tràn sang. Những cơn gió nóng
chứa đầy bụi của sa mạc Sahara thổi vào Sicilia và các tỉnh miền Nam trong mùa hè. Khí hậu của
đảo Sicilia và Sardegna hoàn toàn giống nhau, mùa hè khô nóng kéo dài và mùa đông tương đối
ấm áp.
Cơ hội: Nhiều khí hậu vùng miền khác nhau tạo nên sự đa dạng về hàng hóa sản phẩm
dich vụ để phù hợp cho từng vùng miền khí hậu đó.
Thách thức: Do khí hậu ở Italia khác nhau ở các vùng miền như vậy nên phải điều chỉnh
sản phẩm cho phù hợp với khí hậu từng vùng miền, đồng thời phải chú ý bảo quản khi di chuyển
qua lại những vùng miền nhiệt độ khác nhau.
2.3.Tài nguyên thiên nhiên
Italia có tài nguyên thiên nhiên: than, thủy ngân, kẽm, đá cẩm thạch, đá bọt, a mi ăng, kali
cacbonat, pyrit, khí thiên nhiên và dầu thô với trữ lượng không lớn, thủy sản, đất canh tác (tổng
7
diện tích được tưới tiêu gần 27.000km2) Italia có một số vùng phải chịu rủi ro do thiên tai đất lở,
tuyết lở, động đất, ngập lụt, lún đất (thành phố Venice), núi lửa (miền Nam).
Cơ hội: Cơ hội kinh doanh cho những công ty quốc tế chuyên về lĩnh vực nghiên cứu phát
triển tung ra những sản phẩm thay thế những nguồn nguyên liệu sắp cạn kệt.
Thách thức: Do diện tích ko lớn lắm nên Italia không giàu có về tài nguyên thiên nhiên,
Italia phải nhập khẩu hầu hết nguyên liệu thô dùng cho các ngành sản xuất công nghiệp, cho nên
khi đầu tư kinh doanh vào những ngành công nghiệp dịch vụ mà có sử dụng những nguồn tài
nguyên hữu hạn không tái tạo được thì cần phải xem xét nên sản xuất như thế nào để giảm thiểu
bới việc tiêu hao những nguồn tài nguyên này, nếu ko xem xét kỹ có thể dẫn đến thiếu hụt, như vật
sẽ có ảnh hưởng khá lớn đến doanh nghiệp như tăng chi phí sản xuất, hoặc phải thay đổi hình ảnh
sản phẩm.
Hàng năm Italia phải nhập hơn 75% nhu cầu về năng lượng, dẫn đến chi phí năng lượng gia
tăng, làm tăng chi phí hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Cơ hội: cho những công ty quốc tế tung ra những sản phẩm khai thác năng lượng thiên
nhiên vô tận như gió, nước, năng lượng mặt trời….
Thách thức: Cho nên khi xác định đầu tư vào những lĩnh vực tiêu tốn nhiều năng lượng,
doanh nghiệp cần chú ý điều này, đồng thời đầu tư cho nghiên cứu phát triển phương pháp sản
xuất tiết kiệm năng lượng.
Thêm vào đó có tình trạng ô nhiễm môi trường hiện tại: ô nhiễm không khí do khí thải công
nghiệp (sulfu dioxide, mưa axit), nhất là ở hệ thống sông hồ và duyên hải, do ngành công nghiệp
xử lý chất thải phát triển chưa tương xứng với nhu cầu.
Từ nhiều thập kỷ trước, Italia sớm nhận thức và xây dựng, ban hành nhiều biện pháp để
bảo tồn, bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó đặc biệt quan tâm đến hệ thống luật pháp lĩnh vực môi
trường. Pháp luật về đa dạng sinh học ở Italy bao gồm có luật chung về bảo tồn đa dạng sinh học
của Cộng đồng châu Âu, luật về khu bảo tồn quốc gia, luật về bảo vệ các vùng biển và một số luật
có liên quan khác. Bên cạnh đó, mỗi người Italia lại rất nâng cao ý thức ưu chuộng thiên nhiên và
bảo vệ môi trường. Người dân luôn bày tỏ thái độ, quan điểm và hiến kế các biện pháp xây
dựng.Luật và cách ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường
Cơ hội : Những công ty quốc tế kinh doanh sản xuất theo hướng có lợi cho môi trường sẽ
tạo trong lòng người tiêu dùng Italia những suy nghĩ tích cực về công ty, có lợi cho công ty về lâu
8
dài. Đồng thời cũng tạo ra cơ hội marketing cho công ty, đó là tạo ra một thị trường lớn cho các
giải pháp kiểm soát ô nhiễm như tháp lọc khí, các trung tâm tái sinh, hệ thống khí thải….
Thách thức: Công ty muốn đầu tư kinh doanh cần phải chú ý đến khâu bảo vệ môi trường,
xử lý chất thải….chuyển biến theo hướng bảo vệ môi trường, sẽ làm gia tăng chi phí sản xuất
3. Môi trường nhân khẩu
Mặc dù là nước tương đối đông dân của EU, do hạ tầng cơ sở phát triển đồng đều trên cả
nước nên phân bố dân cư cũng đồng đều, không tập trung quá đông ở các thành phố lớn. Với dân
số gần 60 triệu người, chỉ có 3 trong số 20 thành phố đông dân nhất của Italia có trên 1 triệu
người.
Tuổi thọ trung bình của người Italia là 80 năm (2007)
• Dân số: 58,1 triệu
o 0-14 tuổi: 13.8% (nam giới: 4,147,149/ nữ giới 3,899,980)
o 15-64 tuổi years: 66.5% (nam giới 19,530,512/nữ giới 19,105,841)
o từ 65 trở lên : 19.7% (nam giới 4,771,858/nữ giới 6,678,169)
• Tỉ lệ tăng dân số: 0.04%
• Tỷ lệ người nước ngoài nhập cư: 2,06 người / 1000 dân
• Tuổi thọ trung bình: 79,8 tuổi
o Khi khai sinh : 1.07 nam/ nữ
o Dưới 15 tuổi: 1.06 nam/ nữ
o 15-64tuổi: 1.02 nam/nữ
o từ 65 tuổi trở lên: 0.72 nam/ nữ
• Tổng dân số : 0.96 nam/ nữ
• Nhập cư và sắc tộc: Ý hiện là điểm đến của những người nhập cư từ khắp thế giới mà
những vùng chính là Đông Âu, Bắc Phi và Châu Á. Đầu năm 2006, người nước ngoài
chiếm 4,56% dân số, 2.670.514 người, tăng 268.357 người hay 10% so với năm trước đó.
Ở nhiều thành phố phía bắc Ý, như Padua, Milano và Brescia, người nhập cư chiếm một
phần đáng kể dân số.
Làn sóng nhập cư gần đây nhất đến từ Đông Âu, thay thế Bắc Phi trở thành nơi cung cấp
người nhập cư chính. Trong năm 2006, khoảng 1.025.874 người Đông Âu sống tại Ý,
chiếm 40% tổng số người nhập cư vào Ý. Năm quốc tịch nước ngoài có số lượng lớn nhất
9
tại Ý gồm: Albania (348.813), Maroc (319.537), Romania (297.570), Trung Quốc
(127.822) và Ukraina (107.188).
Khu vực phía Bắc cư dân có nguồn gốc từ Đức, Pháp, Slovene-Italia, phía Nam là Albani-
Italia, Hy Lạp-Italia .
Quy mô dân số ít và tốc độ tăng dân số chậm, điều này chứng tỏ qui mô thị trường không lớn
và nhu cầu thị trường cũng sẽ không thay đổi nhiều.
Cơ hội: Sự thay đổi về nhu cầu ko lớn
Thách thức: Nên việc xâm nhập vào thị trường là điều không dễ dàng gì
Italia có dân số già (15-64 tuổi years: 66.5% và từ 65 trở lên : 19.7%), đây là dấu hiệu cho biết
những loại sản phẩm dịch vụ cho tuổi trưởng thành có thị trường lớn hơn so với những sản phẩm
cho thiếu niên.
Mặt khác, do tuổi thọ trung bình cao nên ảnh hưởng đến hành vi mua và các nhu cầu khác,
các sản phẩm dịch vụ cho người lớn tuổi được sư dụng nhiều hơn. Đồng thời, thuận lợi cho việc
đầu tư phát triển những dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và những sản phẩm phục vụ
cho độ tuổi này như những mặt hàng định suất nhỏ, trang thiết bị y tế…những cửa hàng cung cấp
thực phẩm cho người cao niên sẽ cần chiếu sáng mạnh hơn, bảng yết thì phải in chữ to hơn, và
phòng nghỉ ngơi an toàn…
Về thị trường dân tộc, Italia là điểm đến nhập cư của nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu là Đông
Âu, Bắc Phi và Châu Á. Cho nên họ có những điểm đặc trưng khác biệt của dân tộc, quan hệ hàng
xóm láng giềng và đời sống văn hóa. Họ hình thành những mong muốn và thói quen mua sắm nhất
định,
Cơ hội: Hình thành nhiều nhu cầu tiêu dung, công ty có nhiều ngành hàng và nhãn hàng sẽ
có lợi thế hơn.
Thách thức: khi thực hiện những chiến lược marketing tại Italia cần phải nghiên cứu trước
về thình trạng sắc tộc ở địa phương để có những chiến lược phù hợp nhất. Đặc biệt là ở các thành
phố phía bắc Ý, như Padua, Milano và Brescia và các quốc tích chiếm số lượng lớn : Albania,
Maroc, Romania, Trung Quốc và Ukraina.
Mặc dù là nước tương đối đông dân của EU, do hạ tầng cơ sở phát triển đồng đều trên cả
nước nên phân bố dân cư cũng đồng đều, không tập trung quá đông ở các thành phố lớn. Với dân
số gần 60 triệu người, chỉ có 3 trong số 20 thành phố đông dân nhất của Italia có trên 1 triệu người
là Thủ đô Roma (Rome): 2.65 triệu người, Milano (Milan): 1,31 triệu người, Napoli (Naples): 1,05
10
triệu người. Mức độ đô thị hóa ở Italia là 90% và là nơi tập trung nhiều thành phố tôn giáo lớn
trên thế giới. Điều này rất thuận lợi cho các nhà marketing quốc tế, bời vì thực hiện nhiệm vụ ở
những nơi đô thị hóa cao luôn dễ dàng hơn ở những nơi đô thị hóa thấp.
4.Môi trường chính trị - luật pháp
4.1.Lịch sử
Italia có lịch sử lâu đời gắn liên với lịch sử La Mã cổ đại. Đế chế La Mã sau thời kỳ hưng
thịnh đã đi vào suy thoái từ thể kỷ thứ 2 sau công nguyên do chiến tranh giữa các vương triều và bị
các nước đế quốc bên ngoài đô hộ. Từ thế kỷ 14, Italia đã bước vào thời kỳ phục hưng và trở thành
trung tâm thương mại, văng hóa của Châu Âu thế kỷ 15,16. Năm 1861 vua Vittorio Emanuelle II
đã sáp nhập các quốc gia đô thị riêng lẻ và 2 đảo lớn là Sardegna và Sicilia thành một quốc gia là
Italia. Từ đó Italia được thống nhất và bước vào thời kỳ phát triển hiện đại, với một số điểm mốc
lịch sử
• 1922: Mussolini lên cầm quyền, thi hành chính sách độc tài phát xít
• Tháng 7/1943: chế độ phát xít của Italia bị lật đổ
• Tháng 4/1945: Italia được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của phát xít Đức
• Ngày 2/6/1946: nước Cộng hòa Italia được thành lập (ngày quốc khánh Italia)
• 1949: Italia gia nhập NATO
• 1957L Italia gia nhập EEC (EU ngày nay)
4.2.Môi trường chính trị
Toàn nước Italia chia làm 20 đơn vị hành chính cấp vùng, gồm có 15 vùng: Abruzzo.
Basilicata, Calabria, Campania, Emilia – Romagna, Lazio, Liguria, Lombardia, Veneto và 5 vùng
tự trị là Friuli – Venezia, Giulia, Sardegna, Sicilia, Trentino-Alto Adige, Valle d’Aosta. Mỗi vùng
gồm nhiều tỉnh, thủ đô Roma thuộc vùng Lazio
Theo qui định hiến pháp của Italia tháng 12/1947
• Italia có chế độ cộng hòa, tách rời thiên chúa giáo
• Quốc hội là cơ quan lập hiến cao nhất, nhiệm kỳ 5 năm, gồm nhiều thượng nghị viện với
315 ghế và hạ nghị viện với 630 ghế, trong đó có 475 ghế được dân bầu trực tiếp và 55 ghế
được bầu bởi đại diện các vùng. Nhiệm kỳ của các hạ nghị sỹ là 5 năm
• Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất. Đứng đầu chính phủ là thủ tướng. Thủ tướng
được tổng thống chỉ định và hai nghỉ viện thông qua – hiện nay là Ngài Romano Prodi, từ
11
17/5/2006. Thủ tướng đứng ra thành lập nội các và đề nghị danh sách các bộ trưởng. Chính
phủ được quốc hội bầu thông qua bỏ phiếu tín nhiệm
• Italia có hơn 20 đảng, chủ yếu tập trung vào 2 liên minh đối lập:
o Liên minh cầm quyền trung tả, do thủ tướng Prodi đứng đầu, bao gồm liên minh
"cây Ô- liu" (trong đó có Đảng Dân chủ Cánh tả, trước tháng 10.1990 là bộ phận
chủ yếu của Đảng cộng sản Italia), liên minh Hoa cúc (gồm Đảng Nhân dân Italia,
Đảng Hoa hồng, Đảng cấp tiến, Đảng Cộng sản Italia, liên đoàn Xanh, Đảng cộng
sản tái lập, Đảng Giá trị Italia, Liên minh Dân chủ Châu Âu, Phong trào Cộng hòa
châu Âu)
o Liên minh đối lập Trung hữu "Ngôi nhà tự do" do cựu thủ tướng Berlusconi
đứng đầu, bao gồm: Đảng Italia Tiến lên, Liên minh dân tộc, Liên minh Dân chủ
Thiên chúa giáo Trung tâm, Liên đoàn Phương bắc, Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo,
các đảng khác không thuộc liên minh nào như: "Đảng Xã hội Italia mới, Đảng
Cộng hòa Italia, Đảng Xã hội Luân phiên, Đảng phong trào Xã hội "ngọn lửa 3
màu"
Chính phủ hiện nay là chính phủ thứ 60 của Italia, được thành lập từ 5/2006, thuộc Liên minh
Trung tả.
4.3.Pháp luật (liên quan đến vấn đề xuất nhập khẩu vào EU nói chung và Italia nói riêng)
4.3.1. Chính sách thương mại của EU
Liên minh châu Âu đang cải cách sâu rộng và toàn diện thể chế và luật pháp cho phù hợp
với tình hình mới. Nét đặc trưng trong chính sách thương mại của EU là bảo hộ nông nghiệp, bảo
vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng, gây khó khăn cho các nước đang phát triền khi
xuất khẩu các mặt hàng này vào các nước trong khối EU. EU trợ cấp sản xuất nông nghiệp trong
khối đồng thời đánh thuế cao và áp dụng hạn ngạch đối với một số nông sản nhập khẩu như gạo,
đường, chuối, sắn lát…
Các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được thực hiện nghiêm
ngặt trở thành 1 thách thức to lớn cho các nước xuất khẩu ngoài khối EU. Như thế các mặt hàng
12
nhập khẩu vào 1 nước thành viên bất kì trong EU phải đạt tiêu chuần do cả Cộng đồng, đòi hỏi
hàng hóa của các nước đang phát triển như Việt Nam muốn nhập vào thị trường khó tính này phải
nâng cao được chất lượng, đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh an toàn và song song đó phải đạt được
các chứng nhận đặc biệt như:
Cá nhập khẩu cần phải có giấy chứng nhận đặc biệt đảm bảo hàm
lượng thủy ngân trong mức cho phép, Động vật sống, cá, động vật có vỏ hoặc thịt được bảo quản
lạnh, mỡ lợn, các loại da sống hoặc đã sấy khô, len, tóc phải có giấy chứng nhận y tế được cấp bởi
Cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất xứ Bên cạnh đó, còn phải chú trọng việc nghiên cứu và cập
nhật công nghệ của các nước tiên tiến để sớm phát triển cho kịp với xu thế chung của thế giới.
Ngoài các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông nghiệp, EU duy trì
hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm dần trị giá và số lượng các sản phẩm
được trợ cấp xuất khẩu.
EU áp dụng nhiều biện pháp tác động trực tiếp đến nhập khẩu vào lãnh thổ mình như thủ
tục hải quan, quy tắc xuất xứ, thuế quan, thuế gián tiếp, giấy phép, biện pháp tự vệ, quy tắc và tiêu
chuẩn chất lượng hàng hoá, chống bán phá giá nhẳm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, gây
khó khăn cho nước ngoài khi thâm nhập thị trường và khó cạnh tranh với các ngành trong nước
khi đã gia nhập thị trường EU hoặc hạn chế việc thâm nhập đe dọa sự tồn tại của các ngành công
nghiệp cũng như nông nghiệp của khối EU…
Tất cả các nước thành viên EU phải áp dụng chính sách ngoại thương chung đối với ngoài
khối. Uỷ ban Châu Âu là người đại diện duy nhất cho Liên minh trong đàm phán, ký các Hiệp định
thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này.
13
Chính sách ngoại thương của EU gồm chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mại dựa
trên cơ sở Hiệp định được xây dựng dựa trên các nguyên tắc không phân biệt đối xử, minh bạch,
có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là
thuế quan, hạn ngạch, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.
4.3.2
. Chống bán phá giá
Chức năng chống bán phá giá của Italia thuộc Bộ phận quản lí Công cụ Bảo vệ Thương
mại của Bộ Thương mại, phù hợp với luật lệ của EU, nhằm mục tiêu loại trừ việc nhập khẩu phá
giá, bị cho là cạnh tranh không lành mạnh và gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nội địa. Chống phá
giá là biện pháp phổ biến nhất trong bộ ba công cụ bảo vệ thương mại bình đẳng: chống phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ. Thông thường việc phá giá được coi là có liên quan đến việc nhập khẩu
hàng hóa giá quá thấp hoặc dưới giá thành sản xuất, nhưng thực chất của vấn đề phức tạp hơn. Qui
chế chống bán phá giá số 384/96 năm 1996 của EU đưa ra các qui định áp thuế chống bán phá giá
nhưng chỉ khi nào có đầy đủ các điều kiện :
• Phát hiện có bán phá giá: Giá bán của nước xuất khẩu sang nước khác dưới mức giá bán tại
nội địa nước đó
• Thiệt hại vật chất cho sản xuất công nghiệp của Cộng đồng. Việc nhập khẩu gây ra hoặc đe
dọa của công nghiệp, như mất thị phần, buộc các nhà sản xuất sở tại phải giảm giá hàng và
gây sức ép cho sản xuất, kinh doanh, lợi nhuận, năng suất của ngành đó ở nước sở tại
• Lợi ích của Cộng đồng: các chi phí của Cộng đồng bỏ ra nhằm áp dụng các biện pháp phải
không bất cân đối với lợi ích.
Khi một ngành trong khối EU thấy rằng việc nhập khẩu hàng bán phá giá từ những nước
ngoài EU làm thiệt hại đối với các ngành đó của mình, họ có thể khiếu nại trực tiếp lên
EC(EuroCham-Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu) hoặc thông qua chính phủ của mình. Sau đó EC
sẽ có 45 ngày để kiểm tra khiếu nại, tham vấn các nước thành viên (có đại diện tại Ủy ban Tư vấn)
và quyết định xem có đủ bằng chứng để tiến hành điều tra chính thức hay không.
Việc điều tra của Ủy ban sẽ là xác định có việc bán phá giá hay không, đó là một sự tính
toán phức tạp, và cũng phải xem liệu việc nhập khẩu hàng bán phá giá đó ảnh hưởng đến ngành
của nước đó hoặc ngành của nước thuộc EU hay không. Các biện pháp cũng có thể được đặt ra
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét