Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong chuồng nền và chuồng sàn tại huyện Yên Định – tinh Thanh Hóa

2. Tổng quan tài liệu
2.1. Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy ở lợn là một bệnh phổ biến đã và đang gây thiệt hại
lớn cho ngành chăn nuôi. Hội chứng tiêu chảy gây chết với tỷ lệ thấp, nhưng
tác hại của nó là làm tổn thương hệ nhung mao ruột non, giảm hấp thu thức ăn,
làm cho lợn con còi cọc, tăng chỉ số tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng. Nguy
hiểm hơn nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy rất phức tạp đã gây ra sự nhầm
lẫn trong chẩn đoán và điều trị. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, tiêu chảy là
một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều các yếu tố,
có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát.
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến; tuỳ theo độ tuổi gia súc; tuỳ
theo yếu tố được coi là nguyên nhân chính mà hội chứng ỉa chảy được gọi
bằng các tên khác nhau như: Bệnh lợn con ỉa phân trắng, bệnh ỉa chảy ở gia
súc sau cai sữa; chứng khó tiêu; chứng rối loạn tiêu hoá…
Các nghiên cứu bệnh lý tiêu chảy ở gia súc cho thấy biểu hiện bệnh lý
chủ yếu là tình trạng mất nước và chất điện giải và cuối cùng con vật trúng
độc, kiệt sức và chết. Vì lẽ đó, trong điều trị tiêu chảy việc bổ sung nước và
các chất điện giải là yếu tố cần thiết.
Theo Nguyễn Lương (1963) [20], Trịnh Văn Thịnh (1985) [59], Lê
Minh Chí (1995) [1], lợn bị tiêu chảy thường mất nước, mất chất điện giải và
kiệt sức. Những lợn khỏi bệnh thường chịu hậu quả còi cọc, thiếu máu, chậm
lớn dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp và tỷ lệ chết cao. Đó cũng là nguyên nhân
làm cho hiệu quả chăn nuôi không cao.
5
Do điều kiện khí hậu thời tiết thay đổi phức tạp, bệnh tiêu chảy xảy ra
quanh năm ở nước ta, đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh, độ ẩm
không khí cao.
Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [51], Sử An Ninh (1993) [26], Lê
Văn Tạo và cộng sự (cs) (1993) [48], Phan Thanh Phượng và cs (1995) [40], ở
nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt là vào vụ đông xuân, khi
thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm.
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tuấn, Lê văn Tạo, Trần Thị Hạnh
(1998) [62] cho thấy bệnh tiêu chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi, sơ sinh, cai sữa và
cả lợn sinh sản, nhưng trầm trọng nhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa.
2.1.1. Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy
Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đã dày
công nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy kết quả
cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp. Tuy nhiên tiêu
chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều
các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân
thứ phát. Song cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả
của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối
cùng là nhiễm trùng. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hội chứng tiêu chảy ở
gia súc xảy ra do các nguyên nhân sau đây:
2.1.1.1. Do vi sinh vật
- Do vi khuẩn
Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả
đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác
động của vi khuẩn.
Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất
nhiều loài vi sinh vật sinh sống. Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới
6
dạng một hệ sinh thái. Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân
bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ. Hoạt động sinh lý của gia
súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái
cân bằng. Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu
hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong
hệ vi sinh vật đường ruột. Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái
cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy.
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng
khi gặp những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu
hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh.
Trịnh Văn Thịnh (1964) [58], Vũ Văn Ngữ (1979) [29],Trương Quang
(2005) [45] cho rằng do một tác nhân nào đó, trạng thái cần bằng của khu hệ
vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên
quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn. Loạn khuẩn đường ruột là nguyên
nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hoá, đặc biệt là gây ỉa chảy.
Bình thường vi khuẩn E.coli cư trú ở ruột già và phần cuối ruột non,
nhưng khi gặp điều kiện thận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào
thành ruột, đi vào máu đến các nội tạng.Trong máu, nhờ cấu trúc kháng nguyên
O và khả năng dung huyết, vi khuẩn chống lại các yếu tố phòng vệ không đặc
hiệu, khả năng thực bào. ở các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát
triển và sự cư trú của chúng làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] cho biết, khi sức đề kháng của cơ thể
giảm sút. E.coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh
sản rất nhanh và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, gây tiêu
chảy.
Khi tiến hành xét nghiệm 140 mẫu phân lợn khoẻ ở các lứa tuổi khác
nhau (từ sơ sinh đến lợn nái) Hồ Văn Nam và cs (1997) [24] đã cho biết
100% các mẫu phân lợn ở các lứa tuổi có E.coli, xét nghiệm 170 mẫu phân
7
lợn bị tiêu chảy ở các lứa tuổi tương tự, tỷ lệ này cũng là 100%, nhưng có sự
bội nhiễm vi khuẩn đường ruột một cách rõ rệt. Trong phân lợn không tiêu
chảy số lượng vi khuẩn 150,70 triệu/1 gram phân, nhưng khi bị tiêu chảy số
lượng này đã là 196,35 triệu, tăng hơn 45, 65 triệu.
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [54] ở bệnh phân trắng lợn con,
tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella
và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997) [17] tác nhân gây bệnh lợn
con phân trắng chủ yếu là E.coli và nhiều loại Salmonella
Radostits O.M. và cs (1994) [82] cho rằng E.coli gây bệnh cho lợn là
các chủng có kháng nguyên pili và sản sinh độc tố đường ruột đóng vai trò
quan trọng và phổ biến trong quá trình tiêu chảy ở lợn.
Hồ Văn Nam, Trương Quang và cs (1997)[23] khi xét nghiệm phân lợn
khoẻ và lợn bị tiêu chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường xuyên có các
loại vi khuẩn hiếu khí: E.coli, Salmonella Streptococcus, Klebsiella, Bacilus
subtilis. Khi lợn bị tiêu chảy E.coli, Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm.
Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [33], các tác nhân gây bệnh tiêu chảy
cho lợn ngoài Salmonella còn có nhiều loại vi khuẩn khác tham gia như
E.coli, Streptococcus, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, trong đó chủ yếu là
do E.coli độc, Salmonella và Streptococcus.
Trịnh Văn Thịnh (1985) [59] cho rằng tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con
là E.coli, nhiều loại Salmonella, đóng vai trò phụ là Proteus, trực trùng sinh
mủ, Streptococcus.
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3] cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi
khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong một gram phân tăng lên so với ở lợn
không bị tiêu chảy. Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò
quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như E.coli, Salmonella và Streptococcus
tăng lên, trong khi Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi.
8
Theo Nguyễn Thị Oanh (2003) [35] lợn nuôi ở Đắc Lắc nhiễm Salmonella
với tỷ lệ 17,2%; trong đó lợn ở lứa tuổi 2- 4 tháng nhiễm Salmonella cao nhất
(24,78%). Lợn khoẻ, tỷ lệ nhiễm Salmonella là 11,2%; trong khi đó ở lợn tiêu
chảy nhiễm 23,68%.
Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân (1996) [65] khi nghiên cứu E.coli và
Salmonella cho biết tỷ lệ nhiễm E.coli độc ở lợn bình thường là 14,66%, ở lợn
tiêu chảy tỷ lệ này là 33,84%.
Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999) [21] khi nghiên cứu về E.coli ở phân
lợn tiêu chảy, tỷ lệ phát hiện E.coli độc trong phân là 80- 90% số mẫu xét nghiệm.
Nguyễn Thị Nội (1985) [33] nghiên cứu định type kháng nguyên O của
5430 chủng E.coli phân lập ở lợn nuôI tại 8 tỉnh, thành phố trong cả nước cho
biết các serotype gây bệnh phổ biến ở lợn là O
141
, O
149
, O
117
, O
147
, O
138
, và O
139
.
Ngoài những chủng phổ biến trên, mỗi địa phương còn có những serotype
riêng biệt.
Lê Văn Tạo (1996) [50] qua phân lập từ bệnh phẩm của lợn dưới 30
ngày tuổi, đã kết luận các chủng E.coli thuộc serotype kháng nguyên O
thường gây bệnh phân trắng lợn con ở các cơ sở chăn nuôi phía Bắc là O
111
,
O
86
, O
26
tiếp đó là O
141
, và O
1
.
Theo Nagy B và cs (1991) [79] tiêu chảy ở lợn con trong thời kỳ bú mẹ
phần lớn gây ra do các chủng O
8,
O
129
,O
138
,O
141
, O
147
,O
149
và O
157
. Do vậy
những nhóm này thường được phân lập từ phân của lợn tiêu chảy.
E.coli có sẵn trong đường ruột của động vật, nhưng không phải lúc nào
cũng gây bệnh mà chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của con vật giảm sút do chăm
sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột, các bệnh kế phát.
Radostits O.M. (1994) [82] cho biết Salmonella là vi khuẩn có vai trò
quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy. Hiện nay các nhà khoa
học đã ghi nhận có khoảng 2.200 serotype Salmonella và được chia ra 67
nhóm huyết thanh dựa vào cấu trúc kháng nguyên O.
9
Theo Niconxki V.V. (1986) [27], Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [51] thì
sự xuất hiện bệnh do Salmonella phụ thuộc vào các điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng. Mỗi yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của vật nuôi đều phải coi là
nguyên nhân tiên phát của sự xuất hiện bệnh.
Phùng Quốc Chướng (1995) [2] kết luận Salmonella có vai trò quan
trọng gây nên hội chứng tiêu chảy ở lợn, đặc biệt là lợn sau cai sữa tại các
tỉnh Tây Nguyên.
Tô Thị Phượng (2006) [43] khi nghiên cứu biến động của Salmonella và
Ecoli ở lợn qua các lứa tuổi cho thấy, có 100 % các mẫu phân có vi khuẩn
E.coli dù lợn bị tiêu chảy hay không tiêu chảy. Lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
tỷ lệ nhiễm Salmonella là 41,165%, sau đó theo độ tuổi tỷ lệ nhiễm tăng dần từ
58,33% đến 60%. Khi lợn bị tiêu chảy, tỷ lệ Salmonella cũng tăng lên đáng kể,
tỷ lệ nhiễm là 81,25% ở lợn 1 – 21 ngày tuổi , 85,71% ở lợn 22 - 60 ngày tuổi
và 75% ở lợn > 60 ngày tuổi. Số lượng vi khuẩn Salmonella cũng tăng lên từ
13,91 triệu đến 41,48 triệu vi khuẩn/1gram phân ở lợn từ 1 đến >60 ngày tuổi.
Nguyễn Thị Ngữ (2005) [32] khi nghiên cứu về E.coli và Salmonella
trong phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu
chảy có 83,30% - 88,29% số mẫu có E.coli, 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt
Salmonella. Trong khi đó ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy thì có tới 93,7% -
96,4% số mẫu phân lập có E.coli, và 75,0%-78,6% số mẫu phân lập có
Salmonella.
Phan Thanh Phượng và cs (1996) [41] đã xác định vi khuẩn yếm khí
Clostridium perfringens là một trong những tác nhân quan trọng gây ra hội
chứng tiêu chảy ở lợn lứa tuổi 1 đến 120 ngày. ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc
bệnh có thể đến 100% và tỷ lệ chết là 60%. Số lượng vi khuẩn Clostridium
perfringens trong 1 gam phân lợn tiêu chảy ở lứa tuổi 1 đến 60 ngày dao động
từ 10
6
đến 10
10
CFU, số mẫu có lượng vi khuẩn cao (10
8
, 10
9
, 10
10
) chiếm tỷ lệ
37% đến 45%. ở lợn từ 60 đến 120 ngày tuổi bị tiêu chảy, những mẫu phân có
10
số lượng vi khuẩn /1gram phân ở mức 10
8
; 10
9
chiếm tỷ lệ 27,14% đến
35,71%.
- Do virus
Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng vius cũng là nguyên nhân gây
tiêu chảy ở lợn. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết luận một số virus như
Rota- virus, TGE, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định
gây hội chứng tiêu chảy ở lợn. Sự xuất hiện của vius đã làm tổn thương niêm
mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể
cấp tính.
Trước tiên là vius TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý
nhiều trong hội chứng tiêu chảy ở lợn. TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột
truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc
trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng. Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở
chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh. Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn con
2 đến 3 ngày tuổi hay mắc nhất và thường có tỷ lệ chết cao. ở lợn, virus nhân
lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng,
chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18]
vius TGE có sự liên hệ đặc biệt với các tế bào màng ruột non. Khi vius xâm
nhập vào tế bào nó nhân lên và phá hủy tế bào trong vòng 4 đến 5 tiếng. Sữa
và các thức ăn khác ăn vào không tiêu hóa được ở lợn nhiễm vius TGE. Các
chất dinh dưỡng không được tiêu hóa, nước không được hấp thu, con vật tiêu
chảy, mất dịch, mất chất điện giải và chết.
Rotavirus thường gây tiêu chảy cho lợn, bò và người. Lợn con từ 1 đến
6 tuần tuổi hay mắc với các biểu hiện lâm sàng như kém ăn hay bỏ ăn, tiêu
chảy nhiều lần trong ngày, gầy sút nhanh chóng do mất nước, nằm bẹp một
chỗ. Giai đoạn cuối, con bệnh biểu hiện thiếu máu, truỵ tim mạch và chết
11
trong vòng 2 đến 3 ngày. Lợn hậu bị thường mắc bệnh ở thể nhẹ, tỷ lệ chết ít
hơn nhưng để lại những biến chứng.
Lecce J.G. (1976) [78], Nilson O. (1984) [80] nghiên cứu về virus gây
bệnh đường tiêu hoá đã xác định được vai trò của Rotavirus trong hội chứng
tiêu chảy ở lợn.
Khoon Teng Hout (1995) [14] đã thống kê được 11 loại virus có tác
động làm tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy như Adenovirus
type IV, Enterovirus, Rotavirus.
Theo Bergenland H.U. (1992) [67] trong số những mầm bệnh thường
gặp ở lợn trước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus, 29%
phân lợn bệnh tiêu chảy phân lập được Rotavirus, 11,2% có virus TGE, 2%
có Enterovirus, 0,7% có Parvovirus.
2.1.1.2. Do ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên
nhân gây hội chứng tiêu chảy. Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc
chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật
chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa
và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng. Có rất nhiều loại ký sinh
trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như sán lá ruột lợn
(Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…
Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [15] sán lá ruột lợn và giun
đũa lợn ký sinh trong đường tiêu hoá, chúng làm tổn thương niêm mạc đường
tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18]
giun đũa ký sinh trong ruột non của lợn là loài Ascaris suum. Vòng đời giun
đũa lợn phát triển và gây bệnh không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp
nuốt phải trứng gây nhiễm và phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở
12
đường tiêu hóa. Số lượng giun có thể từ vài con tới hàng nghìn con trong một
cơ thể lợn.
Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999) [55] cho biết trong đường ruột của
lợn tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với lượng không nhỏ.Trong quá
trình ký sinh, trao đổi chất của giun sán còn thải ra các chất cặn bã gây hại cho
cơ thể lợn, làm lợn gày còm, chậm lớn, ảnh hưởng đến năng xuất chăn nuôi.
Theo Phan Địch Lân (1995) [16], lợn nhiễm giun đũa với biểu hiện lâm
sàng là tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố
để đầu độc và chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu,
chậm lớn, suy dinh dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản
phẩm thịt giảm đến 30%.
2.1.1.3. Nguyên nhân khác
- Do thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ
thể gia súc. Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá
lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác
động đến tình trạng sức khỏe của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ.
ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan
chưa ổn định , hệ thống tiêu hoá, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống
thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của
điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ
thể còn rất yếu.
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3], các yếu tố nóng, lạnh, mưa,
nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh
hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn
chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn yếu.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống
lạnh, ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi
13
về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản
ứng điều hòa nội mô. Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ
thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc
tính và gây bệnh.
Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1978)[37], Đào Trọng Đạt và cs
(1996)[6] thì trong những tháng mưa nhiều, độ ẩm cao lợn con bị bệnh phân
trắng tăng lên rõ rệt, có khi lên đến 90 – 100%
Theo các tác giả Niconxki V.V. (1986) [27], Sử An Ninh (1993) [26],
Hồ Văn Nam và cs (1997) [22] khi gia súc bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm
phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường
độc gây bệnh.
- Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn
nuôi. Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong
chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn. Khi thức ăn chăn nuôi
không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp,
là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh.
Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy.
Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm
nhất hiện nay. Hàm lượng Aflatoxin trong các mẫu thức ăn chăn nuôi ở các
tỉnh phía bắc biến động từ 10 đến 2800 µg/1kg thức ăn. Có đến 10% các loại
thức ăn hiện dùng là không an toàn cho gia súc, gia cầm (Trần Thế Thông, Lã
Văn Kính(1996)). Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng
loạt gia súc với biểu hiện nhiễm độc đường tiêu hóa và gây tiêu chảy dữ dội.
Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protit và axitamin không cân đối dẫn đến quá
trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt. Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm
lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lương óglobulin huyết
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét