MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN THỨ NHẤT 4
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP
KHẨU NHÔM KÍNH THÀNH CÔNG 4
1.1Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 4
1.2Khái quát về tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty cổ phần đầu
tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công 6
PHẦN THỨ 2 8
TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NHÔM KÍNH THÀNH
CÔNG 8
2.1 Tổ chức bộ máy kế toán 8
PHẦN THỨ BA 17
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NHÔM KÍNH
THÀNH CÔNG 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên liệu,vật liệu là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố cơ bản
không thể thiếu được của quá trình sản xuất.Nó chính là cơ sở vật chất chủ yếu
để hình thành nên sản phẩm mới. Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất thì
nhất thiết phải có nguyên vật liệu, mà mặt khác nguyên vật liệu lại chiếm một tỷ
trọng lớn trong giá thành sản xuất sản phẩm, nên việc tiết kiệm nguyên vật liệu
là điều kiện mấu chốt để doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp được quyền tự
chủ trong sản xuất kinh doanh, nên việc quản lý nguyên vật liệu cũng được đặt
lên hàng đầu.Trong nền kinh tế hàng hoá, nguyên vật liệu được mua bán chủ
yếu trên thị trường với giá cả thoả thuận, và chịu sự tác động của quy luật kinh
tế như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị Chính vì vậy việc
ghi chép, phản ánh tình hình thu mua, nhập, xuất và dự trữ nguyên vật liệu
chiếm một vị trí quan trọng trong việc cung cấp thông tin để đưa ra các biện
pháp quản lý nguyên vật liệu một cách đúng đắn và hợp lý nhất.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu
nhôm kính Thành Công, so sánh gữa phần lý luận và thực tế tìm hiểu ở công ty,
em nhận thấy còn một số vấn đề khúc mắc tại trong công tác hạch toán vật liệu
tại Công ty.
Chính vì lý do trên em đã chọn và nghiên cứu đề tài “Hạch toán nguyên
vật liệu ở Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công”
để từ đó đưa ra những đánh giá và kiến nghị phù hợp nhất. Trong phần báo cáo
thực tập tổng hợp em xin được trình bày phần tổng quan về Công ty cổ phần
đầu tư xuất nhậpkhẩu nhôm kính Thành Công gồm các phần chính sau đây:
Phần thứ nhất: Tổng quan về công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu
nhôm kính Thành Công;
Phần thứ hai: Tổng quan về tổ chức kế toán tại Công ty cổ phần đầu tư
xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công.
Phần thứ ba: Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại Công ty cổ phần đầu
tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công.
Trong quá trình viết Chuyên đề mặc dù rất cố gắng song do trình độ và
nhận thức còn hạn chế nên bài viết còn không tránh khỏi những khiếm
khuyết.Em kính mong nhận được sự nhiệt tình của thầy hướng dẫn và các anh
chị trong phòng kế toán của Công ty đã giúp đỡ em để hoàn thiện hơn nữa đề tài
này.
PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NHÔM
KÍNH THÀNH CÔNG
1.1Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công có tên giao
dịch tiếng Anh: Thanh Cong glass aluminium import-export investment joint
socck company(tên viết tắt:ThanhCong glass aluminium.,JSC) là một doanh
nghiệp tư nhân trẻ mới thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0103017915 của sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội từngáy 14 tháng 06
năm 2006. Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công có
trụ sở chính tại số 230 phố Lò Đúc, Phường Đống Mác, Quận Hai Bà Trưng,
Thành phố Hà Nội.
Theo quyết định thành lập công ty số 0103017915 của Sở kế hoạch đầu tư
thành phố Hà Nội ngày 14 thánh 06 năm 2006,Công ty có số vốn điều lệ là
1.000.000.000 đồng( Một tỷ đồng) với các ngành nghề kinh doanh chính của
Công ty là:
+ Sản xuất khung nhôm kính, sản phẩm nội ngoại thất;
+ Dịch vụ lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hành sản phẩm khung nhôm kính, nội
thất;
+ Buôn bán vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ, máy móc thiết bị
công, nông nghiệp, xây dựng;
+ Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá;
+ Trang trí và sản xuất các laọi sản phẩm trang trí nội ngoại thất;
+ Xây dựng dân dụng, công nghiệp;
+ Dịch vụ vận tải hàng hoá, vận tải hành khách bằng ô tô theo hợp đồng;
+ Xuất khẩu các mặt hàng Công ty đăng ký kinh doanh;
+ Mua bán, cho thuê xe ô tô, xe máy các loại;
+ Dịch vụ vận chuyển hành khách, vận tải hàng hoá bằng đường bộ;
+ Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng
kỹ thuật khu đô thị;
+ Sản xuất mua bán hàng tiêu dùng;
+ Mua bán vật liệu xây dựng.
Tuy là một doanh nghiệp trẻ, trải qua khoảng thời gian với những biến động
lớn của nền kinh tế trong những năm vừa qua nhưng Công ty cổ phần đầu tư
xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công đã có những bước phát triển không
ngừng trong sản xuất kinh doanh.
Là một Công ty chuyên hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất và lắp đặt
khung nhôm kính cho những dự án công trình lớn như dự án các khu công
nghiệp hay chung cư tại các khu đô thị lớn mới được hình thành do vậy các hoạt
đông kinh doanh của công ty luôn gắn chặt với đối tượng lao động là nguyên vật
liệu.
Mặc dù mới thành lập nhưng Công ty đã có những bước phát triển không
ngừng được thể hiện qua những số liệu chi tiết của 2 năm liên tiếp:
MỘT SỐ CHỈ TIÊU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU
NHÔM KÍNH THÀNH CÔNG TRONG 2 NĂM 2006-2007
Năm Doanh thu Nộp ngân sách Lợi nhuận Vốn chủ sở
hữu
Thu nhập bình
quân
2006 3.5 tỷ đồng 35 triệu đồng 73 triệu đồng 1 tỷ đồng 1.5 triệu đồng
2007 4.2 tỷ đồng 51 triệu đồng 89 triệu đồng 1.073 tỷ đồng 1.8 triệu đồng
Như vậy, qua bảng chỉ tiêu trên tốc độ tăng trưởng ở tất cả các chỉ tiêu
chính của công ty trong 2 năm liền đều đạt bình quân trên 10% năm, lợi nhuận
ngày càng lớn, nộp ngân sách ngày càng cao, tỷ xuất lợi nhuận trên doanh thu
và trên vốn ngày càng tăng, thu nhập của người lao động ngày càng được cải
thiện và nâng cao.
1.2Khái quát về tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty cổ phần đầu tư
xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công
Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được dặt dưới sự chỉ
đạo trực tiếp của Giám đốc và các thành viên của hội đồng quản trị.Hỗ trợ cho
Giám đốc là một phó Giám đốc và 4 phòng chức năng bao gồm: Phòng tổ chức
hành chính, phòng Kế toán, phòng kế hoạch và kỹ thuật, phòng cung ứng vật
tư.Các phòng này không trực tiếp sản xuất mà có nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn
bộ hoạt động của Công ty như hoạt động sản xuất, hoạt động công đoàn cho
cán bộ công nhân viên.
Trong phạm vi toàn Công ty thì hội đồng quản trị, đứng đầu là Chủ tịch hội
đồng quản trị kiêm Giám đốc cùng với Phó Giám đốc có nhiệm vụ thực hiện
quản lý và lãnh đạo tập chung thống nhất, bảo đảm sự hoạt đông nhịp nhàng,
liên tục giữa các bộ phận.Giám đốc có quyền hạn và trách nhiệm cao nhất đối
với toàn bộ mọi hoạt động cũng như hiệu quả kinh doanh của toàn Công ty.Phó
Giám đốc và các trưởng phòng chức năng khác sẽ đóng vai trò hỗ trợ trên các
mặt hoạt động khác nhau, như phòng kế hoạch và kỹ thuật có trách nhiệm lên kế
hoạch sản xuất cũng như việc đảm bảo dự trữ nguyên vật liệu cần thiết cho sản
xuất.
Hiện tại Công ty có số lượng cán bộ công nhân viên là trên 30 người (tăng
so với cùng kỳ năm trước là 6 người). Những người làm chức năng quản lý hầu
hết đều có trình độ từ cao đẳng trở lên.Trong đó cán bộ có trình độ đại học
chiếm 30%, đây là tỷ lệ khá cao đảm bảo chất lượng và hiệu quả công việc luôn
được thực hiện tốt và vượt kế hoạch đề ra.Đặc biệt trong số này đội ngũ cán bộ
trẻ chiếm tỷ trọng lớn, nhiệt tình, say mê công việc luôn phấn đấu, không ngừng
hoàn thiện, năng động sáng tạo tìm tòi đổi mới công tác quản lý và máy móc
thiết bị, đem lại năng suất lao đông ngày càng cao.
Bộ máy hoạt động của công ty có thể được khái quát qua sơ đồ chức năng
sau:
Sơ đồ 1: Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty
Là một công ty sản xuất nên quy trình sản xuất của Công ty được khép kín
từ khâu gia công sản phẩm cho đến khâu lắp dựng.Các bộ phận sản xuất trong
Công ty kết hợp với nhau một cách đồng bộ và nhịp nhàng từ bộ phận kỹ thuật
thiết kế bản vẽ, xuống đến bộ phận gia công sản xuất ra sản phẩm, sau đó được
bộ phận lắp dựng tiếp nhận chuyển đến công trình và hoàn thành nốt công đoạn
lắp dựng một sản phẩm hoàn thiện cho công trình.Với đội ngũ lao động trẻ, có
tay nghề cao cùng lòng say mê nghề nghiệp, những công nhân của Công ty đã
góp phần vào sự thành công của Công ty như ngày hôm nay.
Bộ máy sản xuất của Công ty khái quát qua sơ đồ chức năng sau:
Sơ đồ 2: Cơ cấu bộ máy sản xuất của Công ty
Hội đồng Quản trị
- Chủ tịch Hội đồng Quản trị
kiêm Giám đốc
- Phó Giám đốc
Phòng
Tổ chức
Hành chính
Phòng Kế
hoạch và Kỹ
thuật
Phòng
Kế toán Thống
kê
Phòng Cung
ứng vật tư
và Vận tải
Nguyên vật liệu
Bộ phận gia
công sản xuất
Bộ phận lắp đặt
sản phẩm hoàn
thành
PHẦN THỨ 2
TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
XUẤT NHẬP KHẨU NHÔM KÍNH THÀNH CÔNG
Từ những đặc điểm sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý như đã nêu ở
trên, đòi hỏi công tác tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty cũng phải phù hợp
nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Việc bố trí các phòng ban chức năng như trên đã
đảm bảo một bộ máy đầy đủ, bao quát toàn bộ hoạt động thường xuyên tại Công
ty.Việc hạch toán vật liệu được thực hiện tại Phòng Kế Toán vì lẽ đó cũng luôn
đảm bảo được sự gắn kết và hỗ trợ từ các Phòng, ban khác một cách hiệu quả
nhất.
2.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty theo hình thức tập trung.Tại Công ty
phòng kế toán gồm có 1 kế toán trưởng và các nhân viên kế toán phụ trách từng
mảng kế toán như: kế toán công nợ- thanh toán, kế toán tổng hợp tính giá thành
sản phẩm, kế toán vật tư và tài sản cố định, thủ quỹ, với những nhiệm vụ sau
đây:
- 01 Kế toán trưởng: phụ trách phòng Tài chính-Kế toán, chịu trách nhiệm
điều hành và giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy kế toán, giải trình các số
liệu kế toán, cung cấp các số liệu báo cáo cho các phòng ban, cơ quan cấp trên.
- 01 Kế toán công nợ-thanh toán: Phụ trách tất cả các công nợ của khách
hàng và lên kế hoạch thanh toán công nợ, phải trả CBCNV cũng như thu hồi
công nợ để phối hợp cùng Kế toán trưởng có kế hoạch thu chi trong tháng một
cách phù hợp.
- 01 Kế toán tổng hợp tính giá thành sản phẩm: có trách nhiệm tập hợp tất
cả các chi phí nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho từng công trình.
- 01 Kế toán vật tư và tài sản cố định: Quản lý tài sản,hàng hoá trong kho,
báo cáo hàng nhập, xuất, tồn để cùng với bộ phận kế hoạch sản xuất lên kế
hoạch cho việc dữ trữ nguyên vật liệu đáp ứng nhu cầu sản xuất của đơn vị.
Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần đầu tư xuất
nhập khẩu nhôm kính Thành Công:
2.2 Khái quát các phần hành kế toán
Về chính sách kế toán áp dụng tại Công ty: Công ty cổ phần đầu tư xuất
nhập khẩu nhôm kính Thành Công áp dụng chế độ kế toán mới ban hành theo
quiyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của bộ trưởng Bộ tài
chính.Theo chính sách này công việc kế toán được thực hiện theo một quy trình
nghiêm ngặt và đầy đủ và vẫn đảm bảo dễ làm, dễ hiểu, minh bạch, công khai,
dễ kiểm tra, kiểm soát. Với cách bố trí, sắp xếp tài khoản, bảng cân đối kế toán,
thông tin do công ty cung cấp cho phép được đánh giá thực trạng tài chính của
doanh nghiệp ở mọi thời điểm. Theo chế độ kế toán mới này công tác kế toán
vẫn chủ yếu xoay quanh các nội dung chính là hệ thống báo cáo kế toán, chế độ
chứng từ kế toán và chế độ sổ sách kế toán cùng hình thức kế toán.
Do đặc điểm vật liệu của doanh nghiệp của Công ty đa dạng và phong phú
về chủng loại nên công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch
toán. Theo phương pháp này mọi nghiệp vụ kế toán phát sinh đều được ghi lại
ngay tại thời điểm phát sinh.Việc ghi chép này sẽ giúp cho công tác kế toán sau
này không bị nhầm lẫn và có độ chính xác cao, giảm áp lực công việc cho người
làm kế toán tại thời điểm cuối mỗi kì báo cáo.Về nguyên tắc ghi nhận hàng tồn
kho, hàng tồn kho được ghi nhận theo giá gốc với phương pháp tính là giá đơn
vị bình quân. Về Tài sản cố định (TSCĐ), nguyên tắc ghi nhận TSCĐ là theo
nguyên giá với phương pháp khấu hao theo đường thẳng… Ngoài ra còn có các
chính sách kế toán khác như nguyên tắc ghi nhận các khoản chi phí đi vay, chi
phí phải trả, vốn chủ sở hữu, nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí tài chính,
thuế thu nhập doanh nghiệp đều được vận dụng linh hoạt và tuân theo đúng quy
định của Nhà nước.
Về tổ chức vận dụng chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán áp dụng cho
doanh nghiệp thực hiện theo đúng nội dung, phương pháp lập, kí chứng từ theo
quy định của Luật Kế toán và Nghị định của Chính phủ Số 129/2004/NĐ-CP
ngày 31/5/2004. Hệ thống biểu mẫu kế toán áp dụng cho doanh nghiệp bao gồm
các chỉ tiêu:lao động tiền lương, hàng tồn kho, chỉ tiêu tiền tệ và chỉ tiêu TSCĐ…
Trong đó chứng từ về lao động tiền lương bao gồm: bảng chấm công, bảng
thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền thưởng, giấy đi đường, bảng thanh
toán tiền thuê ngoài, bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội… Chứng từ về
hàng tồn kho bao gồm: phiếu nhập kho, xuất kho, biên bản kiểm nghiệm vật tư,
công cụ, sản phẩm, bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… Chứng từ
về tiền tệ bao gồm: phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm ứng, giấy đề nghị
thanh toán, biên lai thu tiền, bảng kê chi tiền… Và các chứng từ về TSCĐ như:
biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ, biên bản kiểm kê TSCĐ,
bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ. Ngoài ra còn có các chứng từ khác như:
hoá đơn thuế giá trị gia tăng, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ…
Các chứng từ về tiền lương được lập nhằm theo dõi tình hình sử dụng thời
gian lao động, các khoản phải thanh toán với người lao động và một số vấn đề
khác có liên quan đến người lao động. Các chứng từ này được lập bởi kế toán
tiền lương sau đó được tổng hợp lại dùng làm căn cứ tính giá thành sản phẩm
và các chi phí khác.
Đối với các chứng từ về hàng tồn kho và TSCĐ sẽ được đảm nhận bởi kế
toán vật tư và TSCĐ.Mỗi khi có sự cố xảy ra như vật tư, công cụ, dụng cụ không
đủ số lượng hoặc không đúng quy cách so với chứng từ hoá đơn nhiệm vụ của
kế toán phần hành này sẽ phải lập thêm một liên nữa kèm theo chứng từ liên
quan gửi cho các bên có liên quan để giải quyết. Các chứng từ ở mảng này rất
quan trọng đòi hỏi phải được ghi chép cẩn thận để làm căn cứ chủ yếu cho việc
tính giá thành sau này. Do đặc thù hoạt động kinh doanh Công ty có chỉ tiêu
TSCĐ là rất lớn so với TSLĐ. Tuy nhiên do năng lực vốn còn hạn chế nên việc
mua sắm TSCĐ chỉ diễn ra một hoặc hai lần trong năm.Kế toán chủ yếu phụ
trách phần hành này là lập chứng từ tính và phân bổ khấu hao, kiểm kê, đánh
giá lại TSCĐ.
Ở Công ty Cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công các
phiếu thu chi thường chiếm tỉ lệ lớn trong số hoá đơn chứng từ phát sinh hàng
ngày.Đây cũng là các chứng từ rất quan trọng không thể để xảy ra sai sót bởi nó
ảnh hưởng rất lớn đến việc lập các báo cáo tài chính sau này và ảnh hưởng đến
kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty.
Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được lập chứng từ.Nội dung của chứng
từ luôn đảm bảo đầy đủ các chỉ tiêu, rõ ràng, trung thực phù hợp với những
nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các liên chứng từ cũng được lập đầy đủ và được
lưu theo quy định theo một hệ thống khoa học, đơn giản nhưng dễ kiểm soát.
Mỗi khi chứng từ được lập đều có đầy đủ chữ kí của những người liên
quan như kế toán trưởng, người lập chứng từ, Giám đốc, thủ quỹ, thủ kho… Tất
cả chứng từ kế toán đều tập trung tại bộ phận kế toán doanh nghiệp.Bộ phận kế
toán kiểm tra những chứng từ này và xác minh tính hợp lý của chúng sau đó mới
tiến hành ghi sổ.Sau khi phân loại chứng từ được sắp xếp, định khoản và ghi sổ,
tiếp đó chúng sẽ được lưu trữ và bảo quản.Việc lập chứng từ kế toán đều được
tiến hành theo những mẫu có sẵn và được tổng hợp lại đưa cho kế toán tổng
hợp thống kê đưa các chỉ tiêu tài chính và được sử dụng để tham mưu cho Hội
đồng Quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh tiếp theo.
Như vậy để hạch toán vật liệu các chứng từ được sử dụng chủ yếu ở Công
ty gồm:
- Hoá đơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng
- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho.
- Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi.
- Hoá đơn mua bán
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, bảng phân bổ nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ…
Về tổ chức vận dụng tài khoản kế toán: Tài khoản kế toán là những ghi
chép cho mỗi loại tài sản và nguồn hình thành của tài sản thể hiện tất cả các lần
tăng giảm qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.Tài khoản là cách thức phân loại,
hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh riêng biệt theo từng đối tượng ghi
của hạch toán kế toán nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của các loại chủ thể
quản lý khác nhau. Một tài khoản kế toán loại đơn giản nhất chỉ gổm 3 yếu tố:
tên (bao gồm tên của tài sản, nguồn vốn), bên trái gọi là bên Nợ, bên phải gọi là
bên Có, đây được gọi là tài khoản chữ T và được sử dụng thông dụng hiện nay.
Bất kỳ một tài khoản nào cũng phải xuất phát từ nội dung và đặc điểm của đối
tượng hạch toán, phải đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý, tiện lợi cho việc
hạch toán cũng như quyết toán định kỳ.Có những tài khoản khác nhau để phản
ánh tính đa dạng của tài sản và nguồn vốn.Chúng cũng phải thể hiện được tính
hai mặt đối lập và thống nhất giữa tài sản và nguồn vốn.Đồng thời đảm bảo phản
ánh được tính vận động của các tài sản trong quá trình kinh doanh. Đối với Công
ty Cổ phần đấu tư xuất nhập khẩu nhôm kính Thành Công do quy mô công ty
chưa thực sự lớn, nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều do đó hệ thống tài
khoản sử dụng trong Công ty tập trung vào một số tài khoản chủ yếu như: Tài
khoản 111 (Tiền mặt), Tài khoản 131 (Phải thu khách hàng), Tài khoản 133
(Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ), Tài khoản 152 (Nguyên vật liệu), Tài khoản
153 (Công cụ, dụng cụ), Tài khoản 211 (Tài sản cố định), Tài khoản 214 (Khấu
hao TSCĐ), Tài khoản 311 (Nợ ngắn hạn phải trả), Tài khoản 334 (Lương phải
trả công nhân viên), Tài khoản 411 (Vốn góp), Tài khoản 511 (Doanh thu), Tài
khoản 621 (Chi phí nguyên vật liệu)…
Đối với hạch toán vật liệu, các tài khoản được sử dụng chủ yếu bao gồm:
Tài khoản 152:“Nguyên liệu, vật liệu”.TK này dùng để theo dõi giá trị hiện
có; tình hình tăng, giảm, tồn kho của các loại nguyên vật liệu của doanh nghiệp
theo giá thực tế.TK này được mở chi tiết gồm:
TK 1521: Nguyên vật liệu chính
TK 1522: Vật liệu phụ
TK 1523: Nhiên liệu
TK 1524: Phụ tùng thay thế
TK 1525: Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản
TK 1528: Vật liệu khác
Tài khoản 151: “Hàng mua đi đường”. TK này sử dụng để theo dõi các loại
nguyên liệu, vật liệu, công cụ, hàng hoá… mà doanh nghiệp đã mua hay chấp
nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của Công ty nhưng cuối tháng chưa về nhập
kho.
Tài khoản 331: “Phải trả người bán”.TK này dùng để phản ánh quan hệ
thanh toán giữa doanh ngiệp với người bán, người nhận thầu về các khoản vật
tư, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã kí kết.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan khác như: TK 111, TK112,
TK 141, TK 128, TK 222, TK 241, TK 411, TK621, TK 627, TK 641, TK 642…
Về tổ chức vận dụng sổ kế toán: Sổ kế toán là một phương tiện vật chất
cơ bản cần thiết để người làm kế toán ghi chép, phản ánh một cách có hệ thống
các thông tin kế toán theo thời gian cũng như theo đối tượng.Ghi sổ kế toán là
một giai đoạn phản ánh của kế toán trong quá trình công nghệ sản xuất thông tin
kế toán. Sổ kế toán có thể là một tờ rời có chức năng ghi chép độc lập hoặc có
thể là quyển sổ bao gồm nhiều tờ rời sổ tạo thành để thực hiện một chức năng
phản ánh quy định của hệ thống hạch toán.Sổ kế toán phải tuân thủ nguyên lý
kết cấu nhất định có nội dung ghi chép theo thời gian hoặc theo đối tượng nhất
định, hoặc chi tiết hoặc tổng hợp để phản ánh và hệ thống hoá các thông tin đã
được chứng từ hoá một cách hợp pháp và hợp lý. Sổ kế toán có nhiều tác dụng
với công tác kế toán.Bằng việc phân loại số liệu kế toán chứng từ vào hệ thống
các loại sổ kế toán theo mục đích ghi chép của mỗi loại sổ sẽ cung cấp thông tin
cho chỉ đạo hoạt động kinh doanh hàng ngày. Công đoạn ghi sổ kế toán sẽ cho
biết thông tin cần quản lý về một sổ đối tượng như:thu chi tiền mặt; xuất nhập
vật tư, hàng hoá; tăng giảm TSCĐ; doanh thu bán hàng; chi phí hoạt động sản
xuất. Cuối kỳ lập báo cáo dựa trên thông tin đã hệ thống hoá trên sổ kế toán có
thể xử lý và lựa chọn thông tin có ích để lập báo cáo, phân tích tài chính cung
cấp cho việc ra quyết định nội bộ hoặc cho những người bên ngoài có quan
tâm.Như vậy sổ kế toán có những tác dụng khác nhau trên nhiều lĩnh vực quản
lý cũng như thực hiện nghiệp vụ kế toán trước, trong và sau quá trình hoạt động
kinh doanh thuộc một kỳ kế toán nhất định.Sổ kế toán có nhiều loại khác nhau
để phản ánh tính đa dạng và phong phú của đối tượng hạch toán.Cần chọn cách
mở sổ thích hợp để đảm bảo hiệu quả chung của công tác kế toán trên sổ và
trong các giai đoạn tiếp theo.
Sổ kế toán có thể được phân loại theo phương pháp ghi, tính chất hệ thống
hoá phản ánh số liệu ta có 3 loại sổ là sổ nhật ký, sổ cái và sổ nhật ký- sổ cái.
Nếu phân loại theo tiêu thức kết cấu bên trong cửa sổ ta có các loại: kết cấu kiểu
tài khoản, kết cấu một bên Nợ (hoặc Có) của tài khoản, sổ kết cấu bàn cờ.Căn
cứ hình thức bên ngoài ta có sổ quyển, sổ tờ rơi. Còn căn cứ mức độ phản ánh
số liệu trên sổ ta có sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp.
Sổ kế toán dùng để ghi chép,hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và trình tự thời gian có liên
quan đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.Hiện tại công ty đang thực hiện
quy định về sổ kế toán theo đúng Luật Kế toán và Nghị định Số 129/2004/NĐ-CP
ngày 31/5/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Kế toán và Chế độ Kế toán này.
Sổ kế toán ở Công ty được quản lý rất chặt chẽ và được phân công trách
nhiệm rõ ràng cho từng nhân viên kế toán giữ và ghi sổ.
Ngày nay do sự phát triển của công nghệ thông tin, phần mềm kế toán
cũng được sử dụng trong Công ty và đóng góp vai trò to lớn trong việc thực hiện
các nghiệp vụ kế toán.Như vậy ngoài ghi sổ theo cách truyền thống là dùng tay,
việc tính toán trên máy cũng được sử dụng song song hỗ trợ đắc lực cho các
nhân viên kế toán.
Cũng như tất cả Công ty khác Công ty cũng sử dụng hai loại sổ kế toán là
sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.Trong đó sổ kế toán tổng hợp bao
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét