Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Tình hình nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Nguyên nhân và ảnh hưởng

Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
những thể nhân hoặc pháp nhân cư trú ở quốc gia đang được xem xét lâu hơn
một năm, không phụ thuộc vào quốc tịch của họ. Tuy nhiên các nhà ngoại
giao, các chuyên gia quân sự ở bên ngoài lãnh thổ của họ cũng như các tổ
chức quốc tế không phải là người cư trú của nước nơi họ đang làm việc.
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm nhiều tài khoản khác nhau, biểu
thị sự di chuyển giữa các dòng hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ và tài sản tài chính
giữa những người cư trú và những người không cư trú. Theo truyền thống,
cán cân thanh toán quốc tế bao gồm hai tài khoản chính : cán cân tài khoảng
vãng lai (gọi tắt là tài khoản vãng lai - current account) và cán cân tài khoản
vốn (gọi tắt là tài khoản vốn - capital account).
1.3. Cán cân tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai (current account) ghi nhận tất cả các giao dịch có
liên quan đến việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ, thu nhập từ đầu tư và dịch
chuyển đơn phương giữa những người cư trú và những người không cư trú.
Tài khoản vãng lai bao gồm các hạng mục như xuất khẩu, nhập khẩu và dịch
chuyển đơn phương ròng.
1.4. Cán cân thương mại
Cán cân thương mại (balance of trade) là một trong những vấn đề cơ
bản của kinh tế vĩ mô, là một bộ phận cấu thành của cán cân thanh toán và
được phản ánh cụ thể trong cán cân tài khoản vãng lai. Về mặt kỹ thuật, cán
cân thương mại là cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Cán cân thương mại là bảng đối chiếu giữa tổng giá trị xuất khẩu hàng
hóa (thường được tính theo giá FOB) với tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa
(thường được tính theo giá CIF) của một nước với nước ngoài trong một thời
kỳ xác định, thường là một năm.
Về ý nghĩa kinh tế, tình trạng của cán cân thương mại (thâm hụt hay
thặng dư) thể hiện trạng thái của nền kinh tế. Thứ nhất, cán cân thương mại
cung cấp những thông tin liên quan đến cung và cầu tiền tệ của một quốc gia.
Thứ hai, dữ liệu trên cán cân thương mại có thể được sử dụng để đánh giá khả
5
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của một nước. Thứ ba, thâm hụt hay
thặng dự cán cân thương mại có thể làm tăng khoản nợ nước ngoài hoặc gia
tăng mức dự trữ ngoại tệ, tức là thể hiện mức độ an toàn hoặc bất ổn của nền
kinh tế. Thứ tư, thâm hụt hay thặng dư cán cân thương mại phản ứng hành vi
tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế. Như vậy, cán cân thương mại
thể hiện một cách khá tổng quát các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô như
chính sách thương mại, chính sách tiền tệ (tỷ giá, lãi suất), chính sách cơ cấu,
chính sách đầu tư và tiết kiệm, chính sách cạnh tranh.
1.5. Nhập siêu (thâm hụt cán cân thương mại)
Nhập siêu (Trade deficit) hay tình trạng thâm hụt cán cân thương mại,
là sự mất cân đối giữa nhập khẩu và xuất khẩu, tức là nhập khẩu vượt quá
xuất khẩu. Nếu tình trạng này duy trì trong dài hạn và vượt quá mức độ cho
phép có thể ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai và gây nên những biến
động bất lợi đối với nền kinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc
làm và ở mức trầm trọng có thể gây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ.
Đối với các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa và mở
cửa hội nhập kinh tế, thâm hụt cán cân thương mại là một hiện tượng khá phổ
biến vì yêu cầu nhập khẩu rất lớn trong khi khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế còn hạn chế, do đó mức tăng trưởng xuất khẩu trong ngắn hạn không thể bù
đắp thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên
và dai dẳng cho thấy, sự yếu kém trong điều tiết kinh tế vĩ mô và hậu quả đối
với nền kinh tế rất trầm trọng, chẳng hạn như ở Mexico trong thập kỷ 80 và
Braxin, Achentina trong những năm gần đây. Mức thâm hụt cán cân thương
mại sẽ được cải thiện nếu như luồng nhập khẩu hiện tại tạo mức tăng trưởng
xuất khẩu bền vững trong tương lai (trường hợp của các NICs châu Á, đặc
biệt là Singapore và Hàn Quốc trong thập kỷ 70 của thế kỷ trước). Thông
thường nhập siêu của một nước phải bù đắp bởi nguồn dự trữ ngoại tệ của
chính phủ hoặc các khoản vay khác.
6
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
2. Mối quan hệ và ảnh hưởng của nhập siêu tới các biến số kinh tế
vĩ mô
2.1. Nhập siêu và tỷ giá hối đoái
Cán cân thương mại cung cấp những thông tin liên quan đến cung cầu
tiền tệ của một quốc gia, cụ thể là thể hiện sự thay đổi tỷ giá hối đoái của
đồng nội tệ so với ngoại tệ.
Khi một nước nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu (có nhập siêu), nghĩa là
cung đồng tiền quốc gia đó có khuynh hướng vượt cầu trên thị trường hối
đoái nếu các yếu tố khác không thay đổi. Và như vậy, có thể suy đoán rằng
đồng tiền nội tệ của nước đó sẽ bị sức ép giảm giá so với các đồng tiền khác.
Khi đồng tiền của một quốc gia giảm giá, sẽ làm tăng giá trị nhập khẩu
tính bằng đồng tiền nước này. Giá tăng nên với cùng một số tiền không đổi
chi cho nhập khẩu, khối lượng nhập khẩu sẽ phải giảm. Tuy số lượng nhập
khẩu giảm, nhưng giá trị nhập khẩu có thể tăng. Sau khi đồng tiền giảm giá,
chi tiêu bằng đồng nội tệ cho nhập khẩu có thể tăng, song do giá xuất khẩu
tính bằng ngoại tệ giảm đã kích thích tăng khối lượng xuất khẩu, do đó không
làm cho cán cân thương mại xấu đi. Tuy giá nhập khẩu tăng, nhưng việc điều
chỉnh hàng thay thế cần phải mất một thời gian nhất định. Do đó có thẻ nói
rằng, cầu trong ngắn hạn có độ giãn thấp hơn cầu trong dài hạn. Điều này lại
càng đúng với đường cầu nhập khẩu, bởi lẽ đường cầu nhập khẩu được bắt
nguồn từ đường cung và đường cầu hàng hóa của một nước, mà đường cung
và đường cầu hàng hóa của một nước thường không co giãn trong ngắn hạn,
do đó, khoảng cách giữa đường cung và đường cầu càng không co giãn trong
ngắn hạn. Vì vậy, sau khi đồng tiền giảm giá, tuy giá hàng hóa nhập khẩu
tăng, nhưng người tiêu dùng trong nước vẫn tiếp tục mua hàng nhập khẩu, bởi
2 lý do: (1) Người tiêu dùng vẫn chưa điều chỉnh ngay việc ưu tiên mua hàng
nội thay vì mua hàng nhập khẩu (vì đường cầu nhập khẩu là đường không co
giãn) và (2) Các nhà sản xuất trong nước cần có thời gian nhất định mới sản
7
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
xuất được hàng thay thế nhập khẩu (vì đường cung cũng là đường không co
giãn). Như vậy, chỉ sau khi nhà sản xuất trong nước thực sự cung cấp hàng
thay thế nhập khẩu và người tiêu dùng quyết định ưu tiên dùng hàng nội địa
thay vì mua hàng ngoại thì cầu về nhập khẩu lúc này mới giảm.
Tương tự như vậy, sau khi đồng tiền giảm giá, việc mở rộng xuất khẩu
chỉ trở thành hiện thực khi các nhà sản xuất đã sản xuất được nhiều hơn hàng
hóa để xuất khẩu và người tiêu dùng nước ngoài đã thực sự chuyển hướng ưu
tiên mua các hàng hóa trong nước.
Như vậy, nhập siêu có tác động nhất định tới tỷ giá hối đoái, làm đồng
tiền nội tệ của một nước có khuynh hướng giảm giá, tuy nhiên trong dài hạn
sự giảm giá của đồng nội tệ không có tác động xấu tới cán cân thương mại, do
có tác dụng kích thích sản xuất hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu.
2.2. Nhập siêu và khả năng cạnh tranh quốc gia trên thị trường quốc tế
Khi một quốc gia thường xuyên nhập siêu trong thời gian dài, nghĩa là
cán cân thương mại của quốc gia đó liên tục bị thâm hụt, dữ liệu này báo hiệu
các ngành sản xuất trong nước thiếu khả năng cạnh tranh quốc tế. Có nghĩa là
tăng trưởng xuất khẩu không thể bù đắp được khoản nhập khẩu. Ngoại tệ thu
về từ hoạt động xuất khẩu không đủ để chi cho việc nhập khẩu. Điều này bắt
buộc nhà nước phải huy động những nguồn tài chính khác để chi cho nhập
khẩu : dự trữ ngoại tệ, kiều hối
Tuy nhiên trong dài hạn, nếu một quốc gia chấp nhận nhập siêu máy
móc, nguyên vật liệu ở thời điểm hiện tại để đầu tư cho sản xuất hàng xuất
khẩu trong tương lai một cách hợp lý thì có thể sẽ đạt được thặng dư thương
mại, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên trường quốc tế. Các
quốc gia NICs đã áp dụng biện pháp này trong những năm 70, 80 của thế kỷ
trước và đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong thương mại quốc tế
cũng như tăng trưởng kinh tế.
8
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
2.3. Nhập siêu và cán cân tài khoảng vãng lai, nợ nước ngoài, và ổn
định kinh tế vĩ mô
Đây là ảnh hưởng lớn nhất của nhập siêu đối với nền kinh tế, và dựa
vào đó người ta có thể điều chỉnh cán cân thương mại nhằm đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô.
Đối với các nước đang phát triển, khi xuất khẩu dịch vụ còn chiếm tỷ
trọng nhỏ bé trong tổng kim ngạch xuất khẩu, và các khoản chuyển giao còn
chưa đáng kể, thì sự thâm hụt của cán cân thương mại quyết định tình trạng
cán cân tài khoản vãng lai.
Nhập siêu thể hiện sự thâm hụt của cán cân tài khoản vãng lai. Để đánh
giá khả năng chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai, người ta thường sử
dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu và thu nhập quốc dân, chỉ số
nợ trên xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu trên tăng trưởng xuất khẩu, tỷ
lệ mức lãi suất trả nợ trên mức tăng xuất khẩu. Chẳng hạn, chỉ số nợ trên xuất
khẩu của một nước giảm dần theo thời gian phản ánh sự cải thiện cán cân tài
khoản vãng lai. Ngược lại, nếu chỉ số nợ trên xuất khẩu có xu hướng tăng,
điều này cho thấy tình trạng của cán cân tài khoản vãng lai đang xấu đi. WB
đưa ra chỉ số tuyệt đối là nếu chỉ số nợ lớn hơn 275%, tại thời điểm đó, một
nước đang ở trong tình trạng khủng hoảng nợ. Hoặc nếu mức tăng xuất khẩu
của một nước lớn hơn mức lãi suất trả nợ, nước đó có khả năng thanh toán các
khoản nợ mà không ảnh hưởng tới phát triển kinh tế.
Vì vậy, việc quản lý và kiểm soát nhập siêu trong một giới hạn hợp lý,
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô.
Như vậy, từ những phân tích tổng quan trên đây, có thể thấy rằng, sự
thâm hụt của cán cân thương mại hay nhập siêu, có mối quan hệ và ảnh hưởng
quan trọng tới các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái, khả năng cạnh
tranh quốc gia, cán cân tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán, hiệu quả đầu
tư Nhập siêu trong thời gian dài sẽ dẫn đến sự gia tăng các khoản nợ nước
ngoài, cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế, chính sách tiền tệ và đầu tư kém
9
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
hiệu quả. Vì vậy, việc quản lý nhập siêu đang trở thành một vấn đề thu hút
được sự quan tâm của các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô ở nhiều quốc gia trên
thế giới.
3. Các nhân tố tác động tới nhập siêu
3.1. Chính sách thương mại
Chính sách thương mại là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân
thương mại của một quốc gia. Điều chỉnh cán cân thương mại thường được
thực hiện thông qua các biện pháp như khuyến khích xuất khẩu, quản lý nhập
khẩu. Những điều chỉnh thương mại quan trọng là (i) chính sách thuế quan và
phi thuế quan, (ii) tham gia các hiệp định thương mại khu vực, song phương
và toàn cầu.
Theo các lý thuyết về thương mại quốc tế, các quốc gia buôn bán với
nhau hoặc vì họ khác biệt về các nguồn lực, về công nghệ hoặc vì khác biệt về
lợi ích kinh tế nhờ quy mô hoặc vì cả hai lý do đó. Trong bất kỳ môi trường
nào, cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo, thương mại luôn mang lại lợi
ích cho các nước tham gia và lợi ích này là tiềm tàng. Việc tiến hành thương
mại gây tác động lên phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư trong nội bộ
một nước và giữa các nước theo hướng một số người (hoặc nước) sẽ được lợi
từ thương mại, trong khi một số nước khác sẽ bị thiệt hại từ hoạt động này.
Đây chính là nền tảng để các chính phủ tham gia điều tiết hoạt động thương
mại thông qua việc ban hành các chính sách.
Chính sách thương mại là chính sách quốc gia dùng để phân biệt đối xử
với các nhà sản xuất nước ngoài và các nhà sản xuất nội địa. Nó bao gồm một
hệ thống hoàn chỉnh các luật lệ, quy định, các chính sách và các tập quán của
chính phủ có ảnh hưởng đến thương mại. Các công cụ chủ yếu của chính sách
thương mại bao gồm thuế quan nhập khẩn, hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp xuất
khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu về hàm lượng nội địa. Ngoài ra,
các chính phủ còn sử dụng một số công cụ khác nữa để tác động tới hoạt động
ngoại thương của mình như trợ cấp tín dụng xuất khẩu, các thủ tục hành
10
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
chính, tiêu chuẩn kỹ thuật Chúng có thể được phân chia làm hai loại là thuế
quan và phi thuế quan. Mục đích của các công cụ này là nhằm phân biệt đối
xử giữa các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài.
Điều tiết chính sách thương mại có ảnh hưởng tới tình trạng của nhập
siêu. Nếu chính sách thương mại có khuynh hướng khuyến khích xuất khẩu
và hạn chế nhập khẩu, sẽ góp phần làm hạn chế nhập siêu. Tuy nhiên, nếu
thực hiện chính sách hạn chế nhập khẩu không hợp lý, tuy có thể làm giảm
nhập siêu trong ngắn hạn, nhưng không tạo được động lực để sản xuất đáp
ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, vì vậy trong lâu dài có thể tác động xấu
tới nền kinh tế và gia tăng nhập siêu do hàng hóa sản xuất trong nước không
đủ để đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, việc áp dụng một chính sách thương mại hợp
lý không những góp phần làm cân bằng cán cân thương mại, và còn giúp thúc
đẩy năng lực sản xuất của nền kinh tế, tạo điều kiện để kinh tế tăng trưởng và
phát triển bền vững.
3.2. Chính sách đầu tư
Các chính sách và biện pháp liên quan đến đầu tư có ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp tới cán cân thương mại, do đó có tác động tới nhập siêu.
Trước hết, đầu tư liên quan tới nhập khẩu. Nhiều nghiên cứu định
lượng cho thấy nhập khẩu và đầu tư thường có mối liên hệ với nhau. Điều này
là bởi các nước đang phát triển không có và không tự sản xuất đủ các nguyên
liệu đầu vào cũng như các loại máy móc, thiết bị cần thiết để đầu tư cho sản
xuất. Tất nhiên, mức độ của mối quan hệ này đến đâu còn tùy thuộc vào mức
độ bảo hộ thương mại (ảnh hưởng tới việc hạn chế nhập khẩu) và chiến lược
đầu tư trong từng giai đoạn (tác động đến khả năng thay thế giữa hàng nội địa
và hàng nhập khẩu). Thông thường, hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến các quan hệ kinh tế nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng. Khi
các rào cản thương mại được dỡ bỏ, hoạt động đầu tư theo chiều sâu được
tăng cường, thì sự biến động của đầu tư, dưới sự chi phối của các lực lượng
11
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
thị trường, sẽ gây tác động nhất định đến nhập khẩu. Quan hệ giữa đầu tư và
nhập khẩu nhất định sẽ có sự thay đổi.
Đầu tư liên quan đến nhập khẩu, hiệu quả đầu tư liên quan đến khả
năng của hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu. Các luồng vốn đầu tư
gián tiếp hoặc nguồn viện trợ từ nước ngoài, kiều hối cũng ảnh hưởng tới cán
cân thương mại. Những yếu tố nêu trên có thể có ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp tới tình trạng thâm hụt của cán cân thương mại.
2
Trước hết, đầu tư trực tiếp (FDI) là bộ phận quan trọng của tài khoản
vốn. Việc gia tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài có tác dụng bù đắp thâm hụt
cán cân tài khoản vãng lai. Tăng đầu tư nước ngoài vào các ngành thay thế
nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu, do đó góp phần tăng xuất khẩu và hạn
chế nhập khẩu trong dài hạn, từ đó hạn chế nhập siêu. Tuy nhiên, đầu tư nước
ngoài tăng, cũng sẽ kéo theo tăng nhập khẩu. Nếu chính sách bảo hộ thiên
lệch đối với xuất khẩu sẽ làm thâm hụt cán cân thương mại. Hơn nữa, khi
luồng FDI vào (đặc biệt dưới dạng ngoại tệ) tăng lên, sẽ làm thay đổi tương
quan giữa cung và cầu ngoại tệ, nếu chính phủ không can thiệp, không có các
biện pháp chính sách nhằm cân bằng cung cầu thì điều này sẽ dẫn đến khuynh
hướng đồng nội tệ lên giá, qua đó hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhập
khẩu, làm phát sinh hoặc gia tăng nhập siêu.
Thứ hai, nguồn vốn vay (vay đầu tư và vay thương mại) nếu sử dụng
không hiệu quả như đầu tư vào các ngành thay thế nhập khẩu, các công trình
mang lại hiệu quả kinh tế thấp, mua sắm chính phủ, tiêu dùng sẽ làm trầm
trọng cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài vì chỉ số nợ/xuất khẩu có
xu hướng gia tăng và tỷ số giữa lãi suất phả trả các khoản nợ so với mức độ
tăng xuất khẩu cũng sẽ gia tăng, tác động xấu tới cán cân tài khoản vãng lai.
Thứ ba, chính sách đầu tư trong nước cũng ảnh hưởng tới hoạt động
xuất nhập khẩu, và tới mức nhập siêu. Đầu tư trong nước theo định hướng
xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu đều có tác động tới nhập siêu. Chẳng hạn,
2
Prema-chandra Athukorala, Đầu tư nước ngoài trực tiếp và xuất khẩu hàng Công nghiệp chế tạo: Cơ hội và
chiến lược, Dự án khuyến khích XK của Ngân hàng thế giới, Hà Nội, tháng 2, 2002.
12
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
việc xem nhẹ đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ làm tăng nhập khẩu
nguyên nhiên liệu, phụ liệu, do đó làm giảm khả năng cạnh tranh hàng xuất
khẩu, hạn chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trong thời gian qua.
Hiệu quả kinh tế thấp của các dự án đầu tư làm suy yếu khả năng cạnh tranh
của hàng xuất khẩu và hàng thay thế nhập khẩu do có mức chi phí cao hơn
mức quốc tế. Điều này làm cho việc quản lý và điều chỉnh nhập siêu trở nên
khó khăn, đặc biệt là trong dài hạn.
3.3. Chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá thường có ảnh hưởng quan trọng tới cán cân thương
mại của một nước. Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới
(WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thường khuyến nghị phá giá đồng nội tệ
khi các nước gặp khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế với lập luận cho
rằng, phá giá sẽ làm tăng giá trong nước của hàng nhập khẩu và giảm giá
ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó. Cả hai tác động này đều cải
thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước. Các nguồn lực sẽ được thu
hút vào các ngành sản xuất nội địa mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu quả
hơn so với hàng nhập khẩu và nguồn lực cũng sẽ được thu hút vào các ngành
xuất khẩu mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn trên các thị trường
quốc tế. Kết quả là, xuất khẩu tăng lên và nhập khẩu giảm đi. Cả hai điều này
đều tác động tích cực tới việc hạn chế mức thâm hụt thương mại của quốc gia
đó.
3
Tuy nhiên, có một số điểm cần chú ý về tác động của phá giá tới cán
cân thương mại:
- Sự chậm trễ trong phản ứng của người tiêu dùng. Cần phải có thời
gian để người tiêu dùng ở cả nước phá giá lẫn thế giới bên ngoài điều chỉnh
hành vi mua hàng trước môi trường cạnh tranh đã thay đổi. Chuyển từ tiêu
dùng các hàng nhập khẩu sang các hàng sản xuất trong nước nhất định cần
phải có thời gian vì người tiêu dùng trong nước khi quyết định mua hàng
3
Nguyễn Văn Công, Chính sách tỷ giá hối đoái trong tiến trình hội nhập kinh tế ở Việt Nam, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004.
13
Nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 1996-2006: Thực trạng và giải pháp
không chỉ quan tâm tới sự thay đổi của giá cả tương dối mà còn cả nhiều yếu
tố khác, chẳng hạn thói quen và sự nổi tiếng của hàng ngoại so với hàng nội,
trong khi người tiêu dùng nước ngoài có thể không thích chuyển từ tiêu dùng
các loại hàng họ vốn đã quen sử dụng sang hàng nhập khẩu từ nước phá giá.
- Sự chậm trễ trong phản ứng của người sản xuất. Ngay cả khi phá giá
cải thiện được khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, những người sản xuất
trong nước cũng cần có thời gian để mở rộng sản xuất hoặc chuyển sản xuất
từ ngành này sang ngành khác. Hơn nữa, các đơn đặt hàng thường được đặt
trước và những hợp đồng như vậy không thể hủy bỏ trong ngắn hạn. Các nhà
máy không thể hủy bỏ hợp đồng đối với đầu vào và nguyên liệu thô quan
trọng.
- Sự cạnh tranh không hoàn hảo. Sự thâm nhâp và gây được ảnh hưởng
trên thị trường thế giới là một công việc khó khăn và mất nhiều thời gian. Các
nhà nhập khẩu nước ngoài có thể không chịu chia sẻ thị trường và có thể phản
ứng trước sự suy giảm khả năng cạnh tranh của họ bằng cách giảm giá hàng
xuất khẩu sang nước phá giá. Tương tự, những ngành công nghiệp nước ngoài
phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ nước phá giá, có thể phản ứng trước sự
suy giảm khả năng cạnh tranh bằng cách giảm giá cả trên thị trường trong
nước, và do đó hạn chế khối lượng nhập khẩu từ các nước phá giá.
- Cuối cùng, việc giảm giá đồng nội tệ có thể không cải thiện được cán
cân thương mại trong thời gian trước mắt. Giả sử chúng ta tính cán cân
thương mại bằng đồng Việt Nam. Nếu giá nội địa của hàng xuất khẩu không
thay đổi, và lượng hàng xuất khẩu chưa thay đổi nhiều, thu nhập từ xuất khẩu
sẽ chỉ cao hơn một chút trong thời gian trước mắt. Và nếu lượng hàng nhập
khẩu chưa giảm nhiều, nhưng giá hàng nhập khẩu tính bằng đồng Việt Nam
có thể tăng đáng kể. Khi tính về giá trị, lượng tăng về hàng nhập khẩu có thể
cao hơn lượng tăng của hàng xuất khẩu, do đó không cải thiện được tình trạng
thâm hụt cán cân thương mại.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét