Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Điều tra tình hình chăn nuôi và dịch bệnh của chó, mèo ở một số phường trên địa bàn quận Hoàng Mai - Hà Nội


2. MỤC ĐÍCH
- Điều tra tình hình chăn ni chó, mèo và tình hình dịch bệnh ở một số
phƣờng trên địa bàn quận Hồng Mai.
- Điều tra cơng tác vệ sinh phòng bệnh và một số bệnh thƣờng gặp ở đàn
chó, mèo trên địa bàn quận Hồng Mai - thành phố Hà Nội.
- Đƣa ra một số biện pháp phòng và điều trị để khuyến cáo cho ngƣời
chăn ni chó, mèo.


















THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NI DƯỠNG, CHĂM SĨC CHĨ, MÈO.
1.1. Nguồn gốc lồi chó, mèo.
Bằng những thành tựu khoa học tự nhiên và xã hội, căn cứ vào những tài
liệu về khảo cổ lịch sử, thơng qua việc so sánh về hình thái cơ cấu, cấu tạo của
bộ xƣơng, bộ não và các khí quan trong cơ thể lồi chó các nhà sinh học trên thế
giới đều cho rằng: Tổ tiên của giống chó ngày nay là chó sói. Theo các nhà khoa
học thì chó nhà đƣợc sinh ra từ sự tạp giao giữa chó sói, cáo và đƣợc con ngƣời
ni dƣỡng thuần hố, chọn lọc để trở thành chó nhà thuần chủng.
Nhiều nhà sinh học cho rằng: Chó nhà đƣợc con ngƣời thuần dƣỡng từ 30
- 40 nghìn năm trƣớc đây vào giữa thời kỳ đồ đá. Trải qua nhiều thế hệ, với sự
tác động tích cực của con ngƣời trong việc thuần dƣỡng, lai tạo, chọn lọc cho tới
nay con ngƣời đã tạo ra trên 500 giống chó khác nhau, phân bố khắp thế giới.
(Hồ Đình Chúc, Phạm Sỹ Lăng, Phạm Anh Tuấn (1989). Kỹ thuật ni dạy và
phòng bệnh cho chó cảnh và chó nghiệp vụ. NXB Nơng nghiệp.)
1.2. Một số giống chó hiện đang đƣợc ni ở Việt Nam.
Hiện nay trên thế giới có nhiều giống chó, đa dạng về tính năng, chiều
cao, kích thƣớc, bộ lơng, sắc lơng. Trong những năm gần đây nhiều giống chó
ngoại, chó q đã đƣợc nhập vào Việt Nam để nhân giống, kinh doanh. Việc
tham khảo đặc điểm của một số giống chó trƣớc khi mua là hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó việc nắm đƣợc những kiến thức cơ bản trong việc ni dƣỡng,
chăm sóc giúp kéo dài đời sống của chó. Giống chó đang đƣợc ni tại quận
Hồng Mai - Hà Nội có đặc điểm sau:
- Japenese Chin (Chó Nhật)
Là giống chó có nguồn gốc từ Nhật Bản. Bộ lơng có màu trắng đốm đen,
đốm đỏ. Có mõm ngắn, lơng dài. Khi đến tuổi trƣởng thành chó có trọng lƣợng
trung bình từ 2 – 4 kg và có chiều cao trung bình 23 cm.
Japanese Chin là giống chó cảnh đựơc u q nhất ở Nhật Bản. Vào ba
ngàn năm trƣớc, khi tổ tiên của chúng đến từ Trung Quốc (hoặc Hàn Quốc), các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nhà q tộc đã cho ăn gạo và saki nhằm giữ cho chó đủ nhỏ để đựng trong
những lồng chim bằng vàng. Japanese Chin thích đƣợc tham gia các hoạt động
cùng với gia đình chủ, từ những bữa ăn trong những chuyến đi nghỉ hè và có thể
hờn dỗi chút ít nếu bị bỏ rơi. Cũng giống nhƣ những giống chó khác, Japanese
Chin cũng cần sự chăm sóc dịu dàng, quan tâm. Những cử chỉ dịu dàng mà
chúng nhận đƣợc từ chủ nhân sẽ tránh đƣợc những thói xấu mang tính bản năng
của chúng. Cần chải lơng hàng ngày để kiểm tra lơng rụng và giữ cho chó có bộ
lơng rực rỡ.
- Giống Berger Đức (German sheperd)
Là giống chó có nguồn gốc từ Đức, trƣớc kia đƣợc ni vào việc chăn
cừu. Berger có sức khỏe tốt, thơng minh, hình dáng “tao nhã”, có đơi tai và
chiếc đầu rất linh hoạt, lanh lợi. Bốn chân chắc khỏe nhanh nhẹn. Hiện nay
giống chó này đƣợc phân bố ở rất nhiều nơi, nhƣng nhiều nhất là ở Châu Âu.
Tùy theo q trình thích nghi với từng mơi trƣờng thuần hóa mà chó có
bộ dài lơng, màu sắc lơng thay đổi nhƣ màu đen, đen vàng, đen xám…
Khi trƣởng thành thân hình chó cao trung bình từ 57 - 62 cm, thƣờng có trọng
lƣợng khoảng 35 - 40 kg.
Giống chó Berger Đức là loại chó vui vẻ điềm tĩnh, biết vâng lời, dễ thân
thiện với đồng loại và con ngƣời, thuộc loại thơng minh, dễ huấn luyện nhƣng
lại rất dũng cảm khi làm nhiệm vụ. Giống chó này đƣợc dùng nhiều trong an
ninh quốc phòng. Đặc biệt trong việc đánh hơi truy lùng tội phạm, ngồi ra
chúng còn đƣợc dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ hải quan, kiểm lâm,
bảo vệ kho tàng, cứu hộ,…
- Giống Rottweiler
Năm 1800 phát hiên tại thành phố nhỏ thuộc nƣớc Đức. Trƣớc kia
Rottweiler đƣợc ni chủ yếu vào việc chăm sóc, chăn thả gia súc, bảo vệ tài
sản. Trong lĩnh vực qn sự Rottweiler đáng đƣợc khâm phục: nó tham gia nhảy
dù cùng qn đội Brazin; lục địa châu Âu bị ngập lụt, những con chó đã di cƣ
cùng đồn ngƣời Ronan, những con chó lớn lại tham gia bảo vệ lƣơng thực,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chăn thả gia súc sau đó chúng kết bạn với giống chó địa phƣơng và sinh ra các
giống chó khác nhƣ Brnard và Rottweiler.
Với thân hình chắc và 4 chân vững chắc khơng cao lắm, đầu to, mắt sáng,
khoảng cách 2 mắt khá xa, chó này trở thành giống chó bảo vệ tốt và dần đƣợc
chăn ni rộng rãi.
Chó có mầu lơng đem sẫm, hình dáng cao trung bình khoảng 58 – 70 cm,
trọng lƣợng từ 41 - 50 kg.
- Giống xù Bắc Kinh
Là giống có nguồn gốc từ Tây Tạng - Trung Quốc, sau đó đƣợc ni cải
tạo ngoại hình theo u cầu thị hiếu làm cảnh tại khu vực Bắc Kinh và dần đƣợc
gọi là giống chó xù Bắc kinh.
Đâylà giống chó có ngoại hình nhỏ, dài khoảng 40 cm, cao khoảng từ 20
– 25 cm, trọng lƣợng từ 4 – 5 kg. Chó có bộ lơng dài, trắng mƣợt, lƣợn sóng,
phủ kín tồn thân, xung quanh mõm có màu nâu (hoặc đen), đầu nhỏ, mũi gãy,
tai cụp, lơng xù ở 4 chân nhƣ đi ủng và đƣợc rất nhiều ngƣời ƣa thích.
- Chó Fook
Là giống chó có nguồn gốc từ Pháp, chó trƣởng thành có độ cao trung
bình từ 15 – 23 cm và có trọng lƣợng từ 2 – 4 kg.
Có tất cả các màu trên chó. Chó có thân hình nhỏ, lơng ngắn, tai to vểnh,
mắt to xinh xắn mõm nhỏ dài. Với 2 đơi chân cao nó có vẻ nhƣ nhảy dựng lên.
Mặc dù có kích thƣớc nhỏ, nhƣng chú chó săn chuột nàylại rất khẻo mạnh, dẻo
dai, thơng minh và nhanh nhẹn. Chó này trơng nhà rất tốt và cũng đáp ứng với
các nhu cầu huấn luyện. Khơng cần tốn nhiều diện tích để ni chó, nó là một
con chó nội thành tuyệt vời, một ngƣời bạn đồng hành tốt.
- Dalmatian (chó Đốm)
Là giống chó có nguồn gốc từ Nam Tƣ. Chó trƣởng thành có độ cao trung
bình từ 56 – 61 cm và có trọng lƣợng trung bình từ 23 – 25 kg. Có lơng màu
trắng đốm đen, dáng cao, eo thon. Đƣợc dùng trong việc chun chở.
Dalmatian có nguồn gốc từ đâu trên thế giới? Vài ngƣời cho rằng giống
chó này đến từ Ấn Độ đi cùng đồn ngƣời bn đến Yougoslavie thời Trung cổ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ngƣời khác lại cho rằng từ thời cổ Ai Cập chó đi theo một xe ngựa nhƣ là một
bằng chứng xuất phát từ Châu Phi. Tuy nhiên nguồn gốc nào cũng khơng quan
trọng, có một điều chắc chắn lịch sử của Dalmatian chỉ là chó đốm. Tuy nhiên,
khi mới sinh ra chó con thuần màu trắng. Bộ nhớ tinh tế và sự hăng hái sẽ rất có
ích trong việc huấn luyện mặc dù đơi khi nó khơng dễ dạy. Nó rất dẻo dai và cần
đƣợc vận động nhiều.
- Chó Tây Ban Nha
Là giống chó rất gần gũi và thân thiện với chủ. Chó trƣởng thành có độ
cao trung bình từ 30 – 40 cm, trọng lƣợng khoảng 20 – 30 kg. Nó nhƣ một nghệ
sĩ trên sân khấu cũng nhƣ cơng việc nhà. Với bộ lơng màu cánh dán, màu vàng
hay màu gụ, thân hình mảnh, đầu dài, tai rủ xuống hai bên, hai mắt màu xanh
sáng.
- Một số giống chó địa phƣơng
Hiện nay các hộ gia đình thƣờng ni chó ta (giống chó đã đƣợc ngƣời
dân thuần hố từ hàng nghìn năm nay) nhƣ:
Chó vàng: có bộ lơng vàng tuyền, tầm vóc trung bình, biết đi săn và khá
tinh khơn.
Chó mực: lơng đen tuyền, tầm vóc trung bình, lanh lẹ và có khả năng bắt
chuột giỏi.
Chó vá: lơng đốm trắng đen hoặc khoang đƣợc ni để giữ nhà.
Ngồi ra còn có một số giống chó khác nhƣ chó Ngao Đức, Ngao Italia, Tawry
Boxer…
1.3. Một số giống Mèo đang đƣợc ni ở Việt Nam.
- Mèo Mƣớp (Mèo Châu Âu).
Là giống mèo vừa dịu dàng, vừa độc lập lại vừa rất ngơng cuồng và ƣa nề
nếp. Thích thám hiểm nên thƣờng hay lấp mình để rình mồi.
- Mèo Ba Tƣ.
Là giống mèo có lơng dài, mƣợt trắng muốt béo mập, mũm mĩm, thơng
minh và thanh lịch. Lồi mèo này đƣợc coi là lãnh chúa trong thế giới mèo. Mèo
Ba Tƣ rất dễ gần, dịu dàng, vui vẻ, nhanh nhẹn, tốt bụng và kiên nhẫn. Gắn bó
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
với chủ, gần gũi với các em bé. Nhƣng cơng việc chăm sóc lại cần nhiều thời
gian. Mèo Ba Tƣ có thể là những con mèo có mắt 2 màu (mắt xanh và mắt nâu.
Ở phƣơng Đơng ngƣời ta cho rằng những con mèo nhƣ vậy sẽ đem lại may mắn
cho chủ nhân).
- Mèo Abysesin - Mèo man xứ Ai Cập
Hình dáng của lồi mèo này giống tƣợng mèo thiêng thời Ai Cập cổ đại.
Giống mèo này ln gần gũi với chủ nhân nhƣng lại khơng gần gũi với ngƣời lạ,
thích chạy nhảy thăng bằng.
- Mèo Xiêm
Hiếu động, thơng minh, thích kêu nhƣng lại mang những nét đẹp dễ nhận
thấy ở nó. Mèo Xiêm là loại ích kỷ, ít độ lƣợng với các con vật khác, nhƣng lại
rất gần gũi với chủ nhân, biết vâng lời, ghét ồn ào và ln cần sự n tĩnh.
- Mèo Miến Điện
Đây là giống mèo có cặp mắt xanh lơ lóng lánh màu đá saphire. Với tấm
áo khoắc mƣợt và mỏng, đơi bàn chân nhỏ nhắn trắng muốt. Chúng rất thân
thiện, thích đƣợc âu yếm, có tính cách ơn hồ, thích nghi nhanh với cuộc sống.
1.4. Thức ăn sử dụng trong chăn ni chó, mèo.
Chó mèo thích ăn những thức ăn nóng ấm (38 - 39
0
C). Nhƣ nhiệt độ con
mồi tự nhiên. Chó thích ăn những loại thức ăn có độ ẩm chênh lệch lớn (10 – 75
%), thức ăn nát, miếng nhỏ, ăn nhiều lần và khơng thích thức ăn ngọt. Lồi mèo
lại thích những loại thức ăn sống nhƣ cá, phủ tạng heo. Chó thƣờng thích các cơ
quan nội tạng hơn là những thức ăn đƣợc nấu chín. Chúng có thể thích vị ngọt,
có thể ăn đƣợc rau cải. Cả hai lồi đều dễ bị thức ăn lơi cuốn.
Ngày nay các nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu và hiểu biết về khẩu
phần thức ăn cho chó, mèo. Tuy nhiên cũng có ít nhiều khác biệt trong nhu cầu
cố định giữa các tác giả và các tổ chức nhà nƣớc. Điều đáng ngạc nhiên là nhu
cầu của lồi này khác lồi kia kể cả giữa chó và mèo. Ngƣời ta nghiên cứu để
đảm bảo cho thú con phát triển một cách hài hồ, cho thú trƣởng thành duy trì
thể trọng phòng ngừa tối đa những bệnh lý liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
các yếu tố dinh dƣỡng để kéo dài cuộc sống cho con thú bằng cách tạo ra các
loại thức ăn hỗn hợp cho chó và cho mèo.
* Thức ăn hỗn hợp cho chó.
Có ba nhóm thức ăn chăn ni chính: chia thành 2 loại.
+ Theo tính chất của thức ăn
- Thức ăn khơ có mức năng lƣợng 3.500 kcal/kg thức ăn.
- Thức ăn đóng hộp 1300 kcal/ kg thức ăn.
- Thức ăn nửa khơ, nửa ƣớt đóng hộp hay trong bao plastic 3000 kcal/kg
thức ăn.
+ Theo hình thức của thức ăn
- Thức ăn dạng khối: có dạng khối đồng chất, có cấu trúc từ sệt tới xốp.
- Thức ăn dạng lát miếng: đƣợc sản xuất từ thịt, gan, thận…thành những
mảng khối và đóng hộp.
- Thức ăn dạng hỗn hợp trộn lẫn: gồm thịt xay dạng viên, thịt cắt nhỏ đƣợc
nhồi chung với ngũ cốc, rau đậu nấu trong nƣớc.
Tuỳ theo khối lƣợng cơ thể mà thành phần thức ăn trong khẩu phần, mức
độ dinh dƣỡng và chế độ ăn (mức độ phân phối thức ăn) khác nhau.
Điều đó đƣợc thể hiện trong một số bảng dƣới đây:
Trang 48. Ni dưỡng – chăm sóc và phòng trị bệnh chó, mèo. Nguyễn
Phƣớc Trung (2002). NXB Nơng nghiệp.
Mức phân phối thức ăn cho chó trƣởng thành

Trọng lƣợng chó
(kg)
Thức ăn khơ
(g)
Thức ăn ƣớt
(g)
Nửa khơ
Nửa ƣớt (g)
5 125 340 150
10 210 570 250
15 290 770 330
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
20 355 960 400
25 420 1130 490
30 480 1300 560
35 540 1460 630
40 600 1600 700
45 650 1760 760
50 700 1900 820
55 760 2050 890
60 800 2200 950

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Khẩu phần cho chó trƣởng thành
Loại thức ăn
(gam)
Khối lƣợng của chó (kg)
5 15 30 50
Thịt bò gầy(200kcal/100g)
Gạo (gạo khơ)
Rau cải
Dầu ăn
Carbonate de calcium
Muối
110 250 400 530
56 125 200 270
60 120 200 270
3 6 10 13
2 5 8 11
1 3 6 10

Nhu cầu dinh dƣỡng của chó (% vật chất khơ)
Tình trạng
Sinh lý
Đạm
Thơ
Béo
thơ

thơ
Ca

P

Na

Tăng trƣởng,
Giai đoạn cuối
mang thai,
Cho bú
28 - 35 20 - 30 0 - 5 1,0 – 1,8 0,8 – 1,6 0,3 – 0,7
Duy trì
(trƣởng thành)
20 - 28 10 - 20 0 - 5 0,5 – 0,9 0,4 – 0,9 0,25 – 0,5
ít hoạt động,
Hạn chế béo
20 - 25 8 - 12 5 - 15 0,5 – 1,0 0,4 – 0,9 0,25 – 0,5
Già 15 - 25 10 - 20 0 - 5 0,5 – 0,85
0,4 –
0,75
0,25 – 0,4
Làm việc,
stress, hồi phục
bệnh
25 - 30 25 - 30 0 - 5 0,7 – 1,4 0,7 – 1,4 0,3 – 0,7
Trang 49. Ni dưỡng – chăm sóc và phòng trị bệnh chó, mèo. Nguyễn
Phƣớc Trung (2002). NXB Nơng nghiệp.
*Thức ăn cho mèo
+ Dinh dƣỡng cho mèo.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Mèo là lồi động vật ăn thịt. Dinh dƣỡng cho mèo giống nhƣ chó với một
vài đặc điểm riêng: nhu cầu đạm cao, khơng có khả năng chuyển hố õ_carotene
thành Vitamin A và cung cấp acid arachidonic. Mèo cần ít xơ
Nhu cầu trong những tháng đầu tiên gắn với tăng trọng. Tốc độ tăng
trƣởng của mèo rất nhanh trong 3 - 4 tháng đầu. Khối lƣợng trung bình của mèo
đực trƣởng thành (450 ngày) là 3.2 ± 0.9 kg và của mèo cái là 2.75 ± 0.5 kg.
Mèo ăn nhiều loại thức ăn khác nhau. Mèo con đang lớn và mang thai, cho con
bú phải đƣợc cho ăn tự do hay nhiều lần trong ngày để thoả mãn nhu cầu. Các
bệnh liên quan đến dinh dƣỡng nhƣ bệnh ký sinh trùng, thận, tuyến tuỵ, gan, tiêu
hố và hầu hết các rối loạn thức ăn đều có ảnh hƣởng đến sinh lý, bệnh lý của
mèo.(Trang 50. Ni dưỡng – chăm sóc – phòng trị bệnh chó mèo. Nguyễn
Phƣớc Trung (2002). NXB Nơng nghiệp).
+ Thức ăn cho mèo.
Thức ăn cho mèo có 3 dạng khác nhau: Đóng hộp (22% chất khơ), khơ
(90 - 94% chất khơ), patê (70% chất khơ). Tuỳ theo dạng thức ăn mà chế độ cho
uống khác nhau. Thức ăn đóng hộp chiếm đến 78% nƣớc. Việc sử dụng thức ăn
này cần nhiều tri phí nhƣng đem lại lợi ích cao và phòng ngừa hội chứng tiết
niệu ở mèo. Thức ăn cho mèo có hàm lƣợng đạm cao (26-28%).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét