Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đảng sản Bôsêvich Nga đã chủ trương thay bằng chính sách “Kinh tế
mới”-NEP
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.1.2-Nội dung thực hiện
Sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xây
dựng CNXH đã đư ợc V.I. Lênin đề cập ngay từ những ngày đầu của
chính quyền Xô viết. Theo Lênin, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có
sự xen kẽ của 'những yếu tố, những bộ phận nhỏ, những mảnh của chủ
nghĩa t ư bản và chủ nghĩa xã hội>>>(1) .Nền kinh tế trong thời kỳ quá
độ sẽ không thuần nhất và ở đó vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế
đan xen và tác động lẫn nhau, đó là những yếu tố của 5 thành phần kinh
tế xã hội khác nhau (kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất hàng hoá, chủ
nghĩa t ư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước và CNXH). Những tư
t ưởng của Lênin đã được triển khai vào công cuộc xây dựng đất n ước
Xô viết và đã đem lại thành công đáng kể trong thời kỳ thực hiện Chính
sách kinh tế mới (thay cho chính sách kinh tế thời chiến). Đây là thời kỳ
mà về sau này đã đ ược đánh giá rằng chính Lênin đã thực hiện một bư
ớc ngoặt cách mạng cực kỳ vĩ đại đối với nền kinh tế Xô viết, hình thành
lý luận về một mô hình kinh tế của thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
Theo đó nhà nước cho phép một số thị trường giới hạn được tồn
tại. Công việc kinh doanh tư nhân nhỏ được cho phép và các hạn chế về
hoạt động chính trị được nới lỏng một chút.
1) Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa
mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các
mối liên hệ kinh tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá,
giữa thành thị với nông thôn, và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa
công nhân với nông dân
2) Áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước,
coi đó là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội
3) Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện khuyến khích
lợi ích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới
4) Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong
những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa
5) Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết
hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện
chế độ kiểm kê kiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời
sống kinh tế - xã hội, trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố
liên minh công nông về chính trị
1.2.1.2-Thành tựu đạt được
Chính sách kinh tế mới đã tạo điều kiện phát triển lực lượng sản ở cả
thành thị và nông thôn .Đến cuối năm 1922, Liên xô đã vựt qua được
nạn đói và đến năm 1925, nông nghiệp đã vượt mức trước chiến
tranh.Tổng sản lượng lương thực tăng tữ 42.2 triệu tấn(1921)lên đến
74,6 triệu tấn (1925).
Ngân sách nhà nước đã được củng cố lại:năm 1925-1926 thu nhập nhà
nước tăng lên gấp 5 lần so năm 1922-1923
Trong giai đoạn NEP, sản lượng nông nghiệp không chỉ hồi phục ở mức
đã đạt được trước cách mạng Bolshevik mà còn tăng trưởng mạnh. Việc
phá bỏ các lãnh địa gần như phong kiến tại các vùng nông thôn ở
thời Sa Hoàn g trước đây cho phép nông dân có được sự khích lệ lớn
nhất từ trước tới nay để tăng cao sản xuất. Khi đã có thể bán thặng dư
của họ ra thị trường tự do, sự chi tiêu của nông dân tạo ra một sự bùng
nổ trong các lĩnh vực sản xuất tại các vùng đô thị. Kết quả của NEP và
sự xoá bỏ lãnh địa trong thời gian Đảng cộng sản củng cố quyền lực từ
1917-1921 là Liên bang sô viết trở thành nhà sản xuất lúa gạo lớn nhất
thế giới.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.1-Quá độ ở Trung Quốc với chính sách đổi mới của Đặng Tiểu
Bình(1978)
1.2.1.1-Nguyên nhân
Thực tiễn :kinh tế Trung Quốc sau 20(1958-1978) thực hiện các
đường lối tả khuynh đã rơi vào tình trạng trì trệ kém phát triển
Lí luận :Trung Quốc cho rằng công cuộc “chủ nghĩa xã hội hiện
thực “ở mỗi nước khác nhau ,đặc là với trung Quốc nền kinh tế còn ở
trình độ thấp.Và Trung Quốc cũng phê phán mô hình kinh tế kế hoạch
hóa tập trung dài gây trì trệ cho nền kinh tế
Vì vậy ,Trung quốc cho rằng đất nước đang ở giai đoạn đầu của thời kì
quá độ và đây là thời gian thích hợp để thực hiện chế độ cải cách và mở
cửa
1.2.1.2-Nội dung
Đặng Tiểu Bình là một trong những nhà chính trị kiệt xuất nhất của thế kỉ
XX ,ông đã chia tay với những người theo trường phái giáo điều của
chủ nghĩa Marx,sửa đổi chủ nghĩa kế hoạch quan liêu tuyệt đối nhờ đó
giải phóng tiềm lực của 1/5 dân số của thế giới.
Đặng Tiểu Bình là người đầu tiên đề xuất rằng Trung Quốc nên tiến
hành cải cách, thừa nhận chính sách mở cửa và tiếp thêm sinh lực cho
nền kinh tế. Từ năm 1978, ông đã thúc đẩy việc cải cách. Trong khi còn
khoảng 80% dân số Trung Quốc sống ở vùng nông thôn, ông chỉ ra
rằng: việc cải cách nên tiến hành ở nông thôn trước khi tiến hành ở các
thành phố. Công cuộc cải cách các khu đô thị thường phức tạp hơn ở
vùng nông thôn, ông khuyến khích nên khám phá các tiềm năng này một
cách táo bạo nhưng cũng bằng sự quan tâm và cẩn trọng.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo đề xuất của ông, 4 đặc khu kinh tế đã được hình thành và 14 thành
phố duyên hải mở cửa với thế giới. Trên cơ sở bình đẳng đôi bên cùng
có lợi, ông tuyên bố Trung Quốc nên mở rộng hợp tác kinh tế với các
nước bên ngoài, thu hút vốn và giới thiệu các kỹ thuật và kỹ năng quản
lý tiên tiến của họ để thúc đẩy việc phát triển kinh tế riêng của mình. Các
thành phần tư nhân nên được phát triển như là một phần phụ trợ cho
các thành phần xã hội vốn dĩ sẽ chiếm ưu thế trong nền kinh tế Trung
Quốc. Ông cũng cho rằng một số khu vực và một số người được phép
làm giàu, sau đó những người khác sẽ theo gương họ. Sự phát triển của
Trung Quốc trong hơn 20 năm qua đã chứng minh chính sách cải cách
và mở cửa của Đặng Tiểu Bình là hoàn toàn đúng đắn.
Những chính sách đổi mới có thể được kể đến như:
Thay đổi về cơ bản kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ đã
kìmhãm kinh tế phát triển
Xây dựng kinh tế thị trường
Giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội
Tìm ra con đường xây dưng CNXH mang màu sắc Trung Quốc
1.2.1.3-Thành tựu đạt được
Kinh tế tăng trưởng mạnh :từ 1979 đến 2005 tốc đọ tăng trưởng bình
quân hằng năm đạt 9,5%.Năm 2006 GDP Trung Quốc đạt 10,5%và đạt
25.000 tỷ NDt, và trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 trên thế giới sau Mĩ
Nhật Đức
Từ 1978-2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là
9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thế giới trong cùng thời kỳ. GDP của Trung Quốc năm 2007 đạt 3.280 tỷ
nhân dân tệ (481 tỷ USD), tương đương 23,7% GDP của Mỹ, 74,9%
GDP của Nhật Bản và 99,5% GDP của Đức. Năm 2007, thu nhập bình
quân đầu người ở Trung Quốc đạt 2.360 USD. Theo bảng xếp hạng của
Ngân hàng Thế giới (WB), Trung Quốc từ nước có mức thu nhập thấp
được đưa vào danh sách những nước có thu nhập thấp trung bình.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và phạm vi kinh doanh mở rộng đã
giúp Trung Quốc nhanh chóng giàu có. Số liệu của NBS cho thấy thu
nhập tài chính của Chính phủ Trung Quốc đã tăng gấp 45 lần trong vòng
30 năm qua. Giàu có khiến Trung Quốc cung cấp một cách có hiệu quả
nguồn tài chính để tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội cho
người dân, giảm thiểu một cách có hiệu quả mọi rủi ro và thiên tai.
Số liệu của NBS cho thấy, năm 1978, xí nghiệp quốc doanh chiếm
77,6% tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, đến năm
2007, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 29,5%. Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế
quốc doanh vẫn là yếu tố quan trọng trong kinh tế Trung Quốc. Đóng
góp to nhất của thành phần kinh tế phi tập thể đối với kinh tế Trung
Quốc là duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu. Trước khi cải cách mở
cửa, Trung Quốc phải gánh chịu sự thiếu hụt nghiêm trọng về hàng tiêu
dùng và dịch vụ. Người dân chỉ có thể mua được lương thực bằng tem
phiếu do chính phủ cấp. Sau năm 1978, khả năng cung cấp hàng tiêu
dùng của Trung Quốc tăng nhanh và có thể đáp ứng nhu cầu của người
dân.
Năm 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn,
tăng 64,6% so với sản lượng lương thực của năm 1978. Giá trị gia tăng
công nghiệp năm 2007 vượt mức 10.000 tỷ nhân dân tệ (1.470 tỷ USD),
tăng 23 lần so với năm 1978.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng sản phẩm nông
nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông. Các sản phẩm công nghiệp như thép,
than đá, xi măng và phân hóa học của Trung Quốc cũng đạt sản lượng
hàng đầu thế giới.
2-Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam
2.1-Nền kinh tế Việt Nam thời kì trước quá độ (1954)
Về tính chất nền kinh tế :dưới thời thực dân Pháp thông trị nền kinh tế
Việt Nam mất dần tính chất phong kiến thuần túy ,trở thành nền kin tế
thuộc địa nửa phong kiến ,kinh tế tự cung tự cấp bị thu hẹp sản xuất
hàng hóa phát triển nhưng quan hệ sản xuất phong kiến vẫn được duy
trì và và tồn tại một cách phổ biến
Về trình độ phát triển của nền kinh tế:xuất hiện một số nhân tố mới trong
nền kinh tế đó là những cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực giao thông vận tải ,
những xí nghiệp công nghiệp quy mô lớn sư dụng máy móc hiện đaị
.Tuy nhiên sự chuyển biến đó chỉ xuất hiện ở những nơi bị chiếm đóng
còn ở vùng nông thôn rộng lớn thì gần như nguyên vẹn nền kinh tế
phong kiến lạc hậu .Công nghiệp phát triển nhưng còn rât nhỏ bé.Tóm
lại là nước ta đã phải chịu một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu và phải
phụ thuộc vào đế quốc và luôn bị kìm hãm .
2.2-Nền kinh tế Việt Nam trong thời kì quá độ
Về tính chất nền kinh tế :từ một nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến
,chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế dân tộc dân chủ nhân dân .Thoát
khỏi sự phụ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc .Nước ta đã có nên tài chính
tiền tệ độc lập,Nhà nước nắm quyền kiểm soát ngoại thương.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,miền Bắc hoàn toàn giải
phóng còn miền Nam vẫ sống dưới ách thống trị của Mĩ-ngụy.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bước vào thời kì quá độ miền Bắc có đặc điểm:
Là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu ,chủ yếu dựa vào nền sản xuất
nhỏ ,cơ sở kinh tế của chủ ngĩa tư bản lại hết sức kém cỏi và non yếu.
Công nghiệp nhỏ bé mới phôi thai.Nông nghiệp và thủ công có tính chất
phân tán chiếm bộ phận lớn trong nền kin tế quốc dân.Hơn nữa miền
Bắc lại bị tàn phá nặng nề của 15 năm chiến tranh.
Và đây cũng là lúc mà chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống trên
thế giới.
3-Tư tưởng của Hồ Chí về thời kì quá độ ở Việt Nam và chủ trương
thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
3.1- Tư tưởng của Hồ Chí về thời kì quá độ ở Việt Nam
Trước hết là tư tưởng của Người về bản chất của chủ nghĩa xã hội
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã
hội (CNXH) bao gồm:
Một là, CNXH là một chế độ do nhân dân làm chủ, Nhà nước phải phát
huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động được tính tích cực và
sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng CNXH.
Hai là, CNXH có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết
là nhân dân lao động.
Ba là, CNXH là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức, trong đó
người với người là bè bạn, là đồng chí, là anh em, con người được giải
phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong
phú, được tạo điều kiện để phát triển hết mọi khả năng sẵn có của mình.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bốn là, CNXH là một xã hội công bằng và hợp lý, làm nhiều hưởng
nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, các dân tộc bình đẳng,
miền núi tiến kịp miền xuôi.
Năm là, CNXH là một công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự
xâydựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ xuất phát từ quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và từ tình hình thực tiễn của Việt Nam
Trước hết, Hồ Chí Minh đã lưu ý chúng ta cần nhận thức rõ tính
quy luật chung và đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước để nhận rõ đặc
trưng tính chất của thời kỳ quá độ của Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.Bỏ qua nhưng không có ngĩa là phủ
nhận tất cả những thành tựu đã đạt được của nó mà phải biết kết hợp
để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ
quá độ lên CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc điểm bao trùm to nhất là từ
một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không kinh qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này thâu tóm đầy đủ những
mâu thuẫn, khó khăn, phức tạp, chi phối toàn bộ tiến trình quá độ lên
CNXH ở nước ta, từ đó phải tìm ra con đường với những hình thức,
bước đi và cách làm phù hợp với đặc điểm Việt Nam.
Về nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ, Người nói "Chúng ta phải
xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, đưa miền Bắc tiến
dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và
khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng
ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng
là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài".
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mac-lenin ,học
hỏi kinh nghiệm của các nước -đặc biệt là Liên xô và Trung Quốc (một
nước là cái nôi của chủ nghĩa Mac-lenin, một nước là láng giềng và có
nền văn hóa khá tương đồng với nước ta) và thực tiễn tình hình kinh tế
Việt Nam trong thời kì này nên trong quan điểm về xây dựng CNXH ở
nước ta Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần trong suốt thời kì quá độ lên CNXH.
3.2.2-Nội dung
Người xác định rõ vị trí và xu thế vận động của từng thành phần
kinh tế .Một số thành phần kinh tế cũ :cá thể , tiểu chủ và kinh tế tư bản
không còn phù hợp .Những thành phần kinh tế mới :kinh tế nhà nước ,
kinh tế tập thể và tư bản nhà nước là động lực để hình thành nền kinh tế
nhiều thành phần.
Nhận thức rõ tính tất yếu của của nền kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ, để xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp thực hiện đường lối kháng chiến >>> toàn dân, toàn diện ,
trường kỳ và tự lực cánh sinh>>> bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, trước
hết là lương thực thực phẩm cho cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã xác
định nước ta phải phát triển 6 thành phần kinh tế khác nhau ,gồm:
kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô
kinh tế quốc doanh có tính chất xã hội chủ nghĩa
kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, các hội đổi
công nông thôn, có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa
kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ
kinh tế tư bản của tư nhân
kinh tế tư bản quốc gia (2)
Không những chỉ ra 6 thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh còn nói rõ
xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế đó. Mặc dù thành
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét