Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giá trị của dân ca quan họ trong đời sống tinh thần người Bắc Ninh

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vì vậy người Quan họ không thích, không chấp nhận sự thô kệch vụng về
trong ngôn ngữ. Người Quan họ rất coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã
trong mọi cử chỉ giao tiếp. Từ việc đỡ ô, đỡ nón khi đón bạn, nâng cơi
trầu mời bạn, nâng chén nước chén rượu đến dáng đi dáng đứng thế ngồi,
cái miệng, đôi mắt, tư thế khi chuyện trò cùng bạn… gần như đều có
chuẩn mực, thế này là phải, là duyên, thế kia là không phải, vô duyên.
Một chùm hoa bưởi đặt trong cơi trầu, một nhành hoa sói cài lên mái tóc
nép kín vào vành khăn, hoặc dấu trong khăn tay… vốn là sự tinh tế của
người Quan họ.
Khi nhắc đến Quan họ không thể không kể đến các hội hè, đặc biệt
trong đó là hội Lim. Hội Lim mở ngày 13 tháng Giêng âm lịch trùng với
ngày hội chợ đầu năm. Lúc này là thời gian tốt nhất để mở hội, vì hội có
trăng, một số hội đã mở lấy đà mọi người vừa ăn tết xong công việc đồng
áng, bán buôn đang rỗi rãi, giao thông thuận lợi.
Chùa Lim được làm từ hồi nào không rõ. Theo truyền thuyết có một
người đàn bà tên là Bà Mụ ả, người Duệ Đông đến tu ở đó. Bà tu đắc đạo
nên có phép hô phong hoàn vũ. Mỗi khi hạn hán, nhân dân thường cầu bà
làm mưa. Do bà linh ứng như thế nên làng Lim tôn bà làm Thành Hoàng
làng và ngày hội Chùa Lim tổ chức vào ngày mất của bà. Bà vừa là Thần
làng, vừa là người nhà chùa có phép làm mưa, gió, sấm, chớp, có phần
giống như hành trạng và thần tích của bà Man Nương (chùa Dâu).
Trong Hội Lim có hai hình thức tổ chức hát: Một là hát trong nhà
của những người có kết nghĩa. Hai là hát ngoài đồi của những người đếm
xem hội góp vui và tìm bạn. Gái trai đi hội đều mặc những bộ quần áo đẹp
đẽ nhất, những người hát Quan họ lại có quần áo đặc biệt như là lễ phục
riêng. Giữa trời đất mùa Xuân mưa phùn gió nhẹ, cây cối đâm chồi nảy
lộc, từ xa nhìn vào đám hội ăn mặc đủ màu sắc tươi dói, trông rất rực rỡ.
Các trò đua vui, đua tài tổ chức giữa đồi Lim như: Đánh đu, đánh cờ
người, trọi chim, trọi gà, bắt vịt… làm không khí ngày hội từng bừng náo
nức.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hội thứ hai tiêu biểu được kể đến là Hội Ó. (làng Ó tên chữ là Xuân
Ổ nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh). Chợ Ó có cái sầm uất còn vọng lại
trong bài hát Quan họ cổ truyền theo điệu hát Đúm như sau:
“Mùng năm chợ ó
Quan họ dồn về
Hội vui lắm lắm
Chưa kịp đi tắm
Chưa kịp gội đầu
Trầu chửa kịp têm
Cau chưa kịp bổ
Miếng lành miếng sổ
Miếng lại quên vôi
Người có yêu tôi
Thì người cầm lấy…”
Bài hát tả lại ngày hội Quan họ ở chợ Ó. Hội vui quá, hấp dẫn qúa
đến nỗi các cô gái Quan họ lú lẫn vội vàng đến không kịp cả têm trầu.
Cái chợ Ó ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch đó, các cụ gọi là ngày
hội chợ bán gà (có sách còn gọi là chợ Âm dương). Tại sao lại gọi là hội
chợ bán gà? Làng Ó có tục tế gà đen cho Thành Hoàng làng. Gà đen nhà
nào được chọn làm vật tế, nhà đó sẽ được hưởng nhiều may mắn trong
năm ấy. Các gia đình trong làng và các làng bên cạnh thi nhau đem gà đen
đến chợ bán với giá rẻ để mong gà của mình được làm vật tế. Chợ hợp
vào lúc chạng vạng tối. đấy là khoảng thời gian giao tiếp giữa ngày và
đêm, theo quan niệm dân gian đó là lúc âm dương giao tiếp, lúc trao đổi
giữa người và ma, giữa cõi âm và dương gian. Vì vậy gọi là chợ Âm
dương. Lúc chợ họp cũng là lúc tất cả mọi vật trên đời chìm vào màn
đêm. Gà đen sẽ thâm nhập được vào sâu thế giới cõi âm để xem xét điều
lành, điều dữ về báo lại với Thành Hoàng, Thành Hoàng sẽ liệu mà phù
hộ độ trì cho dân chúng. Đặc biệt trong ngày chợ này, ngoài gà ra, ai có
đồ vật gì cũ kỹ thì đem bán, bán với giá rẻ, người mua không mặc cả,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
người bán không đếm tiền. Người bán trao đồ vật nói số tiền. Người mua
im lặng mở dây tiền đồng rút ra một đoạn ước chừng bỏ vào tay người
bán. Người bán lặng lẽ bỏ tiền vào bị cói. Cuộc trao đổi thầm lặng ấy
người ta gọi là “Mua may bán rủi”. Đứng xa chỉ nhìn thấy những bóng
đen đi lại và nghe tiếng xầm xì. Cuộc mua bán diễn ra nhanh chóng.
Người ta quan niệm rằng mua bán như thế ma sẽ họp chung với người, hai
bên trao đổi hàng hoá cho nhau. Trong khi mua bán nhất định sẽ xảy ra
người hơn kẻ thiệt. Nhưng người thiệt lại chính là kẻ được hơn vì họ đã
có dịp làm phúc. Mọi người đều muốn làm phúc, nhất là làm phúc cho cõi
âm. Cho nên cuối cùng mọi người đều thanh thản vì sự thiệt, mà cũng vui
vẻ vì sự hơn. Có lẽ đó là dấu vết của một ký ức thời nguyên thuỷ về việc
mua bán, nó phù hợp với quan niệm chợ Âm dương và việc mua bán ở các
chợ với quan niệm “may - rủi” như thế này cũng có tổ chức ở nhiều nơi
khác.
Khoảng 7 giờ đến 7 giờ 30 phút tối thì chợ tan. Từng tốp con trai
con gái đã rủ nhau, chờ sẵn từ lâu. Các lều hàng trong chợ hôm đó bỗng
đỏ đèn lên (hàng ngày không có) và xuất hiện những bà cụ bán hàng trầu
nước. Thế là buổi hát Quan họ chợ Ó bắt đầu. Con trai, con gái hát mời
nhau vào uống nước xơi trầu. Bà bán hàng cũng hát mời trai gái hát vui
xuân cho dân làng khang thịnh. Trai gái túm tụm ngồi hát trong các hàng
nước. Trong quán không đủ chỗ thì một số tốp nhường bạn quán nước, rủ
nhau ra trải chiếu giữa chợ, một số đi xa hơn ra hát ở các cánh đồng. Hát
Quan họ chợ Ó kéo dài suốt đêm hôm ấy tới sáng mùng 6 Quan họ dã bạn
kéo sang hội khác.
2. Một vài truyền thuyết về nguồn gốc Quan họ
+ Việt Báo số 1059 ngày 21/2/1940, Nguyễn Duy Kiện có ghi lại
một truyền thuyết như sau: “ Đã lâu lắm từ thời thượng cổ nhân dân hai
làng Lũng Giang và Tam Sơn giao hảo với nhau rất thân mật. Hễ làng nào
có việc quan, hôn, tang, tế… thì báo cho làng kia biết để dân làng cử vài
người làm đại biểu đem đồ lễ sang hoặc biếu hoặc mừng nhà hữu sự. Làng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tam Sơn hàng năm cứ tháng giêng có đám lễ vào đám thờ cúng Thành
Hoàng, trong làng mở hội. Các cụ bên Lũng Giang sang chơi. Sáng ngày
13 tháng Giêng, họ họp độ năm, bẩy cụ ông, năm, bẩy cụ bà và một số
đông nam nữ biết hát Quan họ kéo sang Tam Sơn dự hội. Bên Tam Sơn
cũng cử một số người ra phù tiếp bạn. Sau khi đã ngôi trên dưới thứ tự tại
đình thì bắt đầu hát. Trai bên này hát, gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngồi
nghe. Từ thuở ban sơ cổ đại, hai làng cứ theo tục này mà di truyền. Đó
cũng là nguồn gốc của hát Quan họ”.
+ Lê Văn Hảo trích trong “Bắc Ninh tỉnh khảo dị” (bản viết tay, thư
viện Paris, tập 1, quyển 5) một đoạn như sau: Làng Viêm Xá kết nghĩa với
làng Hoài Bão. Viêm Xá mở hội thờ thần vào mùng 4 tháng giêng và
mùng 10 tháng 8 âm lịch. Mỗi lần có hội Viêm Xá mời một đoàn trai Hoài
Bão sang. Sau khi tế lễ song thì tổ chức ca hát. Bên Viêm Xá toàn nữ, bên
Hoài Bão toàn nam. Trai gái hai làng hát đối đáp với nhau. Dân Viêm Xá
quan niệm rằng năm nào làng không cử hành như vậy thì trong làng sẽ
xảy ra nhiều sự bất an, người - vật bị ốm, mùa màng thất bát, buôn thua
bán lỗ, dân làng cãi cọ nhau, trai gái sinh ra tật hư nết xấu. Vì vậy mà có
hát Quan họ.
Truyền thuyết này đưa ta lên một thời kỳ xa xưa hơn. Quan niệm về
việc cần thiết phải tổ chức cho trai gái giao duyên để cầu “người an vật
thịnh” còn phổ biến trên những miền đất cổ như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
trong các tục thờ Mẹ Lúa. Người ta cho rằng: Cây cối muốn tươi tốt phải
có âm dương hoà hợp. Muốn có âm dương hoà hợp thì trai gái phải giao
hoà để cho mùa màng bắt chước. Tín ngưỡng nông nghiệp này được
thuyết minh bằng hiện tượng Viêm Xá toàn nữ, Hoài Bão toàn nam, vì
ngày đó nhớ Thành Hoàng Viêm Xá là vua bà - Một nhân vật lưỡng tính
vừa nam vừa nữ, tự mình có thể nảy nở sinh sôi.
Những truyền thuyết do nhóm Lưu Khâm sưu tầm:
+ Ông Tập ở Viêm Xá (Võ Giàng nay Yên Phong Bắc Ninh) cho
biết: Cách đây 12 đời, có hai người làm quan thị vệ ở trong triều, một
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
người quê ở Diềm, một người quê ở Bịu. Hiện nay ở Diềm còn di tích
lăng mộ, ở Bịu không còn. Hồi làm quan hai người có chơi với nhau, đến
khi về hưu thì giao ước kết bạn đi lại, nếu ở làng ai có vui như cưới xin,
khao lão thì mời cả hai họ về dự. Hồi đó, nhân dân vẫn có hát đúm nhưng
từ khi hai họ này kết bạn thì người ta đem những câu hát đúm vào để ca
hát trong những ngày vui đó. Từ đấy lưu truyền tục lệ này cứ hội Diềm
tháng 8, hội Bịu tháng 1 người ta tụ họp ngồi xung quanh một ngọn đèn
lớn ca hát và Quan họ do đó sinh tên (hai họ nhà quan hát với nhau). Từ
đấy gọi Quan họ thay thế cho hát Đúm.
+ Ông Thanh ở Bịu Sim kể: Cách đây gần 300 năm ở Bịu Sim có
trạng Bịu vinh quy về làng, chiêu dân lập ấp. Những năm được mùa, nhân
dân hát đúm với nhau, nhưng vì ở gần cụ Trạng nên đổi tên hát đúm thành
Quan họ cho thanh lịch và chắc cũng để vừa lòng cụ Trang.
+ Ông Ngậm ở Châu Khê kể: Ngày xưa có cô Tuấn Khanh giả trai đi
học, kết bạn với Tải Chung. Tải Chung được đi thi, còn Tuấn Khanh là nữ
phải về quê, nhưng hai người vẫn giữ tình bạn cũ. Họ đi lại, chơi bời, ca
hát, hoạ thơ… với nhau. Dần dần lưu truyền những câu hát của họ gọi là
Quan họ.
+ Anh Trương Chi “ Người thì thật xấu, hát thì thật hay” là một dân
chài trên dòng Tiêu Tương và sông Cầu. Mỵ Châu là con quan mê giọng
hát của Trương Chi, còn Trương Chi tương tư Mỵ Châu về nhan sắc. Anh
lái đò đặt ra những câu hát “Tương tư mong nhớ”, những câu hát đó
truyền đến ngày nay thành Quan họ.
+ Cụ Tư La ở Thị Cầu kể: Thời nhà Lý có Lý Công Uẩn chạy giặc
(giặc gì không rõ) qua vùng Bắc Ninh. Nhân dân ra hát Đúm, quân giặc
dừng lại nghe nên Lý Công Uẩn chạy thoát. Từ đấy hát Đúm gọi là hát
Quan họ.
+ Truyền thuyết cho Nguyễn Đình Phúc sưu tầm ở Bò Sơn: Có một
cô gái lấy củi ở trên núi Chè, cô cất tiếng hát: “Tay cầm bán nguyệt xênh
xang - Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta”, lúc ấy chúa Trịnh đang đi kinh
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lý trên đường dừng lại nghe tiếng hát cảm phục người đẹp lại có khí
phách anh hùng, chúa lấy làm vợ gọi là bà Chúa Chè. Bà chúa Chè tức
Đặng Thị Huệ. Câu hát hay làm cho quan phải dừng lại nên gọi là Quan
họ.
Những truyền thuyết trên đều pha trộn tính chất truyền kì, qua đó
hiểu được tâm lý và triết lý dân gian của nhân dân và những điều kiện
giúp Quan họ có khả năng lớn mạnh trên mảnh đất xinh đẹp này của Tổ
quốc. Về nguồn gốc phát sinh Quan họ tập thể tác giả cuốn “Dân ca Quan
họ Bắc Ninh” cho rằng: Đây là những tiếng hát của “những người lao
động đầu tiên trên dải đất Bắc Ninh” “hát trong lao động và sau lao
động”. Hoặc như tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết trước sau vẫn cho rằng:
Quan họ là hát tình yêu.
Quan họ là kiến giải của nhân dân Bắc Ninh về sự kết hợp hai vấn
đề cần thiết cho mình: Nghĩa tình và chúc tụng. Điểm lại những truyền
thuyết trên ta thấy: Truyền thuyết nói rằng Quan họ có từ thời thượng cổ
thì do vua bà (tức Thành Hoàng làng) sinh ra, mà địa điểm hát Quan họ
ban đầu ấy là ở đồi, ở đình. Dựng lên như vậy cốt để tăng uy tín cho Quan
họ. Vì Quan họ càng lớn mạnh, càng phát triển các nghệ nhân càng phải
chứng minh cho lẽ tồn tại cuả nó, không có một sự tích đủ tin cậy nào về
nguồn gốc và dòng giõi cho nó thì người ta vẫn thấy áy náy. Nhưng không
dễ bịa đặt nếu không dựa vào một thực tế nào có liên quan đến lối chơi
Quan họ. Nhất là các nghệ nhân Quan họ chủ trương rằng lối hát của mình
là “cầu may, cầu phúc, cầu thịnh” là không tiến hành Quan họ thì “người
ốm, vật chết” và cấm việc luyến ái nam nữ (tục cấm Quan họ không lấy
nhau). Quan họ cương quyết bảo vệ niềm tin ấy. Những truyền thuyết đã
làm tăng uy tín của Quan họ khi đặt nó vào vai trò lịch sử lớn lao: Cứu
vua Lý thoát khỏi tay giặc. Quan họ là do vua Lý sáng tạo ra, là được
truyền lại từ người con gái Thổ Lỗi - Ỷ Lan - mà dân phong là “Quan Âm
Nữ”, ấy thế là những người quan tâm tới số phận lịch sử của Quan họ có
được vài nét làm cơ sở để tạo nên hàng chục truyền thuyết đã kể. Trong
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khi đó các dân ca khác quá lắm cũng chỉ 3, 4 truyền thuyết. Có dân ca chỉ
có một, có dân ca không có truyền thuyết nào giải thích về nguồn gốc của
mình.
3. Tình yêu cuộc sống là cơ sở của trữ tình trong Quan họ
Cuộc sống thời Lê làm cho dân ca Quan họ phát triển gấp bội, trở
thành một thứ dân ca điển hình của xứ Kinh Bắc. Sự thay đổi trong tâm
hồn nghệ nhân, sự phá vỡ lối hát thờ cúng, phá vỡ lề lối nghiêm ngặt,
phục hồi lối tổ chức trước kia và do đó nẩy sinh một kiểu tổ chức nhóm
vừa tự do, vừa quy củ đưa dân ca trở về với sinh hoạt thường ngày như
hát khi đi chợ, lúc đi đường, trên đồi, trên thuyền trong chùa, trong nhà,
hát vào các đám ma chay, cưới xin, đình đám, khao vọng.
Nếu gạt bỏ môi trường sống và tình huống tình cảm lúc diễn xướng
thì câu hát lúc đầu vẫn còn lại một giá trị. Nhưng khi đem nó sử dụng vào
một trường hợp hát cụ thể thì nó lại có nhiều giá trị khác không tuỳ thuộc
vào chỉ bản thân nó. Nghĩa là khi người ta không đem nó ra sử dụng để
đối đáp thì câu hát vẫn tồn tại trong tâm hồn nghệ nhân, và khi tính chất
hữu ích riêng biệt của mỗi câu hát bị quên đi thì vai trò người sáng tạo ra
câu hát cũng biến đi theo. Tất cả mọi câu hát chỉ còn được coi như là vốn
sáng tạo tinh thần chung của xã hội. Tất cả các sản phẩm tinh thần ấy
càng ngày càng chồng chất lên nhau, lớp nọ xếp lên lớp kia, câu mới đè
lên câu cũ và nằm trong cái gọi là cảm thụ nghệ thuật. Cảm thụ nghệ thuật
biểu hiện ra là trong sinh hoạt tinh thần trí tuệ nhiều người đã được kết
tinh lại trong từng cá nhân. Do đó hiệu quả nghệ thuật biểu hiện trong
sinh hoạt cá nhân lại góp phần vào chất lượng sáng tác, vào nội dung và
hình thức tác phẩm. Cho nên dù sao đi nữa bài ca Quan họ vẫn là tài sản
tập thể, và nó phải do nhiều thế hệ tạo nên.
Sự lăn lộn với nghệ thuật của nghệ nhân tạo cho nghệ nhân một vốn
liếng để hoạt động văn nghệ. Còn những câu hát được cá nhân sáng tác
nếu được nhiều người sử dụng thì đều có giá trị xã hội. Kết quả là sau một
thời gian sinh hoạt dân ca tất cả các câu hát hay trong vùng đó đều được
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sửa lại và mang vào trong dân ca ấy và được sắp xếp vào trong danh mục
dân ca theo thứ tự chức năng xã hội của câu hát. Ví như câu “Giã bạn” có
chức năng gợi lên một tình cảm lưu luyến thiết tha. Câu chào hỏi gợi lên
một tinh thần trọng người mến khách. Do đó những câu hát ấy chỉ được
hát lên trong khi người hát có nhu cầu đó.
Trong một buổi hát trước hết người ta mời Quan họ bạn sang đình
hát lễ thờ thì Quan họ bạn buộc phải hát chúc thánh. Sau khi chúc tụng
xong thì buộc phải xin thánh phù hộ cho dân chúng. Vì việc đó đã thành
lệ, nên hát Chúc đã ra đời và hình thành như một chủ đề lớn trong dân ca
Quan họ. Nội dung lời ca và âm nhạc trong chủ đề chúc tụng này nhằm
thực hiện một nghi thức giao tế cần thiết của đôi dân. Cho nên để tránh bị
bắt bẻ, lời ca phải được chuẩn bị trước ít nhất cũng dự định trước nội
dung chúc tụng và làn điệu hát cũng cần như thế:
“Chúc mừng tổ ấm gia tiên
Mừng cho anh chị kết duyên Châu Trần…
Hôm nay ngày tốt vinh hoa
Mừng cho anh chị thật là đẹp đôi”.
(Mừng đám cưới)
Khác với lối hát Chúc, lối hát giao duyên cần phải được hát linh
hoạt hơn. Vì vậy cần tạo nên cho nghệ nhân không khí thoải mái, tự do
biểu diễn tài năng. Đáp ứng yêu cầu ấy chỉ có thể là lối hát đối đáp. Chỉ
có đối đáp mới đáp ứng được chức năng xã hội cần thiết là trao đổi tình
cảm. Tình cảm là một yếu tố tâm lý tinh vi, cũng như giữ gìn nghĩa cả
giữa “đôi dân” với nhau không chỉ do một quy định của xã hội, của tục
luật mà xong. Trong đối đáp tuỳ theo tình cảm của đôi bên, do sự diễn
biến cụ thể trong buổi hát mà lựa lời lưu ý sao cho thích hợp để trao đổi
và củng cố cho nghĩa tình ngày thêm bền chặt.
Như vậy là chúng ta đã thấy tính thực hành xã hội của câu hát và
thấy là phải do một nhu cầu xã hội, một chức năng xã hội cần thiết thì câu
hát mới được ra đời mới tồn tại và phát triển được.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Công việc sáng tác và diễn xướng là những khâu tự nhiên trong sinh
hoạt dân ca. Hàng ngàn năm nay các nghệ nhân dân gian đã làm như vậy,
cứ mặc nhiên ứng tác và diễn xướng. Đến nay Quan họ đã có hàng nghìn
lời ca, hàng trăm làn hát. Đó là kết quả lâu dài của sự lao động từ lối
xướng xô đối ứng. Còn lối xướng xô đối ứng thì bắt nguồn từ lao động tập
thể. Trong lao động tập thể con người đã có một lói sinh hoạt văn nghệ
tương ứng và còn những câu hát để phục vụ lao động. Tính chất thực hành
xã hội của câu hát được nhận thức trước tính chất thẩm mỹ. Cái đẹp cũng
là một thuộc tính cố hữu của loài người, lối hát xô xướng cũng phát triển
theo xu hướng của cái đẹp. Từ lối âm nhạc nặng về tiết tấu cốt để giữ nhịp
cho lao động tập thể đựơc nâng lên thành âm nhạc giai điệu thể hiện tính
chất phức tạp hơn. Từ lối sinh hoạt tập thể, cá nhân con người cũng có
dần ý thức về mình. Câu hát khi ra đời thì không phụ thuộc vào người
sáng tác hoặc phương thức diễn xướng nữa nên nó được tách ra để phục
vụ cho nhu cầu mới của xã hội chuyển tính chất thực hành của nó vào
trong mọi sinh hoạt thường ngày. Lúc cái chết làm nảy sinh sự sợ hãi, nảy
sinh tín ngưỡng thần bảo hộ cá nhân, thần bảo hộ làng xóm, thì lối hát đối
ứng cũng đựơc dùng để thực hiện nghi thức đố. Lối hát đối ứng ấy trước
kia vốn là lối hát trong lao động và cũng là sử dụng cho việc phục vụ nội
dung chúc tụng. Đặc trưng phong cách quan trọng nhất của dân ca Quan
họ là việc thi vị hoá các chi tiết sinh hoạt.
Trong dân ca Quan họ có hai lối diễn xướng: Đối ứng và đối đáp.
- Đối ứng là theo qui định chung của tiến hành nghi lễ - Nghệ nhân
phải tuân thủ một lề lối nhất định. Như vậy, hát đối ứng rất ít có điều kiện
phát triển và sửa chữa câu hát do đó là bằng chứng của lối hát nghi lễ.
Thoạt đầu, giữa hai Quan họ có một đoạn hát đối ứng, như vậy là đã
tiến hành giao lưu tình cảm. Từ quan hệ tương hỗ ban đầu ấy, họ xúc cảm
và chuyển sang quan hệ gắn bó hơn và sau đó thì chuyển sang chặng hát
đối đáp.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Mỗi “anh hai, chị hai” đã học thuộc một số câu hát để ít nhất cũng
đủ để vượt qua chặng đầu. Đó là số vốn tập thể cung cấp cho. Ngoài ra
trong khi giao thiệp trong khi hát, các “anh hai, chị hai” phải ứng tác,
phải vận dụng. Muốn vậy họ phải là người nhạy cảm và có khả năng ứng
tác. Nếu chỉ dựa vao vốn có sẵn thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của
buổi hát. Buổi hát sẽ mất hay. Do đó, chính là để đáp ứng tình cảm mà
nghệ nhân phải cố gắng hết sức để ứng tác ngay những câu hát có ý nghĩa,
phù hợp nhất với tình cảm của mình. Do đó nếu lời chưa hay lắm thì phải
cần đên nhạc, đến thanh. Nếu lời, nhạc, thanh vẫn chưa đạt ý mình thì vận
dụng cả các cơ quan góp phần thể hiện như đường gân, thớ thịt trên mặt,
cử chỉ tay, chân, mắt… Vậy là trong hát đối đáp, nghệ nhân đã bộc lộ hết
số vốn văn nghệ, bộc lộ tư cách, phẩm chất cá nhân, lối tư duy và óc sáng
tạo nghệ thuật.
Đó là xét về sáng tác và diễn xướng với người thưởng thức, đối đáp
cũng dựa trên hiệu quả đặc biệt. Hơn bất cứ một lối thưởng thức văn nghệ
nào, người nghe cũng phải chủ động và nhạy cảm. Đó là một sự thưởng
thức tích cực nhất. Có thể nói rằng, nghệ nhân muốn hát thật hay để thu
được hiệu quả nghệ thuật tốt. Theo ý nghĩa đó, việc diễn xướng là có tính
chất xã hội.
Những lời ca tình nghĩa thiết tha.
Trong dân ca, lời thường đi với nhạc, lời với nhạc cùng hiện ra đồng
thời trong diễn xướng. Lời dựa vào nhạc mà hiện ra, nhạc dựa vào lời mà
biểu hiện. Thế nhưng, với tính chất tích ứng, kịp thời với hoàn cảnh nên
lời thương thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, còn nhạc thì cố định hơn
lời. Hiện tượng này có thể nói là bình cũ rượi mới. Vẫn làn điệu quen
thuộc vủa mọi người, nhưng tuý từng hoàn cảnh mà đưa lời vào cho thích
hợp.
Hát Quan họ đòi hỏi một trình độ đa dạng về thể thơ. Các thể thơ
trong dân ca Quan họ tuy còn nhiều bài theo thể 4 chữ, đó là những bài
hát Đúm và có cả giọng Hừ la nhưng phần lớn là những thể thơ rất linh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét