Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

trinhngocthien

Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 5


“Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh là một công trình nghiên
cứu lịch sử về cương vực, địa lý, hành chính Việt Nam qua các đời từ thời Văn Lang –
Âu Lạc cho đến thời Nhà Nguyễn. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã
có phần nói về sự mở mang lãnh thổ vào Nam qua các đời Lý, Trần, Hồ, Lê. Đây là
một công trình nghiên cứu quan trọng, cung cấp những tư liệu quý về cương vực lãnh
thổ của nước ta qua các đời.

Cuốn “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang, là một công trình nghiên cứu
về vùng đất phía Nam của Đại Việt, về vương quốc Champa và quốc gia Chân Lạp, về
vùng đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Tác giả đã dành một phần nói về cuộc
Nam tiến của Đại Việt từ thời Nguyễn Hoàng, công cuộc khai phá vùng đất Đàng
Trong, về quá trình chiếm đất Champa, lấn đất Thủy Chân Lạp, mở đất Gia Định, về
nhân vật Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên. Đây là một công trình cung cấp nhiều tư liệu
quý, quan trọng về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của nước ta.

“Xứ Đàng Trong năm 1621” của Critstophoro Borri cuốn ghi chép về Đàng
Trong trong thời gian Critstophoro Borri lưu trú tại đây (năm 1621). 12 chương của
cuốn sách tập hợp những ghi chép của Critstophoro Borri về quốc hiệu, vị trí và diện
tích, về khí hậu và những đặc tính của Đàng Trong, về đất đai, phong tục tập quán, đời
sống sinh hoạt của nhân dân… Những ghi chép của ông cung cấp tư liệu về tình hình
chính trị, lực lượng quân sự của các chúa Nguyễn, về việc buôn bán thương mại và cai
quản hành chính ở một số vùng. Các chương ghi chép về Đàng Trong năm 1621 của
Critstophoro Borri là tư liệu lịch sử quan trọng cho ta một cái nhìn tổng quát về mọi
mặt của xứ Đàng Trong. Trong Lời bạt của cuốn sách “Xứ Đàng Trong năm 1621”
của Critstophoro Borri, Sơn Nam cho rằng cuốn sách “…là tư liệu quý và quan trọng
với những chi tiết cụ thể giúp ta hiểu thêm về bối cảnh vùng Quảng Nam – Quy Nhơn,
về kinh tế thị trường đã tự phát hơn 50 năm trước khi cảng Cù Lao Phố hình thành ở
Biên Hòa”

“Quảng Nam qua các thời đại” của nhà văn Phan Du và Ban Tu thư của Đà
Nẵng là công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Nam từ khi còn là lãnh thổ của Chiêm
Thành đến khi trở thành một phần lãnh thổ của Đại Việt. Đây là một công trình nghiên
cứu cung cấp những tư liệu quan trọng về lịch sử hình thành và phát triển của Quảng
Nam, nhất là trong giai đoạn lịch sử quan trọng khi vua Lê Thánh Tông lập ra đạo thừa
tuyên Quảng Nam (1471), những chuyển biến, phát triển của vùng Thuận Hóa qua thời
kỳ các chúa Nguyễn, những sự kiện, biến cố lịch sử đã xảy ra trên vùng đất này.

Cuốn “Lịch Sử Champa” của giáo sư Lương Ninh là một công trình nghiên cứu
về lịch sử của nước Champa (hay Chiêm Thành), một quốc gia láng giềng ở phía Nam
của Đại Việt. Trong công trình của mình, tác giả trình bày về lịch sử nước Champa từ
lúc hình thành qua các giai đoạn phát triển, khủng hoảng (Chương 7), những mối quan
hệ bang giao, những cuộc xung đột, tranh giành lãnh thổ với nước láng giềng Đại Việt
và cuối cùng được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, người Chăm trở thành một dân tộc
thành phần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

“Xứ Đàng Trong- Lịch sử kinh tế -xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”, Luận án
tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Australia của LiTana là một công trình nghiên cứu có giá
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 6

trị về vùng đất phía Nam của Đại Việt trong giai đoạn có nhiều biến động quan trọng.
Tác giả đi sâu vào nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội của Đàng Trong trong các thế
kỷ 17, 18. Đặc biệt trong chương I (Vùng Đất Mới), tác giả đã trình bày về địa thế,
cương vực, tư liệu về nước Champa sau năm 1471, cuộc Nam tiến của nhân dân Đại
Việt trước thời các chúa Nguyễn, về những người đi tiên phong mở cõi.

Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức là tập sách lịch sử-địa lý quý
giá tập hợp những ghi chép, nghiên cứu về cương vực, địa giới, quá trình khai hoang
phát triển của Trấn Gia Định từ buổi hoang sơ cho đến thời kỳ nhà Nguyễn. Những ghi
chép, nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức cung cấp cho chúng ta những tư liệu về việc
khẩn hoang lập ấp, những chính sách cai quản và khai phá về vùng đất Biên Hòa, Mỹ
Tho, Hà Tiên, các tỉnh miền Tây Nam Bộ ngày nay… dưới thời các chúa Nguyễn và
thời kỳ đầu của vương triều Nguyễn.

Những ghi chép, nghiên cứu của Lê Qúy Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cũng là
những tư liệu quý đối với việc nghiên cứu vấn đề. Trong quyển I, Lê Qúy Đôn đã trình
bày về lịch sử khẩn hoang, khai phá và khôi phục hai vùng đất Thuận Hóa và Quảng
Nam, cũng như về tổ chức bộ máy chính quyền, hệ thống thuế khóa, quan lại, binh
lính… ở hai vùng đất này dưới thời các chúa Nguyễn.

Tác phẩm “Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền
Nam nước Việt cuối thế kỷ 17 ”của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, là công trình nghiên
cứu về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Hữu Cảnh cũng như những công lao của ông
trong công cuộc khai mở vùng đất phía Nam của Đại Việt trong thế kỉ 17. Các chương
3,4,5 là những chương quan trọng nói về Nguyễn Hữu Cảnh trong công cuộc “mở
mang miền Nam, bình định và an dân đất Champa” (chương 3), “kinh lược xứ Đồng
Nai”(chương 4) và “bình định vùng đất của Chân Lạp” (chương 5). Đây là công trình
nghiên cứu cung cấp những tư liệu quan trọng về một trong những nhân vật có công
lớn trong việc mở rộng lãnh thổ, khai phá vùng đất mới của Đại Việt.

Cuốn “Mạc Thị Gia Phả ” của Vũ Thế Dinh do Nguyễn Khắc Thuần dịch, cung
cấp tư liệu trong việc nghiên cứu vùng đất Hà Tiên và dòng họ Mạc, những người tiên
phong trong việc mở mang vùng đất cực Nam của tổ quốc. Đọc Mạc Thị Gia Phả,
chúng ta biết được những chính sách của họ Mạc trong việc quy tụ dân lưu tán mở đất
Hà Tiên như thế nào, chính sách cai trị và mở mang vùng đất mới; về niên đại của sự
kiện Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, và thấy rõ được công lao của Mạc
Cửu và dòng họ Mạc đối với vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp mở mang bờ cõi của các
chúa Nguyễn.

Bên cạnh đó còn phải kể tới các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về quá
trình mở rộng lãnh thổ của Đại Việt, nghiên cứu về vùng đất duyên hải Miền Trung và
vùng đất Nam Bộ được xuất bản trong hai tác phẩm: Duyên hải miền trung Đất và
Người (Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh và Tạp chí Xưa và Nay) và tác phẩm Nam Bộ
Đất và Người (Tập 1,2,3,4,5) (Hội khoa học Lịch sử Tp Hồ Chí Minh).
Ngoài ra còn nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan đến quá trình
mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt như “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ
các thế kỷ XVII, XVIII, XIX” và “Lịch sử khai khẩn vùng đất Nam Bộ” của Huỳnh Lứa;
“Lịch sử khẩn hoang miền Nam” và “Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 7

Giang”… của nhà văn Sơn Nam; “Vùng đất cổ miền Đông Nam bộ” của Vương Liêm,
Lược sử vùng đất Nam bộ của Vũ Minh Giang,…Nhiều tác phẩm, công trình biên
khảo, công trình nghiên cứu có giá trị đã cung cấp những tư liệu quan trọng và những
kiến giải khoa học cho việc tìm hiểu về quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của
Đại Việt.

3. Phạm vi nghiên cứu
Đây là một giai đoạn quan trọng của lịch sử nước ta, giai đoạn tiếp tục phát
triển của xã hội phong kiến Đại Việt. Nước ta bấy giờ là một quốc gia lớn mạnh trong
khu vực. Vấn đề được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ thế kỉ XI đến thế kỉ
XVIII, trải qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, và đặc biệt là giai đoạn đất nước bị
chia cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài. Nội dung nghiên cứu tập trung vào những
hoạt động và vai trò của nhà nước Đại Việt trong hai lĩnh vực là quân sự và ngoại giao,
gắn liền với việc mở rộng lãnh thổ của nước ta.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp logic, so sánh, đối chiếu các sự kiện, nội dung lịch sử, thực hiện sưu tầm,
phân loại tư liệu theo nội dung, lập phiếu nghiên cứu tư liệu, đối chiếu tư liệu với nhau
để rút ra những kết luận. Cuối cùng tiến hành ghép các phiếu nghiên cứu, chỉnh sửa
nội dung, toàn văn khóa luận.

5. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Chính quyền Đại Việt trong các thế kỷ XI-XVIII
1. Các chính sách chính trị - quân sự - ngoại giao
1.1. Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV)
1.2. Thời Lê sơ (thế kỷ XV)
1.3. Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI-XVIII)
2. Các chính sách kinh tế - văn hóa – xã hội
2.1. Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV)
2.2. Thời Lê sơ (thế kỷ XV)
2.3. Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI-XVIII)
Chương 2. Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XV
1. Vùng đất phía nam của Đại Việt
1.1. Chiêm Thành
1.2. Thủy Chân Lạp
2. Hoạt động quân sự - ngoại giao của Đại Việt
2.1. Thời Lý – Trần – Hồ (thế kỷ XI-XIV)
2.2. Thời Lê sơ (thế kỷ XV)
3. Công cuộc di dân, khai khẩn đất đai và vai trò của nhà nước
Chương 3. Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XVI-XVIII
1. Nguyễn Hàng và con đường về phương Nam
2. Hoạt động quân sự, ngoại giao của chính quyền Đàng Trong
3. Việc di dân, khai khẩn đất đai và vai trò của nhà nước
3.1. Chúa Nguyễn và vùng đất Thuận Quảng
3.2. Hôn nhân giữa vua Chân Lạp, vua Chăm Pa và công nương Đại Việt
3.3. Lương Văn Chánh và vùng đất Phú Yên
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 8

3.4. Chúa Nguyễn và trấn Thuận Thành
3.5. Nguyễn Hữu Cảnh và vùng đất Đồng Nai – Gia Định
3.6. Di dân người Hoa trên đất Nam Bộ
3.6.1. Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên
3.6.2. Trần Thượng Xuyên và vùng đất Cù Lao Phố
3.6.3. Dương Ngạn Địch và vùng đất Mỹ Tho
3.7. Quá trình đấu tranh giữ gìn và bảo vệ vùng đất mới


Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 9


Chƣơng I

CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THẾ KỶ XI-XVIII


1. Các chính sách chính trị - quân sự - ngoại giao
1.1. Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV)

Về chính trị
Thế kỷ X đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc ta. Năm 938, Ngô Quyền
đánh thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt gần một ngàn năm bị phong
kiến phương Bắc đô hộ, khôi phục nền tự chủ, độc lập. Dân tộc ta bước sang một thời
kỳ mới, thời kỳ xây dựng, phát triển và bảo vệ quốc gia quân chủ độc lập thống nhất.
Trong các thế kỷ X-XV, nước Đại Việt phát triển và hưng thịnh, trở thành một nước
hùng mạnh trong khu vực.

Bộ máy hành chính từ trung ương tới địa phương ngày càng được hoàn thiện và
củng cố. Bộ máy nhà nước trung ương tập quyền ngày càng được hoàn thiện qua các
triều đại phong kiến Lý, Trần, Hồ và đạt tới mức hoàn chỉnh dưới thời Lê sơ. Trong
giai đoạn từ thời Lý (1009-1225) đến thời Hồ (1400-1407), trong bộ máy nhà nước,
vai trò của tầng lớp quý tộc ngày càng quan trọng. Thời Lý, vua là người nắm mọi
quyền hành, đứng sau các đại thần là đội ngũ quan lại gồm hai ban văn và võ. Ban Văn
có thượng Thư, Tả Hữu Tham Tri, Phủ Sĩ Sư…Ban Võ có Đô Thống, Nguyên Soái,
Tổng Quản… cả nước được chia là 24 lộ, dưới lộ là các phủ, châu, huyện, xã. Tại các
lộ, phủ, huyện xã đều có đặt các chức quan cai quản. Các vùng miền núi đều nhận
được sự quan tâm và chú trọng của triều đình vì đây là nơi có vị trí chiến lược trong
việc duy trì, ổn định biên cương của đất nước. Tại những nơi này, các chức quan cai
quản được giao cho các tù trưởng địa phương nắm giữ, theo chế độ cha truyền con nối.

Dưới triều Trần (1225-1400), hệ thống hành chính của nước ta đã tương đối
hoàn chỉnh, tình hình trong nước ổn định, nhân dân có cuộc sống đầy đủ, ấm no. Khối
đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc. Thời kỳ này, nhà Trần đã cho hợp các lộ
nhỏ lại, chia cả nước thành 12 lộ. Bộ máy nhà nước được tổ chức giống Nhà Lý nhưng
quy củ và chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn với cơ cấu các cơ quan chức năng như Bộ,
Các, Sảnh, Cục…, trong đó quý tộc họ Trần nắm những chức vụ quan trọng nhất. Năm
1225, vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, triều đại nhà Lý
(1009-1225) đến đây chấm dứt, một triều đại mới được thành lập - triều đại Nhà Trần
(1225 – 1400). Nhà Trần vừa được thành lập đã gặp phải rất nhiều khó khăn, nhất là
tình hình loạn lạc thời cuối Lý. Với tài năng của Trần Thủ Độ cùng các tướng lĩnh, vua
quan nhà Trần đã dần dẹp yên được các cuộc nổi loạn. Đất nước bước vào giai đoạn
thái bình, phát triển thịnh vượng.

Sức mạnh của quốc gia và khối đoàn kết toàn dân đã làm nên những chiến
thắng oanh liệt trước quân xâm lược Mông Nguyên, củng cố được chính quyền vững
mạnh. Nhưng vào cuối triều Trần, thời các vua từ Trần Dụ Tông trở đi, đời sống nhân
dân không được chăm lo cải thiện, nạn đói do thiên tai mất mùa thường xuyên xảy ra.
Các cuộc nổi dậy đấu tranh của nông dân nổ ra nhiều nơi trong cả nước. Tiêu biểu là
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 10

các cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ ở vùng Hải Dương (1344-1360), cuộc nổi dậy do Tề
phát động ở vùng Lạng Sơn năm 1354, cuộc nổi dậy do Ngô Bồ chỉ huy ở vùng Bắc
Giang năm 1378, cuộc nổi dậy của Hồ Vệ ở vùng Nghệ An năm 1381.v.v…

Cuối thế kỉ XIV, triều đại nhà Trần bắt đầu suy yếu, các vị vua lúc này không
còn được anh minh như thuở đầu, đời sống nhân dân khổ cực vì quan lại tham nhũng,
lộng hành. Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly sau một quá trình chuẩn bị lực lượng, nhờ
vào quan hệ ngoại thích với vua Trần, đã giành ngôi vua, tự lập hoàng đế. Triều Hồ
được dựng lên. Hồ Quý Ly đổi gọi nước ta là Đại Ngu. Tồn tại chưa đầy 7 năm, cuộc
kháng chiến của nhà Hồ chống quân xâm lược bị thất bại, nước ta lại rơi vào ách đô hộ
của chế độ phong kiến nhà Minh.

Trong thời Lý-Trần-Hồ, các bộ luật được biên soạn và ban hành, thể hiện vai
trò cai trị, quản lý của nhà nước phong kiến Đại Việt. Bộ luật Hình Thư thời nhà Lý,
bộ Quốc triều thông chế và Hình luật thời nhà Trần, bộ Đại Ngu hình luật và Đại Ngu
quan chế thời Hồ ra đời phản ánh sự phát triển của các triều đại phong kiến ở nước ta
bấy giờ. Luật pháp là cơ sở, công cụ để các triều đại duy trì và bảo vệ quyền lực của
mình. Sự ổn định của đất nước là điều kiện quan trọng để phát triển nền kinh tế, xã hội
của đất nước. Cuộc sống của nhân dân ngày càng được no đủ, đất nước ngày một hưng
thịnh, lớn mạnh.

Đây là giai đoạn các triều đại Lý, Trần, Hồ rất quan tâm và chú trọng đến việc
bình ổn các vùng đất sinh sống của người dân tộc thiểu số, nhất là ở những vùng biên
cương phía Bắc, nhằm ổn định tình hình đất nước, bảo vệ biên giới lãnh thổ. Tại
những vùng xa xôi này, bộ máy chính quyền của nhà nước vẫn chưa ảnh hưởng sâu
đậm và chưa chi phối được bộ máy hành chính địa phương. Chính quyền ở các châu,
huyện miền núi thực tế vẫn nằm trong tay tầng lớp thống trị người địa phương. Các
triều vua phong kiến Đại Việt đã dùng những chính sách đôi lúc “mềm dẻo” qua các
cuộc hôn nhân, nhượng bộ quyền lợi tại địa phương cho họ. Tiêu biểu như việc “Lý
Công Uẩn gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu là Giáp Thừa Quý. Thừa
Quý đã đổi ra họ Thân và được làm châu mục Lạng Châu. Con Thừa Quý là Thân
Thiệu Thái nối cha tiếp tục làm châu mục Lạng Châu và năm 1029 lấy công chúa Bình
Dương, con Lý Thái Tông”
1
. Nhưng cũng cương quyết trong việc ràng buộc tầng lớp
thống trị miền núi và lúc cần thiết cũng phải dùng biện pháp trấn áp bằng lực lượng
quân sự để bảo vệ sự thống nhất, bình yên cho đất nước. Trong mỗi triều đại, đã xảy ra
nhiều cuộc nổi dậy đấu tranh của các tù trưởng dân tộc ít người. Tiêu biểu là cuộc nổi
dậy của Nùng Trí Cao, Nùng Tồn Phúc thời Lý. Nhờ đó mà vùng đất biên cương của
đất nước được duy trì ổn định, góp công lớn vào các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm
của dân tộc ta.

Về quân sự
Quân sự là một lĩnh vực quan trọng đối với mỗi triều đại phong kiến, là công cụ
để duy trì ổn định trong nước, bảo vệ đất nước khi giặc ngoại xâm. Các triều đại phong
kiến ở nước ta trong giai đoạn này chú trọng quan tâm và xây dựng cho mình một lực

1
Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1). Nhà xuất
bản Giáo dục, 2005, tr 132

Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 11

lượng quân đội mạnh, để có thể bảo vệ biên cương, lãnh thổ của đất nước. Quân đội
còn là công cụ để nhà nước duy trì và bảo vệ quyền lợi của mình, đàn áp lại những
cuộc nổi loạn trong dân chúng. Trải qua các triều đại, lực lượng quân đội của các triều
đại ngày càng được tổ chức có quy mô, hoàn chỉnh trong công tác huấn luyện và trang
bị vũ khí. Cùng với việc chăm lo phát triển kinh tế đất nước, các triều đại Lý – Trần –
Hồ cũng rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển lực lượng quân đội, nhằm mục
đích để duy trì hòa bình, an ninh trong đất nước và chống lại những cuộc chiến tranh
xâm lược từ bên ngoài. Đó cũng là công cụ để trấn áp những cuộc nổi dậy trong nhân
dân. Các hoàng đế đã biết kế thừa từ kinh nghiệm xây dựng lực lượng quân sự trong
các triều đại trước, đồng thời cũng nghiên cứu và học tập binh chế của Trung Quốc,
nhằm xây dựng cho mình một lực lượng quân sự hùng mạnh.

Thời Lý, quân đội được chia làm 4 bộ phận, bao gồm: Thiên tử quân, quân các
Lộ, quân vương hầu và dân binh. Để xây dựng quân đội nhà Lý thực hiện chế độ nhân
đinh trong khắp cả nước, thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông”. Quân đội gồm đủ
cả bốn binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh và kị binh, trong đó bộ binh và thủy
binh có số lượng đông nhất.

Thời Nhà Trần, quân đội gồm hai bộ phận: cấm quân và quân các lộ. Cấm quân
là lực lượng vũ trang thường trực, có nhiệm vụ bảo vệ hoàng đế, bảo vệ kinh thành và
triều đình trung ương. Quân các lộ là lực lượng vũ trang ở địa phương, có nhiệm vụ
bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội ở các địa phương. Ngoài cấm quân và quân các lộ
là lực lượng vũ trang của nhà nước, dưới thời Lý, Trần còn có lực lượng vũ trang tư
nhân, do các bậc Vương tước và Hầu tước tuyển chọn, huấn luyện và chỉ huy. Ở các
làng xã, nhân dân còn có lực lượng bán vũ trang do họ tổ chức, đó là các đội dân binh.

Bên cạnh đó là lực lượng quân đội của các tù trưởng dân tộc miền núi. Đây là
một bộ phận quan trọng có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên cương, và góp sức vào các cuộc
kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta. Các triều đại luôn cố gắng duy trì mối
quan hệ tốt đẹp với các vị tù trưởng miền núi, coi đó là một trong những chính sách
quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ quyền lực của mình và hòa bình của đất nước.

Quân đội được trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ, được tập luyện
có bài bản, theo quy chế, với chủ trương “quân lính cốt tinh nhuệ, không cần nhiều”.
Thời Trần quân đội Đại Việt được huấn luyện theo binh pháp của Đại Việt, sự ra đời
của Bộ Binh thư yếu lược do Trần Hưng Đạo biên soạn đã đánh dấu sự phát triển của
khoa học quân sự nước ta thời bấy giờ.

Đến thời nhà Hồ, quân đội còn được trang bị cả súng thần cơ, một loại vũ khí
lợi hại nhất lúc bấy giờ. Đặc biệt, quân đội nhà Hồ còn đóng được những thuyền chiến
lớn có lầu. Cũng như các triều đại Lý-Trần, nhà Hồ còn thực hiện chủ trương xây dựng
quân đội cốt tinh nhuệ, không cần đông.

Sức mạnh của lực lượng quân đội dưới thời Lý-Trần đã được thể hiện và khẳng
định trong các cuộc kháng chiến trong quân xâm lược của ngoại bang. Điển hình là
cuộc kháng chiến chống quân Tống dưới thời Lý, đặc biệt là ba lần đánh thắng quân
Nguyên – Mông dưới thời Nhà Trần. Đó là những chiến thắng vẻ vang, thể hiện sức
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 12

mạnh của quân đội nước nhà, đã góp công lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ
quyền đất nước.

Nghệ thuật quân sự của nước nhà còn được thể hiện ở tài thao lược của các
tướng lĩnh. Điển hình là trong cuộc kháng chiến chống Tống và chống Nguyên Mông.
Dưới thời Lý, trước âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã thực
hiện kế hoạch “tiên phát chế nhân”, “ngồi im đợi giặc không bằng trước hãy đem quân
ra chặn thế mạnh của giặc”. Kế sách đó của Lý Thường Kiệt đã làm tiêu giảm sức
mạnh quân sự của giặc trước khi chúng kịp đưa quân sang xâm chiếm nước ta, thắng
lợi của Lý Thường Kiệt đã giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của nhà Tống.
Còn dưới thời Trần, trước sức mạnh kinh hồn của quân Nguyên - Mông, vua quan nhà
Trần đã thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, dựa vào dân để chiến đấu, thực
hiện lối “đánh du kích” nhằm tiêu hao dần lực lượng của chúng…Nổi bật là tài thao
lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, với sách lược dùng đoản binh áp chế
trường trận. Những kế sách đó đã bước đầu làm giảm nhuệ khí, sức mạnh của giặc và
một khi giặc trở nên bị động suy yếu, quân dân nhà Trần bắt đầu tổ chức những cuộc
tấn công trở lại tiêu diệt kẻ thù. Chính những kế sách đó đã giúp quân dân, vua quan
Nhà Trần ba lần đánh bại quân Mông Nguyên hùng mạnh, bảo vệ vững bền nền độc
lập của dân tộc.

Lực lượng quân đội, và sức mạnh của quân sự Đại Việt thời Lý, Trần, Hồ còn
được thể hiện trong các cuộc chiến đấu, bảo vệ vùng biên cương của đất nước. Nhất là
vùng biên giới phía Nam giữa Đại Việt và Champa. Hai bên đã nhiều lần xảy ra xung
đột quân sự. Quân đội của Chiêm Thành thường xuyên có những cuộc tấn công vào
các vùng giáp biên giới để cướp bóc, quấy nhiễu nhân dân sinh sống ở vùng biên giới
hai nước. Quân Đại Việt đã nhiều lần tấn công, đánh bại quân Chiêm Thành, điển hình
là các năm 1069 (thời Lý), 1312, 1318, 1326, 1353, 1367, 1377, 1383 và 1396 (dưới
thời Trần), các năm 1400, 1402, 1404 (thời nhà Hồ). Đặc biệt dưới thời Trần khi nhà
Trần đã suy yếu không còn chăm lo đến xây dựng, phát triển đất nước, quân Champa
đã nhiều lần mang quân tấn công vào lãnh thổ Đại Việt dọc các vùng biên giới, trong
đó có những lần tấn công tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt, tiến đánh tới cả kinh thành
Thăng Long (trong các năm 1361, 1366, 1371, 1377, 1378, 1380, 1382, 1389). Bên
cạnh đó là các cuộc xung đột với Ai Lao ở biên giới phía Tây, Tây-Nam. Nhà Trần đã
năm lần đem quân đánh vào Ai Lao (1290,1291,1294, 1334 và 1335), đánh dẹp các
cuộc chống đối của người Ai Lao. Những cuộc dùng binh của chính quyền phong kiến
Đại Việt đều nhằm mục đích bảo vệ sự bình yên của đất nước, nhất là ở những vùng
biên cương giáp với các nước láng giềng.

Về ngoại giao
Quan hệ ngoại giao là một trong những vấn đề lớn được các triều đại phong
kiến Đại Việt luôn chú trọng quan tâm. Nhất là trước những âm mưu muốn xâm lược
thôn tính nước ta của phong kiến phương Bắc. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Hồ,
những người đứng đầu mỗi triều đại đều cố gắng giữ mối quan hệ hòa hiếu với Trung
Quốc ở phương Bắc. Chấp nhận chịu cống nạp, nhận phong vương, nhưng vẫn giữ
vững quan điểm là một nước có nền tự chủ, độc lập.

Đối với các nước láng giềng ở phía Tây và phía Nam như Ai Lao, Chân Lạp,
Chiêm Thành các triều đại duy trì mối quan hệ hòa hiếu, bắt thần phục, nhưng cũng
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 13

kiên quyết trước những hành động quấy phá biên giới, xâm chiếm lãnh thổ của nước
ta. Trong những lần xảy ra các cuộc xung đột tại các vùng giới, các triều đại đều cử
quân, tướng đi dẹp yên biên cương, bảo vệ bình an cho đất nước. Và có những lần đã
mang quân tấn công vào tận lãnh thổ của các nước láng giềng, chẳng hạn như sự kiện
năm 1069, quân Đại Việt vượt biên giới tấn công vào lãnh thổ của Chiêm Thành. Chỉ
trong vòng một thời gian ngắn quân Đại Việt đã tấn công vào tận kinh đô của Chiêm
Thành. Bị thất bại vua Chiêm phải cắt đất ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính cho
Đại Việt.

Đến thời nhà Trần, với Ai Lao và Champa, nhà Trần chủ trương bắt thần phục.
Từ năm 1290, các vua nhà Trần đã nhiều lần đem quân đánh Ai Lao. Năm 1297, quân
Ai Lao đánh phá biên giới và chiếm đất Chàng Long, vua Trần đã cử Phạm Ngũ Lão
đem quân đi đánh và giành lại được đất. Năm 1301, quân Ai Lao lại sang đánh phá
vùng sông Đà, nhưng bị quân của Phạm Ngũ Lão đánh lui. Năm 1334, vua Trần Minh
Tông nhân chuyến đi tuần thú ở Nghệ An đã đem quân đi đánh Ai Lao nhưng không
đạt được kết quả như ý muốn. Năm 1335, vua Trần Minh Tông đã cùng Đoàn Nhữ Hài
đem quân sang đánh Ai Lao một lần nữa. Một cuộc chiến lớn giữa hai bên đã diễn ra
tại Nam Nhung. Quân Trần bị thua to, Đoàn Nhữ Hài bị tử trận, vua Trần phải rút quân
về. Quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Lợi dụng sự suy yếu của Nhà Trần,
quân Ai Lao vẫn thường xuyên mang quân quấy phá vùng biên giới, nhiều lần đem
quân tấn công vào sâu trong lãnh thổ của Đại Việt.

Đối với nước Champa ở phía Nam, trong thế kỉ XIII quan hệ giữa hai nước
tương đối hòa hảo. Các vua Chăm chịu thần phục và cống nạp đều đặn. Năm 1252, vì
lý do quân Champa hay sang cướp phá vùng biển phía Nam, vua Trần Thái Tông đã cử
Khâm thiên vương Nhật Hiệu ở lại coi giữ kinh thành, rồi thân chinh đem quân vào
đánh Champa, bắt được vua Champa là Bốgiala và nhiều dân chúng đem về Đại Việt.
Trong thế kỷ XIV, quan hệ giữa Đại Việt và Champa đã được thắt chặt hơn khi vua
Trần Nhân Tông gã công chúa Huyền Trân cho vua của Champa là Chế Mân. Vua Chế
Mân đã đem đất châu Ô và châu Lý dâng vua Trần để làm sính lễ. Sau cuộc hôn nhân
này, quan hệ giữa Đại Việt và Champa trở nên tốt đẹp. Nhưng không lâu sau đó, vua
Chế Mân chết, và theo tục lệ của Champa thì Huyền Trân phải bị đốt theo chồng. Vua
Trần vì thương con đã bày kế đưa công chúa Huyền Trân về nước. Người nối nghiệp
của Chế Mân là Chế Chí nhân đó đã quyết đòi lại hai vùng đất Ô, Lý. Quan hệ giữa
Đại Việt và Champa lại trở nên căng thẳng.

Về sau, lợi dụng lúc nhà Trần suy yếu, quân Champa đã nhiều lần tấn công vào
lãnh thổ của Đại Việt, thường xuyên quấy phá biên giới, cướp bóc nhân dân sinh sống
ở vùng biên cương giáp với Champa. Năm 1361, quân Champa vượt biển đánh vào
cửa Di Lý ải Lâm Bình (Lý Hòa, Bố Trạch). Năm 1371, lần đầu tiên quân Champa đi
đường biển vào của biển Đại An, rồi tiến thẳng vào kinh đô Thăng Long, cướp phá,
thiêu hủy cung điện, cướp dân bắt đi. Quân Chiêm Thành dưới thời vua Chế Bồng Nga
đã nhiều lần nữa tấn công vào tận kinh thành Thăng Long, chúng cướp bóc, đốt phá
kinh thành, vua quan nhà Trần nhiều lần phải chạy đi lánh nạn.

Qua đó có thể thấy được mối quan hệ Đại Việt – Champa tùy thuộc khá nhiều
vào sự hưng thịnh phát triển lớn mạnh của quốc gia Đại Việt. Khi Đại Việt lớn mạnh,
chế ngự được các cuộc quấy phá biên cương của quân Champa ở biên giới hai nước thì
Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII
Khóa luận tốt nghiệp Trang 14

nước Champa chịu thần phục, cống nạp. Nhưng khi Đại Việt suy yếu, Champa đã tận
dụng cơ hội này để trả thù và thường xuyên đánh phá Đại Việt, đòi lại những gì được
coi là của Champa. Quan hệ của hai nước không nằm ngoài quy luật trong quan hệ của
các quốc gia phong kiến thời cổ trung đại: các quốc gia lớn mạnh, có thể lực thì thống
trị các nước nhỏ, tiến hành các cuộc chiến tranh đánh chiếm và xâm chiếm cả đất đai,
dân cư và coi đó như là chiến lợi phẩm của chiến tranh.

Bước sang thời nhà Hồ, vua Hồ Quý Ly nắm chính quyền khi mà lực lượng của
Champa do vua Chế Bồng Nga đứng đầu đang ở thế mạnh và luôn uy hiếp Đại Việt. Ở
trong thế phòng ngự khó khăn, nhà Hồ đã dùng chính sách dùng chính trị để thương
lượng hòa giải, tạm thời chấm dứt chiến tranh. Sau khi Chế Bồng Nga tử trận (1390),
thanh thế của quân Champa suy yếu hẳn và phải rút quân về sát lãnh thổ của mình.
Nhân cơ hội đó, năm 1400 Hồ Quý Ly đã quyết định sai tướng đem 15 vạn quân vào
tấn công Chiêm Thành, nhưng không thành đành phải rút quân về.

Hai năm sau đó, quân nhà Hồ lại xuất quân đánh Champa.Vương quốc Champa
lúc này đã suy yếu, trước thanh thế của nhà Hồ, vua Champa sợ hãi đã xin dâng đất
Chiêm Động và Cổ Lũy, đầu hàng nhà Hồ. Trước sự suy yếu của Chiêm Thành, nhà
Hồ càng bành trướng tham vọng xâm chiếm lãnh thổ Champa của mình. Năm 1404,
nhà Hồ đã huy động một lực lượng quân sự lên tới 20 vạn người bao gồm cả bộ binh
và thủy binh để tấn công Champa, vây đánh thành Trà Bàn. Nhưng mãi vẫn không hạ
được thành nên rút quân về.

Đối với triều đại phong kiến ở phương Bắc, chúng luôn âm mưu thực hiện dã
tâm chiếm nước ta và khôi phục lại ách đô hộ của mình. Nhiều lần cho quân quấy phá
biên giới và đưa quân sang xâm lược nước ta. Trước những thái độ đó triều đình phong
kiến Đại Việt đã khôn khéo thực hiện các chính sách vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn,
uyển chuyển theo từng thời kỳ, nhằm mang lại sự bình ổn cho đất nước, tránh xảy ra
chiến tranh. Nhưng trước những âm mưu xâm lược lãnh thổ của chúng, chính quyền
Đại Việt đã ta kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập, lãnh thổ, tự chủ
của dân tộc.

Năm 1022, quân dân Nhà Tống thuộc Khâm Châu và Như Hồng đến quấy phá
vùng đất Quảng Yên. Vua Lý đã sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, tiến sâu vào
đất Khâm Châu và Như Hồng rồi mới rút quân về.

Trước âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống, triều đình nhà Lý đã quyết tâm
chống giặc và giao trách nhiệm đó lên vai vị tướng Lý Thường Kiệt, với kế hoạch
“tiên phát chế nhân”, năm 1075, Lý Thường Kiệt đã mang quân vượt biên giới tấn
công vào Châu Ung, Châu Khiêm và Châu Liêm, đốt phá kho binh lương mà quân
Tống chuẩn bị cho cuộc xâm lược nước ta. Đó là cuộc hành quân mà quân Tống không
lường trước được, làm cho chúng phải hứng chịu những thất bại ngay trên lãnh thổ của
mình. Quan trọng hơn, với thắng lợi của kế hoạch đó, nhà Lý đã bước đầu làm suy yếu
lực lượng và giáng một đòn mạnh vào âm mưu xâm chiếm nước ta của nhà Tống, đồng
thời là bước đệm quan trọng cho chiến thắng vang dội trên sông Như Nguyệt (1077)
hai năm sau đó.


Xem chi tiết: trinhngocthien


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét