Chuyên đề thực tập
Nghiệp vụ này đã tạo ra lợi nhuận thặng d cho ngân hàng đồng thời tạo tiện ích
cho khách hàng để đôi bên cùng có lợi.
Nghiệp vụ tài sản nợ (Nguồn vốn):
Đây là nghiệp vụ tạo điều kiện và tiền đề cho hoạt động của NHTM. Các
NHTM thực hiện huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dới
mọi hình thức để thực hiện nhiệm vụ đầu t, cho vay đối với các thành phần kinh tế,
giúp họ đổi mới trang thiết bị sản xuất, nâng cấp nhà xởng phục vụ kinh doanh
Nghiệp vụ tài sản có (Sử dụng vốn):
- Nghiệp vụ dữ trữ tiền mặt:
Ngân hàng dự trữ tiền mặt nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân
hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thờng xuyên, liên tục của khách hàng
vào bất cứ lúc nào. Dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động,
cơ cấu và tính chất nguồn vốn của NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM không
sinh lời.
- Nghiệp vụ đầu t: Ngân hàng tham gia góp vốn liên doanh, liên kết, thành
lập công ty con
- Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho
các NHTM. Các NHTM sử dụng phần lớn số tiền huy động đợc để cho vay đối với
nền kinh tế. Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động cho vay là nguồn thu nhập chính để
bù đắp các loại chi phí trong hoạt động của Ngân hàng và thu lợi của NHTM.
Các dịch vụ Ngân hàng:
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, các NHTM đã tiến hành cung
ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng nh: dịch vụ thanh toán, đại lý, t vấn tài
chính, trên cơ sở đó Ngân hàng thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu cầu phát triển
của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động dịch vụ Ngân hàng ngày càng mở rộng về số l-
ợng và chất lợng. Các Ngân hàng đầu t trang thiết bị, cơ sở vật chất, áp dụng các
công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán không
dùng tiền mặt nh uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán séc, thanh toán bù trừ,
5
Chuyên đề thực tập
thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng máy tính, thực hiện thanh toán bằng thẻ tín
dụng
Thực hiện tốt khâu cung ứng dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho Ngân
hàng vì xu hớng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các
hoạt động dịch vụ, đồng thời vẫn duy trì các nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống,
thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động, các NHTM có thể vừa tăng thu nhập
vừa có thể cạnh tranh với các định chế tài chính phi Ngân hàng trong lĩnh vực
cung ứng các sản phẩm tài chính.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho Ngân hàng những khoản thu
nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế, đó chính là doanh lợi
hối đoái.
2. Nguồn vốn của NHTM.
Huy động vốn là một trong những hoạt động kinh doanh chính của ngân
hàng thơng mại. Vậy trớc khi tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động huy động vốn của
ngân hàng thơng mại ta phải hiểu nh thế nào về vốn.
Vốn phải đợc biểu hiện dới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn phải đợc
đại diện cho một lợng giá trị thực của tài sản nhất định. Mặt khác vốn không chỉ
biểu hiện thành tiền (tiền giấy, vàng, bạc, đá quý) và phản ánh giá trị những tài
sản hữu hình (máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa) mà còn đợc biểu hiện bằng giá
trị của những tài sản vô hình (uy tín, trình độ, phát minh, sáng chế, thông tin, công
nghệ) chính vì sự biểu hiện dới các hình thức phong phú và đa dạng đó mà vốn
cần phải đợc khai thác, sử dụng có hiệu quả mới đem lại lợi nhuận cao.
Nh vậy, có thể nói: Vốn là các tài sản trong xã hội đợc đa vào đầu t nhằm
mang lại hiệu quả trong tơng lai. Vì thế trong nền kinh tế thị trờng dù hoạt động
trong lĩnh vực nào thì vốn cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của
nó. Hoạt động ngân hàng cũng vậy, muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang
lại hiệu quả cao thì công tác huy động cần phải đợc quan tâm đúng mức.
6
Chuyên đề thực tập
Nớc ta cũng nh bất kỳ nớc nào khác trên thế giới, muốn thực hiện công
nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện
hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh tế có
thể ví nh máu trong cơ thể, thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển. Song vốn đợc
tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động đợc để đầu t cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động đợc không những giúp cho
ngân hàng tổ chức đợc mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
trong việc đầu t phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng nh sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên,
nguồn vốn của NHTM đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nh: vốn chủ sở
hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM, nó thực hiện một số chức năng không thể thay thế đó là: cung cấp nguồn
lực ban đầu cho ngân hàng có thể duy trì hoạt động khi ngân hàng mới thành lập,
là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, phòng ngừa rủi
ro kinh doanh cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm:
7
Chuyên đề thực tập
2.1.1. Nguồn vốn hình thành ban đầu.
Đây đợc coi nh vốn điều lệ của ngân hàng trong quy định về điều kiện thành
lập ngân hàng của pháp luật. Nguồn vồn này là lợng vốn tối thiểu mà ngân hàng
cần phải có để đáp ứng điều kiện thành lập cũng nh hoạt động kinh doanh. Các
loại hình ngân hàng khác nhau thì có nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác
nhau: Đối với ngân hàng quốc doanh thì nguồn vốn hình thành ban đầu là do ngân
sách nhà nớc cấp, nếu là ngân hàng liên doanh thì là do các bên liên doanh đóng
góp, nếu là ngân hàng cổ phần thì các cổ đông góp vốn thông qua việc mua cổ
phần hoặc cổ phiếu của ngân hàng; nếu là ngân hàng t nhân thì đó là vốn thuộc sở
hữu t nhân.
2.1.2. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng có thể gia tăng theo nhiều phơng thức khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của ngân hàng. Đó bao gồm:
Nguồn từ lợi nhuận: Khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì ngân hàng
có thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu t. Lợng vốn tích
lũy t thu nhập tùy theo chiến lợc kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới
cũng nh cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng.
Nguồn bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở
rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu
gia tăng vốn của chủ do Ngân hàng Nhà nớc quy địnhĐặc điểm của hình thức
huy động này là không thờng xuyên, song giúp cho ngân hàng có đợc lợng vốn
chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.
2.1.3. Các quỹ.
Ngân hàng có nhiều các quỹ khác nhau, mỗi quỹ đợc sử dụng vào những mục
đích nhất định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng. Các quỹ của
ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn hình thành các quỹ này là từ
thu nhập của ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:
8
Chuyên đề thực tập
- Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cờng số vốn tự có ban đầu.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quỹ này đợc trích lập
hàng năm và đợc tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
- Ngoài ra còn có các quỹ đặc biệt khác nh: quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ giám đốc,
Dự phòng rủi ro: Dự phòng rủi ro tín dụng đợc các NHTM trích lập từ thu
nhập trớc hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia) theo một tỷ lệ nhất định
nào đó. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết cho hoạt động Ngân hàng,
vì trong nền kinh tế thị trờng không thể tránh khỏi những rủi ro bất khả kháng có
thể xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để bù đắp.
2.1.4. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi
thành vốn cổ phần có thể đợc coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn
bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm nh sử dụng lâu dài, có thể đầu t vào
nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
2.2. Nguồn huy động.
Nguồn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng nhng
lại là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân
hàng,thờng thì tiền gửi vào và tiền rút ra không đồng thời hoặc chênh lệch nhau
một lợng nhất định. Ngân hàng sẽ sử dụng lợng vốn tạm thời nhàn rỗi này vào
mục đích cho vay kiếm lời. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi giao dịch:
Là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào nhằm mục đích giao dịch thanh toán,
chi trả các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh
trong kinh doanh một cách an toàn, thuận tiện. Đặc tính cơ bản của tiền gửi giao
dịch là có thể phát séc, lãi suất thấp và có tính không ổn định.
9
Chuyên đề thực tập
- Tiền gửi phi giao dịch:
Bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, chúng có tính ổn định cao,
ngời gửi đợc hởng lãi suất cao nhng không đợc phát hành séc.
Bên cạnh đó, NHTM còn có thể huy động vốn thông qua phát hành các giấy
tờ có giá nh: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Trong đó chứng chỉ tiền
gửi và kỳ phiếu là loại phiếu nợ ngắn hạn; trái phiếu là loại phiếu nợ trung, dài
hạn. Các loại phiếu nợ trên đợc Ngân hàng phát hành từng đợt với mục đích, số l-
ợng cụ thể và chỉ phát hành khi đợc sự cho phép của NHTW. Đặc điểm của các
loại giấy nợ này là chúng có lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi và tiền gửi tiết
kiệm, có tính ổn định cao, quyền đòi tiền xếp sau các loại tiền gửi khác.
2.3. Nguồn đi vay.
Là nguồn vốn mà ngân hàng phải vay mợn thêm trong trờng hợp khả năng
huy động của ngân hàng bị thiếu hụt khi nhu cầu thanh toán, chi trả cho khách
hàng tăng cao. Nguồn đi vay đợc hình thành dựa trên mối quan hệ vay mợn của
ngân hàng thơng mại với ngân hàng trung ơng, với các tổ chức tín dụng khác hoặc
giữa các ngân hàng thơng mại với nhau.
Ngân hàng thơng mại thờng vay ngân hàng trung ơng khi khả năng chi trả của
ngân hàng không đáp ứng đợc nhu cầu trong thời gian ngắn. Các NHTM vay vốn
của NHTW dới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu để bù đắp thiếu hụt trong
thanh toán, bổ sung vốn dự trữ Để đợc vay chiết khấu các NHTM phải nộp cho
NHTW các giấy tờ có giá có thời hạn còn lại là ngắn hạn xin chiết khấu nh thơng
phiếu, chứng khoán của Chính phủ chúng thờng là các loại giấy tờ mà chủ thể
phát hành ra chúng có uy tín cao. Lãi suất chiết khấu do NHTW quy định tùy
thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ của Nhà nớc trong từng thời kỳ. Ngân hàng
Nhà nớc điều hành việc vay mợn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thơng mại
phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định.
Để đảm bảo cho việc thanh khoản của mình, các ngân hàng thiếu hụt dự trữ
có nhu cầu vay mợn tức thời các ngân hàng thờng vay mợn của nhau và vay các tổ
10
Chuyên đề thực tập
chức tín dụng khác trên thị trờng liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có số d tiền
gửi vợt yêu cầu cha sử dụng sẽ sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm
lãi suất cao hơn. Quy trình vay mợn giữa các ngân hàng rất đơn giản, ngân hàng đi
vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại
lí (và có thẻ là ngân hàng nhà nớc). Khoản vay có thể có hoặc không cần đảm bảo,
dựa trên cơ sở uy tín của ngân hàng đi vay hoặc mối quan hệ giữa các ngân hàng
với nhau.
Ngoài các hình thức trên ngân hàng có thể vay mợn bằng cách phát hành
các công cụ nợ nh: Kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trờng vốn. Các khoản
vay này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng
nhu cầu cho vay và đầu t trung và dài hạn, là giải pháp tình thế cho ngân hàng
trong hoàn cảnh khó khăn.
3. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với ngân hàng thơng mại.
Các nguồn vốn huy động đợc sẽ quyết định quy mô cũng nh định hớng hoạt
động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn đợc coi là yếu tố đầu vào trong quá trình
kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động đợc coi là yếu tố đầu vào th-
ờng xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng, đầu t chủ yếu dựa vào nguồn này.
Nguồn vốn huy động có ảnh hởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của
NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động đợc nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp
nó có thể mở rộng đợc tín dụng đầu t và thu đợc lợi nhuận cao. Ngợc lại, với quy
mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh
doanh của mình. Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi
suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ
do ngân hàng phát hành.
Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp đợc thiếu hụt
trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn,
ngân hàng nắm bắt đợc năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với
ngân hàng. Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu t cho vay đối
11
Chuyên đề thực tập
với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế, lừa
đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có biện pháp ngăn
chặn và xử lý kịp thời.
Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM.
Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách
còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động đợc. Nếu một ngân hàng huy
động đợc vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu t dài hạn.
Nhng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn cha đáp ứng đợc nhu cầu đầu t
phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho
vay trung và dài hạn nhng không đợc vợt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn
đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy
động đợc lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn
càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy,
công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết
định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng.
II. Các hình thức huy động vốn.
Do NHTM huy động theo phơng thức đi vay để cho vay mà vốn tự có của
ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động. Do
vậy, để có thể tồn tại và phát triển, NHTM phải quan tâm tới các hình thức tạo vốn
để không ngừng mở rộng, phát triển vốn để cạnh tranh trên thị trờng. Quá trình tạo
vốn đợc thực hiện thông qua các hình thức sau:
1.1. Tạo vốn thông qua tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hoặc cá nhân: đây là khoản tiền mà
khách hàng gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong
phạm vi số d cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều đợc
ngân hàng thực hiện. Các khoản thu của ngân hàng, cá nhân đều có thể đợc nhập
vào thiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung đây là một khoản huy động có
12
Chuyên đề thực tập
lãi suất thấp, có khi bằng không, thay vào đó chủ tài khoản đợc hởng các dịch vụ
ngân hàng với mức phí thấp.
Mặc dù, đối với tiền gửi thanh toán, ngời gửi có thể gửi vào hoặc rút ra bất
cứ lúc nào, song giữa việc gửi vào và rút ra có sự chênh lệch nhất định về thời gian
và số lợng, nên các loại tài khoản này luôn có số d. Ngân hàng có thể huy động số
d đó làm nguồn vốn tín dụng để cho vay. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền
gửi thanh toán với tài khoản cho vay nh cho vay thấu chi chi trội trên số d có
của tài khoản tiền gửi thanh toán. Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức biến
tớng của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất của loại tiền gửi này lên nhằm
cạnh tranh với các tài chính tín dụng khác.
Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, để
khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng, các NHTM thực hiện trả
lãi cho loại tiết kiệm tiền gửi này (hiện nay khoảng 0,2%/tháng). ở các nớc phát triển
loại tiền gửi này chiếm khoảng 30% tiền gửi của các ngân hàng. Vì lẽ đó, tạo nguồn
tiền gửi trên tài khoản thanh toán này đợc ngân hàng đặc biệt coi trọng.
Bên cạnh đó các ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền
gửi thanh toán của các ngân hàng khác, nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một
số mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, quy mô
của nguồn này thờng không lớn.
1.2. Tạo vốn thông qua tiền gửi có kỳ hạn.
Nhiều khoản thu của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ đợc chi trả sau
một khoảng thời gian nhất định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện trọng hoạt
động thanh toán song lãi suất lại thấp, để đáp ứng nhu cầu tăng thu của ngời gửi
tiền ngân hàng đã đa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là loại
tiền gửi đợc ủy thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền
giữa khách hàng và ngân hàng. Nh vậy, theo nguyên tắc khách hàng ký thác chỉ đ-
ợc rút tiền ra khi đến hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên trên thực tế do phải cạnh tranh
để thu hút tiền gửi, các ngân hàng thờng cho phép khách hàng đợc rút trớc hạn.
13
Chuyên đề thực tập
Trong trờng hợp này có thể có hai cách giải quyết: hoặc khách hàng vay tiền của
ngân hàng, sau đó khi đến hạn rút tiền thì dùng số tiền và lãi thu đợc để trả nợ (cả
gốc và lãi vay của ngân hàng); hoặc là thỏa thuận với khách hàng rút tiền ra trớc
hạn và nhận lãi suất thấp hơn.
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì
mục đích của ngời gửi tiền là kiếm lợi chứ không phải là để thanh toán. Do đó,
khác với loại tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến loại
nguồn vốn này.
Để tăng cờng huy động nguồn vốn này, trớc hết các ngân hàng thờng đa ra
nhiều loại thời hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của các loại khách hàng khác
nhau. Thông thờng có các loại kỳ hạn sau: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12
tháng, 2 năm, 5 năm. Với mỗi loại thời hạn, ngân hàng áp dụng một mức lãi suất t-
ơng ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
1.3. Tạo vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm.
ở các nớc phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiết
kiệm đứng vị trí số hai về mặt số lợng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành của cá
nhân nhằm hởng lãi suất theo định kỳ, loại tiền gửi này thờng chiếm tỷ trọng khá
cao (Mỹ: 25%, Việt Nam: 60 70%). Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ)
Với loại tiết kiệm này ngời gửi có thể rút một phần hay toàn bộ theo yêu
cầu. Tuy nhiên, khác với tiền gửi thanh toán, ngời gửi không đợc sử dụng các công
cụ thanh toán để chi trả cho ngời khác.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ): loại tiền
gửi này có nội dung cơ bản giống nh tiền gửi có kỳ hạn mà chúng ta
nghiên cứu ở trên.
1.4. Tạo vốn thông qua huy động tiền gửi của ngân hàng khác.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét