Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
35% lên 45%. Mạng lới sản xuất mang tính toàn cầu đang và sẽ thực sự kết
nối thế giới.Thơng mại phát triển khiến thị trờng thế giới thống nhất hơn, xu
thế thống nhất lại đòi hỏi loại bỏ các hàng rào thơng mại.
Thứ ba, toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình nhất thể hoá kinh tế phát triển nhanh
chóng, trao đổi kinh tế giữa các khu vực ngày càng quan trọng, tăng thêm sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế và các khu vực kinh tế. Theo thống kê
của Liên hợp quốc trong những năm 60 có khoảng 19 tổ chức nhất thể hoá kinh
tế khu vực, những năm 70 có 28 tổ chức, những năm 80 con số này là 32 và
những năm 90 đã lên tới gần 60 tổ chức với hơn 160 nớc tham gia với các loại
hình và mức độ khác nhau. Sự gia tăng các tổ chức nhất thể hoá kinh tế đã góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá kinh tế, việc giao lu trao đổi các
hoạt động kinh tế để tìm kiếm lợi ích giữa các nền kinh tế, các khu vực kinh tế
ngày một gia tăng, khiến cho nền kinh tế mỗi quốc gia, mỗi khu vực trở thành
một bộ phận của kinh tế thế giới, hình thành một cục diện kinh tế thế giới mới.
Một cục diện trong đó các thành viên tồn tại trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu
tranh với nhau, cùng phát triển. Nó cho phép giảm thiểu các chớng ngại trong
việc lu chuyển vốn, hàng hoá, dịch vụ, nguồn nhân lực giữa các nền kinh tế,
các khu vực kinh tế, làm tăng vai trò kinh tế đối ngoại, mậu dịch và đầu t nớc
ngoài đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nớc, làm cho việc phân bố các
nguồn lực trên thế giới hợp lý và có hiệu quả hơn.
Thứ t, với sự gia tăng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, hàng rào phi thuế
quan sẽ thịnh hành hơn. trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, mỗi nền kinh tế
phải tính toán chiến lợc để đẩm bảo an toàn vế kinh tế, chính trị, xã hội và an
ninh quốc gia, vì thế hàng rào phi thuế quan sẽ là công cụ đợc a chuộng hơn cả.
hiện nay đã có hơn 1000 loại hàng rào phi thuế quan. Song theo dự đoán của
các chuyên gia kinh tế, loại hình hàng rào phi thuế quan sẽ còn phát triển mạnh
trong thập kỷ tới, mà chủ yếu tập trung trên các phơng diện nh : hàng rào bảo
vệ môi trờng ; hàn rào thông tin; hàng rào công nghệ thơng mại
Thứ năm, toàn cầu hoá sẽ làm gia tăng tỷ trọng các loại hình đầu t vào lĩnh
vực dịch vụ. Đầu những năm 90, có khoảng 50,17% vốn đầu t nớc ngoài của
SV. Phạm Thị Thu Trang 5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các nớc phát triển dành cho các ngành dịch vụ, tỷ trọng đó của các nớc đang
phát triển cũng là 29,5%. Sở dĩ nh vậy vì các ngành công nghiệp hiện nay phần
lớn đã ở tình trạng bão hoà, ít không gian mới, trong khi đó các ngành dịch vụ
đợc xây dựng trên nền tảng vốn doanh nghiệp, chu kỳ kinh doanh ngắn, hiệu
quả kinh doanh cao nên các nhà đầu t thích bỏ vốn vào lĩnh vực này. Trong hội
nghị tổ chức thơng mại thế giới, thơng mại dịch vụ là một trong ba đề tài lớn,
điều đó đủ thấy sự phát triển của nó, vì vậy xu thế đầu t và các ngành dịch vụ sẽ
có thể tăng khá nhanh trong những thập kỷ tới.
Trong điều kiện hiện nay, có thể nói toàn cầu hoá phát triển cha đầy đủ, nhà
nớc dân tộc vẫn là chủ thể trong cộng đồng quốc tế. Một số nớc lớn và một số
tập đoàn kinh tế của các nớc lớn, xuất phát từ việc duy trì lợi ích quốc gia và lợi
ích tập đoàn có thể có những can thiệp xuyên quốc gia đối với các nớc khác;
hay nói cách khác trong quá trình bành trớng ra toàn cầu, các nớc và các công
ty xuyên quốc gia, vì lợi ích của mình có thể lợi dụng sức mạnh kinh tế để thực
hiện nhng can thiệp chính trị đối với các nớc khác. Nh vậy toàn cầu hoá cũng
có những ảnh hởng đến chính trị, ta có thể thấy những xu hớng sau:
Thứ nhất, cán cân sức mạnh của các nớc lớn, các tập đoàn kinh tế mạnh sẽ
quyết định cục diện chính trị toàn cầu. Bằng sức mạnh kinh tế của mình, họ sẽ
chi phối phần lớn thị trờng thế giới, nắm vị trí chủ yếu trng việc tổ chức sản
xuất, phân luồng và giao lu hàng hoá trên phạm vi toàn cầu. Do đó với danh
nghĩa phát triển quá trình toàn cầu hoá và dới chiêu bài bình đăng, tự do, các n-
ớc có tiềm lức kinh tế mạnh sẽ áp đặt chủ nghĩa bá quyền về chính trị trên
phạm vi toàn cầu. Nhìn lại lịch sử thế giới, nhất là lịch sử thế giới cận đại và
hiện đại, chúng ta đều thấy phát triển kinh tế bao giờ cũng có ảnh hởng tới
chính trị và ngợc lại. Toàn cầu hoá kinh tế không nằm ngoài sự vận động đó. Sự
thực trong quá trình toàn cầu hoá, Mỹ và phơng Tây vẫ luôn hô hào toàn cầu
hoá, thông thoáng thị trờng thế giới, nhng chính Mỹ và một số nớc khác lại
đồng loã, thậm chí lôi kéo cả các tổ chức quốc tế nh Liên hợp quốc vào việc sử
dụng các chính sách và các vũ khí nh cấm vận, tẩy chay, làm băng giá các
quan hệ, sử dụng vũ khí lơng thực, công nghệ, tài chính, tiền tệ chính trị hoá
SV. Phạm Thị Thu Trang 6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các vấn đề kinh tế. Theo thống kê của chính phủ Mỹ, kể từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai đến nay Mỹ đã thực hiện 115 lần cấm vận đối với các nớc khác.
Hiện nay có 75 nớc với 52% dân số thế giới chịu cấm vận của dới nhiều hình
thức khác nhau mà phần lớn trong đó do Mỹ đơn phơng cấm vận. Nớc Mỹ dựa
vào sức mạnh kinh tế để xâm phạm chủ quyền các nớc, mà gần đây nhất là
chính quyền của tổng thống Bush phát động cuộc chiến tranh chống Irăc dù
không hề có một bằng chứng rõ ràng nào về việc Irăc sản xuất vũ khí hạt nhân.
Nh vậy trong quá trình toàn cầu hoá Mỹ, Nhật Bản và một số nớc châu Âu với
vị thế là cờng quốc kinh tế các nớc này có thể áp đặt nhiều quy tắc chuẩn mực
buộc các nớc khác phải tuân theo.
Thứ hai, độc lập chủ quyền quố gia chỉ là tơng đối, nhợng bộ chủ quyền là
điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, mức độ và phạm vi nhợng bộ sẽ khác nhau, tuỳ
điều kiện và quan điểm của từng nớc. Các nớc đang phát triển, do yếu kém về
kinh tế, để nhận đợc viện trợ buộc phải nhợng bộ một phần chủ quyền.
Thứ ba, những nhân tố không ổn định trên phạm vi thế giới có thể sẽ gia
tăng. Lợi ích của các nớc nhỏ, nớc yếu bị tổn hại, vì vậy các hình thức phản đối
toàn cầu hoá ngày một gia tăng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Các nhân
tố không ổn điịnh trong các nớc nghèo nh nội chiến, đảo chính, biến động
chính trị, bạo lực, tội phạm khó có thể đợc giải quyết triệt để. Hơn nữa, sức
mạnh kinh tế bên ngoài chi phối, và sự tranh giành kiếm lời của các thế lực
càng tạo thêm những khó khăn ngày một nhiều hơn.Chúng ta có thể thấy rõ
biểu hiện này qua các cuộc biểu tình của các tổ chức phản đối toàn cầu hoá với
đông đảo thành viên tham gia, những hành động khủng bố, mà tiêu biểu là vụ
khủng bố ngày 11/9/2001 tại toà nhà thơng mại thế giới (WTC) NewYork
Mỹ.
Từ những phân tích trên ta có thể thấy rằng ngoài những yếu tố tích cực, toàn
cầu hoá cũng là một quá trình chứa đầy những nguy cơ: xu hớng thống trị thế
giới của một nhóm nhỏ các nớc đang ngày một hiện rõ. Trớc tình hình đó, toàn
thế giới phải có đợc quan niệm mới về phát triển, một sự phát triển bền vững
trong đoàn kết.
SV. Phạm Thị Thu Trang 7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3. Các hình thức hội nhập
Những hình thức hội nhập quốc tế hiện tại đang phát triển rất đa dạng. Ta có
thể kể ra các hình thức chủ yếu sau:
a. Các hiệp nghị thơng mại song phơng
Cho đến nay các hiệp nghị thơng mại song phơng vẫn là hình thức hội nhập
quốc tế phổ biến nhất và quan trọng nhất đối với cả các nớc phát triển cũng nh
đang phát triển. Mỹ là nớc có nền kinh tế phát triển nhất, đã hội nhập vào kinh
tế thế giới với vai trò chi phối, nhng chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp nghị kinh tế
hai bên nh Mỹ Nhật, Việt- Mỹ Nhật Bản nớc có vị trí kinh tế đứng thứ
hai trên thế giới cũng vậy, các nớc NIC cũng hội nhập kinh tế quốc tế chủ yếu
trên cơ sở các hiệp nghị kinh tế song phơng. Những quan hệ hai bên của những
quốc gia này cũng đã đủ sức tạo ra lợi thế so sánh. Tuy vậy những hiệp nghị
kinh tế dù có rộng lớn đến đâu vẫn có những hạn chế khi phải đối diện với các
vấn đề kinh tế toàn cầu, những khối kinh tế hùng mạnh.
b. Các khối kinh tế khu vực
Cho đến nay đã có hàng chục khối kinh tế khu vực ở khắp năm châu. Những
khối kinh tế hoạt động nổi bật hơn cả là EU, NAFTA, AFTA, APEC. Tuy
nhiên mức độ hợp tác của các khối kinh tế này cũng rất khác nhau. Có khi chỉ
dừng lại ở thoả thuận buôn bán u đãi trong khối, có khối đã thoả thuận xoá bỏ
hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong khối, có khối đã thành lập
liên minh thuế quan, hặc đã tạo lập cả một thị trờng chung cho phép tự do th-
ơng mại hàng hoá, dịch vụ, lao động Liên minh kinh tế hiện nay là nấc thang
của các khối kinh tế. Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu hoạt động từ năm 1992
với các chính sách tài chính, tiền tệ, thơng mại, công nghệ, an ninh, chính trị
chung ; có quốc hội chung, toà án chung, đồng tiền chung Các khối kinh tế
khu vực ra đời đã có những tác động quan trọng; thúc đẩy tự do hoá thơng mại
đầu t; thúc đẩy quá trình mở cửa thị trờng các quốc gia, tạo lập ra những thị tr-
ờng khu vực rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá tiến triển.
SV. Phạm Thị Thu Trang 8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
c. Những tổ chức kinh tế toàn cầu
Các tổ chức kinh tế có tác dụng điều chỉnh các quan hệ kinh tế toàn cầu có:
Tổ chức thơng mại thế giới(WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng thế
giới(WB) và một số tổ chức kinh tế của liên hợp quốc nh UNDP, G8 Tuy
nhiên phải thừa nhận rằng cho đến nay mới chỉ có những cam kết quốc tế về
mặt thơng mại là có tơng đối có hiệu lực hơn cả, còn nhiều lĩnh vực cần có
những luật lệ toàn cầu hữu hiệu nh: chính sách tiền, đầu t chu chuyển vốn, bảo
vệ môi trờng, các tiêu chuẩn về lao động và di chuyển lao động quốc tế hiện
nay cha có các cam kết toàn cầu mang tính luật pháp. Những hoạt động của
IMF và WB mới chỉ kiểm soát đợc phần nào dòng, vốn, tiền tệ chính thức của
Nhà nớc còn các dòng vốn t nhân vẫn vận động bên ngoài các vòng kiểm soát.
Các tổ chức kinh doanh toàn cầu hiện nay là những công ty xuyên quốc gia
đang mở rộng hoạt động khắp các châu lục với số lợng ngày một tăng. Hiện có
60.000 công ty xuyên quốc gia với 500.000 chi nhánh , nắm 25% sản xuất thế
giới, kiểm soát 50% mậu dịch quốc tế ; trên 90% vốn đầu t trực tiếp, trên 80%
bản quyền kỹ thuật và công nghệ mới. Có thể nói nếu các nớc không có các
công ty xuyên quốc gia của mình thì sự hội nhập quốc tế sẽ bị hạn chế chỉ ở
hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút các công ty nớc ngoài vào nớc mình. Sự
khiếm khuyết này sẽ làm giảm lợi thế so sánh của các quốc gia. Có thể dự báo
là trong một nền kinh tế toàn cầu thống nhất trong tơng lai các công ty xuyên
quốc gia sẽ là hình thức doanh nghiệp cơ bản.
Ngoài những hình thức hội nhập quốc tế trên, ngời ta còn thấy ngững tam
giác, tứ giác vùng ; những thành phố cảng tự do nh Hồng Kông, Singapo là
những khu vực mở cửa tự do cho tất cả các công ty của mọi nớc đến hoạt động
v.v
SV. Phạm Thị Thu Trang 9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
II > Việt nam với toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế
1. Tính tất yếu phải hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Việt Nam là một trong những nớc nghèo nhất trên thế giới, sau mấy chục
năm liên tiếp bị chiến tranh tàn phá, nớc ta bắt đầu bớc vào thực hiện chuyển
đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng, trong điều kiện tự
nhiên và xã hội có nhiều thử thách khắc nghiệt. Từ một nền kinh tế tự túc, tự
cấp, nghèo nàn lạc hậu bắt đầu mở cửa tiếp xúc với một thị trờng rộng lớn
nơi có nhiều quan hệ kinh tế quốc tế cạnh tranh khốc liệt, đang có nhiều quốc
gia, tập đoàn kinh tế t bản giầu mạnh luôn gây sức ép, muốn thao túng cả nền
kinh tế tài chính thế giới. Song đứng trớc xu thế phát triển tất yếu, là một bộ
phận của nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng nh nhiều quốc gia khác không
thể khớc từ hội nhập, nớc nào đống cửa với thế giới là đi ngợc lại xu thế của
thời đại và khó tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu. Hiện nay đã chấm dứt thời kỳ
chiến tranh lạnh, một thế giới hoà bình đòi hỏi các nớc xích lại gần nhau hợp
tác cùng phát triển.
Trên thế giới hiện nay quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ,
nếu chúng ta có những bớc đi hợp lý thì Việt Nam có thể tận dụng những thời
cơ thuận lợi để có thể đi tắt, đón đầu, từng bớc tiếp cận với nền kinh tế tri thức,
từ đó đa kinh tế đất nớc phát triển nhanh và bền vững.
2. Những thời cơ và thách thức đối với Việt Nam khi hội nhập kinh tế
quốc tế
a. Những thời cơ mà hội nhập quốc tế mang lại
Thực tế cho thấy, tuy mới chỉ ở giai đoạn đầu và thực sự cha đi vào chiều sâu,
nhng tiến trình hội nhập kinh tế khu vức và quốc tế cùng với quá trình đổi mới
trong nớc, đã góp phần đa Việt Nam lên một tầm cao mới, thu đợc nhiều kết
qủa đáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực. Đó là do nớc ta đã biết khai thác những
thời cơ thuận lợi mà toàn cầu hoá mang lại.
SV. Phạm Thị Thu Trang 10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần mở rộng thị trờng xuất, nhập khẩu của
Việt Nam , quan hệ bạn hàng đợc mở rộng. Việc đợc hởng những u đãi về thuế
quan và xoá bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi ngộ khác nh tối huệ
quốc và đối xử quốc gia, đã tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập thị
trờng thế giới. Chỉ tính trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
kim ngạch xuất khẩu của ta sang các nớc thành viên cũng đã tăng lên đáng kể.
Nếu nh xuất khẩu sang các nớc ASEAN của ta năm 1990 đạt 348,6 triệu USD
thì năm 1996 đạt 1777,5 triệu USD và năm 1998 đạt 2349 triệu USD. Kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nớc thành viên APEC, ASEM tăng lên
đáng kể. Đến nay, ta đã mở rộng quan hệ thơng mại với trên 150 nớc và lãnh
thổ trên thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút vốn đầu t nớc ngoài,
viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế. Hiện đã có trên
70 nớc và vùng lãnh thổ có dự án đầu t vào Việt Nam, trong đó có nhiều công
ty và tập đoàn lớn có công nghệ tiên tiến. Điều này góp phần làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trông nớc theo hớng công nghiệp, phát triển lực lợng sản xuất và
tạo thêm công ăn việc làm. Vốn đầu t nớc ngoài trong giai đoạn 1991-1995
chiếm 25,7% và từ năm 1995 đến nay chiếm gần 30% tổng vốn đầu t xã hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn góp phần giải quyết tốt vấn đề nợ nớc ngoài
của Việt Nam. Trong những năm qua, nhờ phát triển tốt các mối quan hệ đối
ngoại song phơng, đa phơng các khoản nợ nớc ngoài cũ của Việt Nam về cơ
bản đã đựơc giải quyết thông qua câu lạc bộ Paris, London và đàm phán song
phơng. điều đó góp phần ổn định các cân thu chi ngân sách, tập trung nguồn
lực cho các chơng trình phát triển kinh tế xã hội trong nớc.
Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa học
công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh. Trong những
thập niên qua, cuộc cách mạng khoa họ kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin và
viễn thông phát triển mạnh, làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới và đã tạo điều
kiện để Việt Nam tiếp cận những phát triển mới này. Sự xuất hiện và đi vào
hoạt động của nhiều khu công nghiệp mới và hiện đại nh thành phố Hồ Chí
SV. Phạm Thị Thu Trang 11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Bình Dơng, Hải Phòng và những liên
doanh trong ngành công nghiệp dầu khí đã minh chứng điều đó.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần không nhỏ vào công tác đào tạo và
bồi dỡng đội ngũ cán bộ trong nhiều lĩnh vực. Phần lớn cán bộ khoa học kỹ
thuật, cán bộ quản lý, các nhà kinh doanh đã đợc đào tạo cả ở trong nớc và
ngoài nớc. Chỉ tính riêng trong các công trình đầu t nớc ngoài đã có khoảng 30
vạn lao động trực tiếp, 6000 cán bộ quản lý, và 25000 cán bộ khoa học kỹ thuật
đã đợc đào tạo. Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động tính đến năm 1999 Việt
Nam đã đa trên 7 vạn ngời đi lao động ở nớc ngoài. Hiện nay nớc ta đã có quan
hệ hợp tác giáo dục và đào tạo với rất nhiều quốc gia, nhiều trờng đại học uy tín
và danh tiếng hàng đầu thế giới nhằm nâng cao chất lợng nguồn nhân lực, đa
đất nớc bắt kịp thời đại bớc vào nền kinh tế tri thức.
b. Những thách thức
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội luôn đi liền với thách thức
và khó khăn. Thách thức đầu tiên mà nhiều ngời lo ngại nhất hiện nay do tham
gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, nớc ta phải giảm dần thuế quan
và rỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, thì hàng hoá sẽ ồ ạt đổ vào nớc ta, chèn ép
nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh trong nớc, kéo theo hậu quả xấu về việc làm,
thu nhập và đời sống của ngời lao động. Với lo ngại đó các doanh nghiệp, nhất
là các doanh nghiệp trung bình, yếu kém thờng đòi hỏi Nhà nớc thi hành chính
sách bảo hộ lâu dài. Tuy nhiên, nếu đứng từ góc độ lợi ích toàn cục và lâu dài
mà xem xét thì Nhà nớc không thể và không nên đáp ứng đòi hỏi trên của các
doanh nghiệp. Bởi lẽ, một là Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện các cam kết về tự
do hoá thơng mại vào các mốc 2006 và 2020 khi đã tham gia AFTA và APEC,
cũng nh các cam kết khác khi đợc kết nạp vào WTO. Hai là việc thi hành chính
sách bảo hộ mậu dịch luôn là con dao hai lỡi. Một chính sách bảo hộ có
chọn lọc, có điều kiện và có thời hạn thì sẽ kích thích các nhà sản xuất trong n-
ớc khẩn trơng đổi mới, tích cực vơn lên để có sức cạnh tranh mạnh hơn. Trái
lại, một chính sách bảo hộ quá mức thì sẽ có thể dẫn tới gậy ông đập lng ông
gây thiệt hại cả về kinh tế và xã hội, không những làm giảm sức cạnh tranh của
SV. Phạm Thị Thu Trang 12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các doanh nghiệp đó mà còn gây ra thất nghiệp, đời sống ngời lao động không
dợc đảm bảo, từ đó có thể gây các tệ nạn làm mất ổn định trật tự xã hội. Một tài
liệu nghiên cứu gần đây cho biết: việc hạn chế định lợng nhập khẩu xi măng
làm cho giá xi măng thông dụng cao hơn giá xi mang nhập khẩu cha có thuế là
50% ( khoảng 20- 22 USD/tấn). Toàn xã hội phải trả thêm 220 triệu USD (11
triệu tấn x 20 USD) năm 1999 để bảo hộ cho ngành xi măng, trong đó có gần
một nửa số tiền vào túi các nhà đầu t nớc ngoài. Số tiền đó tơng đơng với
khoảng 40% ngân sách giáo dục của cả nớc.
Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới tơng đối chậm. Trong
khi xu hớng nhiều nớc muốc đẩy nhanh quá trình tự do hoá thơng mại và đầu t
với quy mô sâu, rộng hơn thì Việt Nam lại rất cần đủ thời gian để có thể chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nớc. Đây thực sự là một mâu thuẫn cần đợc xử lý
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó kiến thức và sự hiểu biết
của ta về hội nhập kinh tế quốc tế cũng nh các vấn đề liên quan còn nhiều hạn
chế, bất cập. Hệ luỵ của nó là công tác chuẩn bị của ta, nhất là của các doanh
nghiệp cho việc chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế cũng
cha thật đầy đủ và mang tính lâu dài. T tởng trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà
nớc ở nhiều doanh nghiệp còn khá nặng nề.
Một thách thức rất nhạy cảm và hệ trọng đợc đặt ra là phải làm sao giữ đợc
độc lập, tự chủ trong tiến trình hội nhập kinh tê quốc tế. Không ít ý kiến cho
rằng nớc ta hiện nay với xuất phát điểm rất thấp, nền kinh tế đang trong qua
trình chuyển đổi, thị trờng phát triển cha đồng bộ, một bộ phận đáng kể của nền
kinh tế cha thoát khỏi lối sản xuất hàng hoá nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng suất
lao động thấp, sức cạnh tranh kém, trong khi các nớc đi trớc nhất là các cờng
quốc t bản phát triển có lợi thế hơn hẳn về nhiều mặt, do đó nếu chúng ta mở
rộng quan hệ với các nớc đó thì nớc ta khó tránh khỏi bị lệ thuộc về kinh tế, và
từ chỗ lệ thuộc về kinh tế mà có thể dẫn đến không giữ đợc độc lập, tự chủ nữa.
Để hoá giải vấn đề này cần có nhìn nhận theo quan điểm mới : trớc hết phải
nhận thức rõ độc lập, tự chủ về thực chất là mỗi nớc tự lựa chọn con đờng và
mô hình phát triển riêng của mình, tự quyết định các chủ trơng, chính sách kinh
SV. Phạm Thị Thu Trang 13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tế-xã hội, tự đề ra mục tiêu chiến lợc và kế hoạch trong từng thời kỳ và các biện
pháp thực hiện các mục tiêu đó. độc lập tự chủ không phải là hoàn toàn đống
cửa với thế giới. Quan điểm độc lập tự chủ theo kiểu tự túc tự cấp, xây dựng cơ
cấu kinh tế hoàn chỉnh, hớng nội đã đợc kinh nghiệm của nhiều nớc trên thế
giới và kinh nghiệm của nớc ta chứng minh là không phù hợp với xu thế chunh
của thời đại và không hiệu quả, đẩy đất nớc vào tình trạng chậm phát triển. Và
một khi tình trạng chậm phát triển về kinh tế không đợc khắc phục thì sẽ làm
mất lòng tin của nhân dân, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nan giải, tạo nguy
cơ từ bên trong đối với trật tự, an toàn xã hội. Trái lại việc mở rộng quan hệ hợp
tác với các nớc, các tổ chức quốc tế thì sẽ tạo nên một hình thái tơng tuỳ, đan
xen lợi ích, do đó mà chúng ta có những thế và lực để giữ vững độc lập, tự chủ
của đất nớc.
Một thách thức nữa không kém phần quan trộng là làm thế nào giữ gìn đợc
bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, làm sao đảm bảo cho
sự phát triển hài hoà và lành mạnh của đất nớc. Đây không phải là nỗi lo riêng
của chúng ta mà còn là nỗi lo của nhiều nớc khác trên thế giới. Bởi lẽ thông qua
các siêu lộ thông tin với mạng Internet, xu thế toàn cầu hoá một mặt tạo điều
kiện cha rừng có để mọi dân tộc, mọi cộng đồng trên thế giới có thể nhanh
chóng trao đổi với nhau về hàng hoá, dịch vụ, kiến thức, phát minh sáng chế
qua đó góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế, phát triển khoa học và công nghệ,
mở mang hiểu biết về các nền văn hoá của nhau. Mặt khác quá trình trên cũng
nẩy sinh mối nguy cơ ghê gớm về sự đồng nhất hoá các hệ thống giá trị và
tiêu chuẩn, đe doạ làm suy kiệt khả năng sáng tạo của nền văn hoá, nhân tố hết
sức quan trọng đối với sự tồn tại đối với sự tồn tại của nhân loại. Nguy cơ nói
trên lại càng tăng lên gấp bội khi một siêu cờng nào đó tự xem các giá trị văn
hoá của mình là u việt, là tối thợng, từ đó nảy sinh thái độ ngạo mạn và ý đồ áp
đặt các giá trị của mình cho các dân tộc khác bằng một chính sách có thể gọi là
xâm lợc văn hoá với nhiều biện pháp trắng trợn và tinh vi. đứng trớc tình
hình đó, chúng ta không thể lui về chính sách đóng cửa, khớc từ giao lu, trao
đổi, đối thoại với bên ngoài. Trái lại với bản lĩnh dân tộc trong quá trình giao lu
SV. Phạm Thị Thu Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét