Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ t, Việt Nam cũng có những cơ hội khi EU đã đa ra luật mới xuất khẩu
thuỷ sản vào thị trờng EU vào đầu năm 2006. Luật mới về nhập khẩu nông sản
và thuỷ sản vào EU chỉ là sự hợp nhất các quy định và chính sách mmọt cách
hài hoà theo quy chuẩn của liên minh. Các quy chuẩn áp dụng cho liên minh
cũng đợc áp dụng cho từng nớc trong 25 thành viên EU. Luật mới không gây
khó khăn hay giúp đỡ bất kì nớc xuất khẩu nào cũng không phải để hạn chế mặt
hàng thuỷ sản vào liên minh mà nhằm vào mục đích bảo vệ ngời tiêu dùng hiệu
quả hơn.
Phơng châm của luật thực phẩm mới của EU là an toàn từ nông trại đến
bàn ăn. Điều này có nghĩa an toàn vệ sinh phải đợc đảm bảo từ khi bắt đầu quy
trình tạo ra sản phẩm đến bàn ăn của ngời tiêu dùng. Để thực hiện phơng châm
này, EU đuă ra quy định về truy xuất xuất xứ, tức là mọi đầu vào tạo nên sản
phẩm phải có xuất xứ rõ ràng và phải đợc thể hiện trên những chứng từ thuộc
quy trình. Truy xuất xuất xứ nguồn gốc đợc yêu cầu đối với các doanh nghiệp
có mặt hàng xuất khẩu vào EU từ đầu năm 2006. Tuy nhiên, do Việt Nam có
tính chất đặc thù về quy trình sản xuất nên quy định này đợc bắt đầu trễ hơn,
sau năm 2008. Do vậy, chúng ta sẽ có thời gian để chuẩn bị cũng nh để áp dụng
các quy trình sản xuất và các phơng pháp quản lí mới để đáp ứng yêu cầu của
thị trờng này.
1.2 Thách thức
Bên cạnh những cơ hội mà thị trờng EU đem lại, khi hợp tác với thị trờng
đầy tiềm năng này, xuất khẩu thủy sản Việt Nam cũng phải đối mặt với rất
nhiều thách thức, đó là :
Trớc hết, ta thấy rào cản thơng mại của EU khá phức tạp và rắc rối với
nhiều quy định, yêu cầu khắt khe, do vậy đòi hỏi chúng ta cần phải tìm hiểu kĩ
thì mới có thể thúc đẩy xuất khẩu sang thị trờng này.Bên cạnh đó, trong năm tới
đây, các quy định của EU đối với hàng thuỷ sản nhập khẩu vào EU, trong đó có
sản phẩm thuỷ sản Việt Nam sẽ còn chặt chẽ và phức tạp hơn. Đặc biệt là vấn
đề liên quan đến dán nhãn hữu cơ, đến sản phẩm sinh học và đặc biệt là truy
suất nguồn gốc sản phẩm. Trong khi đó đây lại chính là những yếu điểm của
ngành thuỷ sản Việt Nam mà đến nay vần cha thực sự đáp ứng đợc.
Thứ hai, ngời tiêu dùng EU sẽ ngày càng yêu cầu cao hơn đối với các sản
phẩm mà họ tiêu dùng đặc biệt là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Đối với
mặt hàng thuỷ sản thì đây lại càng là yêu cầu thiết yếu. Bên cạnh đó, nh chúng
ta biết, các quy định của Eu liên quan đến chất kháng sinh, các hoá chất, chất
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phụ gia , bị cấm, hạn chế sử dụng ngày càng chặt chẽ, danh mục các chất này
của EU đang ngày càng dài ra, do vậy với tình hình kiểm tra VSATTP của hàng
thuỷ sản Việt Nam cũng nh việc kiểm soát d lợng chất kháng sinh trong hàng
thuỷ sản Việt Nam nh hiện nay thì đây cũng là một trong những thách thức lớn
của hàng thuỷ sản Việt Nam.
Thứ ba, vấn đề liên quan đến bao gói và mẫu mã sản phẩm. Hiện nay, EU
cũng cũng có nhiều quy định liên quan đến vấn đề này. Trong những năm sắp
tới, vấn đề bao gói và mẫu mã sản phẩm sẽ đợc EU rất quan tâm vì đây là một
trong những vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ môi trờng. Tuy nhiên
các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam lại cha thực sự quan tâm đén vấn đề này,
do vậy khi nó trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu
vào thị trờng EU thì đây cũng trở thành một trong những thách thức lớn của
Việt Nam.
Cơ hội nhiều, thách thức thì cũng không ít, do vậy để có thể đẩy mạnh
xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng EU thì các Bộ, ngành, các doanh nghiệp, cùng
với cộng đồng ng dân phải có những biện pháp để liên kết nhau lại, tìm ra các
giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh, đa hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng
EU ngày càng nhiều và thuận lợi hơn.
2. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng EU
2.1 Kim ngạch xuất khẩu vào thị trờng EU năm 2001-2006
Trong các năm qua, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị tr-
ờng EU ngày càng tăng về cả sản lợng lẫn giá trị, điều đó góp phần giúp cho
ngành thuỷ sản Việt Nam vợt qua nhiều khó khăn khi mà việc xuất khẩu sang
thị trờng Mĩ gặp phải nhiều trở ngại. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trờng EU
trong những năm qua thể hiện thông qua bảng số liệu sau :
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng 1 : Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trờng EU
2001 - 2006
STT Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1
KNXK hàng hoá sang EU
(tỷ USD) 3,002 3,162 3,852 4,971 5,369 6,913
2
KNXK thuỷ sản
( tỷ USD ) 1,778 2,023 2,200 2,397 2,739 3,364
3
KNXK thuỷ sản sang EU
( triệu USD) 106,716 84,404 127,240 243,938 436,731 723,505
4 % tăng so với năm trớc 7,9 -20,9 50,75 91,71 79,03 66,37
5 Khối lợng ( tấn ) 26.659 28.613 38.187 73.459 110.911 219.967
6 Tỷ trọng (3) trong (1) % 3,55 2,67 4,46 4,91 8,13 10,47
7 Tỷ trọng (3) trong (2) % 6,00 4,17 5,78 10,17 15,94 21,60
( Nguồn : - Tạp chí thơng mại thuỷ sản các số năm 2001-2007
- Tổng cục thống kê )
Qua bảng số liệu ta có thể thấy :
Thứ nhất, về tốc độ tăng trởng của kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị
trờng EU liên tục tăng. Chỉ riêng trong năm 2002, hoạt động xuất khẩu bị
chững lại và có xu hớng giảm sút. Đó là vì sau khi EU tăng cờng liểm tra d lợng
chất kháng sinh và hạ thấp ngỡng phát hiện d lợng các chất này trong sản phẩm
thuỷ sản, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Quy định về kiểm tra thú y đối
với thịt gia súc, gia cầm, thuỷ sản đã thực sự trở thành rào cản lớn nhất đối với
hàng thuỷ sản Việt Nam, 72 lô hàng sau khi kiểm tra và phát hiện chứa một l-
ợng chất kháng sinh vợt quá mức mà EU cho phép, đã bị trả lại hoặc tiêu huỷ
ngay tại chỗ. Sự việ này đã thực sự ảnh hởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam trong năm này.
Tuy nhiên với sự cố gắng từ phía các ban ngành cũng nh các doanh
nghiệp, từ năm 2003, tình hình xuất khẩu thuỷ sản sang EU đã có dấu hiệu phục
hồi. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU đạt 127,240
triệu USD, sang năm 2004 là 243,938 triệu USD, năm 2005 là 436,731 triệu
USD chiếm gần 16% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc, và đặc biệt là đến
năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU đã đạt con số
kỷ lục : 723,505 triệu USD.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Điều đáng chú ý là tốc độ tăng trởng của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
sang thị trờng này là rất đáng kinh ngạc. Trong các năm gần đây, chỉ có năm
2002 là kim ngạch giảm hơn 20%, còn từ đó đến nay, kim ngạch này không
những luôn tăng mà còn tăng với tỷ lệ rất cao. Đặc biệt là năm 2004, kim ngạch
xuất khẩu đã tăng tới 91,71% so với năm 2003, năm 2005 tăng 79,03% so với
năm 2004. Đây là những con số rất ấn tợng và một phần nào cũng nói lên khả
năng đáp ứng các điều kiện của thị trờng EU của các sản phẩm thuỷ sản Việt
Nam.
Thứ hai, về vai trò của xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng EU trong tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng này. Hàng thủy sản hiện là mặt
hàng có kim ngạch đứng thứ t trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào
thị trờng EU ( gồm : ngành da giày, may mặc, nông sản ). Tỷ trọng xuất khẩu
thủy sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng EU liên tục
tăng trong những năm gần đây. Nếu năm 2001, xuất khẩu thuỷ sản sang EU
mới chỉ chiếm 3,55% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thì đến năm
2006, con số này đã tăng lên 10,47%. Thuỷ sản đã và đang trở thành một trong
những mặt hàng trọng yếu mà Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU.
Thứ ba, về kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU so với
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong những năm qua, thị trờng
EU đã và đang trở thành một thị trờng rất quan trọng trong các thị trờng xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Đặc biệt là trong năm 2006 thì thị trờng EU đã trở
thành thị trờng xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 của Việt Nam, vợt qua Mĩ và chỉ
đứng su Nhật Bản, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
cả nớc ( tơng đơng với 723,505 triệu USD, tăng khoảng 66,4% so với năm
2005 )
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng 2 : Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam theo thị trờng 2001
2006 ( Đơn vị : Triệu USD )
STT Thị trờng 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1 Mỹ 489,035 655,655 782,238 592,824 633,985 664,340
2 Nhật Bản 465,901 537,968 582,902 754,946 754,946 842,614
3 EU 106,716 84,404 127,240 243,938 436,731 723,505
4
Trung Quốc
( cả Hồng Kông) 316,719 302,261 147,786 131,198 131,198 145,573
5 ASEAN 64,930 79,529 73,080 165,681 165,681 150,961
6 Nớc khác 334,185 363,005 503,448 470,413 470,413 821,298
( Nguồn : Tổng hợp từ tạp chí Thơng mại thuỷ sản các năm 2001-2007)
Xuất khẩu thuỷ sản sang EU đã trở thành một trong ba chân kiềng vững
chắc của hoạt động xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Nếu nh trớc đây, chỉ có Nhật
Bản và Mĩ thì đến nay EU đang nổi lên với vai trò ngày càng quan trọng.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trờng này đang ngày càng tăng.
Nếu nh năm 2001 mới chỉ chiếm 6% ttỏng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của
cả nớc thì đến năm 2004 đã chiếm 10,17%, năm 2005 chiếm 15,94%, và năm
2006, xuất khẩu thuỷ sản sang EU chiếm 21,6%, đây là một trong những thành
tích đáng kể của ngành thuỷ sản Việt Nam trong năm 2006 này.
Nh vậy ta thấy, quan hệ thuỷ sản giữa Việt Nam và EU đang ngày càng
tăng cả về số lợng và giá trị, đồng thời các doanh nghiệp thuỷ sản cũng đã và
đang tiếp cận đợc với thị trờng rộng lớn này để có thể phát huy đợc tiềm năng
cũng nh thế mạnh của mình.
2.2 Các thị trờng xuất khẩu chính của thuỷ sản Việt Nam trong khối EU
Nhìn chung, thuỷ sản của Việt Nam đợc xuất khẩu sang hầu hết các nớc
thành viên EU, trong đó có 8 thị trờng chính, đạt tỷ trọng khá lớn trong tổng
xuất khẩu của Việt Nam sang khối thị trờng này
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thị trờng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong khối EU
năm 2006
Trong khối EU, các quốc gia nh Bỉ, Italia, Anh, Đức và Hà Lan là những
thị trờng xuất khẩu chính của hàng thuỷ sản Việt Nam.Trong đó Bỉ và Italia là
hai thị trờng nhập khẩu tôm chính của thị trờng Việt Nam tại EU, chiếm 53%
tổng lợng hàng xuất sang thị trờng này vào năm 2006. Việt Nam nằm trong
tốp 10 nớc cung cấp tôm hàng đầu của Bỉ với 4% thị phần nhập khẩu. Bên cạnh
đó, chúng ta cũng đứng ở vị trí thứ 9 trong số các nhà xuất khẩu thuỷ sản sang
Anh. Đức là thị trờng lớn thứ 2 rong khối EU đối với xuất khẩu thủy sản Việt
Nam. Sau khi giảm mạnh vào năm 2001, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang
Đức đã phục hồi dần vào các năm sau đó, đứng thứ 3 trong khối EU vào năm
2003, và vợt lên ở vị trí thứ 2 từ năm 2004 đến nay. Các sản phẩm thuỷ sản
chính xuất khẩu sang Đức là cá philê đông lạnh, nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn
thể và thuỷ sản có vỏ.
Trong những năm qua, thuỷ sản Việt Nam chỉ xuất hiện ở mức độ hết sức
khiêm tốn trên thị trờng Đông Âu. Trong vài năm gần đây, ngành thuỷ sản Việt
Nam đã có nhiều động thái tích cực thâm nhập thị trờng các thành viên mới của
EU ở khu vực này, đặc biệt là ở BaLan và đã có những kết quả bớc đầu.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.3 Cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng EU:
Nhìn chung, các mặt hàng xuất khẩu vào EU là khá đa dạng với nhiều
chủng loại. Tuy nhiên cũng cần chú ý một vấn đề là khách hàng EU rất khó tính
về mẫu mã và thị hiếu. Chỉ khi các yếu tố chất lợng đợc đảm bảo,cách trình bày
sản phẩm và giá cả hấp dẫn thì sản phẩm mới có cơ hội đợc bán ở châu Âu. Tuy
cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trờng EU có sự thay đổi qua
các năm, nhng trong tất cả các sản phẩm mà chúng ta xuất khẩu sang thị trờng
EU thì mặt hàng cá tơi, cá đông lạnh vẫn luôn chiếm tỉ lệ cao. Năm 2006,
xuất khẩu cá tơi và cá đông lạnh chiếm 71,5% tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu ,
còn hàng khô vẫn chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,2%.
Bảng 3 : Cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu vào thị trờng EU năm
2006
STT Sản phẩm Khối lợng (tấn) Giá trị (triệu USD)
1 Tôm đông lạnh 21.265 154,3
2
Cá tơi/đông lạnh : Trong đó
- Cá da trơn
- Cá ngừ
179.374
123.212
14.045
517,476
343,427
33,085
3 Mực và bạch tuộc đông lạnh 18.976 50,178
4 Hàng khô 352 1,451
( Nguồn : Tạp chí thơng mại Thuỷ sản tháng 2/2007 )
3. Đánh giá tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng EU
3.1 Những mặt đạt đợc
Trong những năm qua, các doanh nghiệp thuỷ sản của Việt Nam đã nhận
thấy đợc tầm quan trọng cũng nh những cơ hội to lớn mà thị trờng EU mang lại
nên hoạt động xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng EU ngày càng đợc đẩy mạnh.
Theo các số liệu thống kê đã phân tích ở trên, ta thấy kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản sang thị trờng này liên tục tăng trong những năm qua. Có thể nói
tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng EU tăng nhanh
cha từng thấy. Đến năm 2006, thị trờng EU đã trở thành thị trờng lớn thứ 2 sau
Nhật Bản.
Bên cạnh đó, chất lợng hàng thuỷ sản Việt Nam đang ngày càng đợc củng
cố và chiếm đợc lòng tin của ngời tiêu dùng châu Âu. Để đáp ứng đợc điều này,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bộ Thuỷ sản đang tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cấp điều kiện sản xuất,
đảm bảo 100% doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đạt tiêu chuẩn ngành về an
toàn vệ sinh thực phẩm.
Ngoài ra, những nỗ lực của Việt Nam trong kiểm soát d lợng chất kháng
sinh trong hàng thuỷ sản xuất khẩu là rất đáng ghi nhận. Trong những năm trớc
đây, tỷ lệ nhiễm d lợng chất kháng sinh, hoá chất bị cấm trong cá nuôi khá cao,
tình trạng bơm chích tạp chất vào tôm cha đợc xử lý một cách triệt để đã dẫn
đến nhiều bất lợi cho cac sản phẩm thuỷ sản Việt Nam trớc rào cản kĩ thuật
của nớc nhập khẩu.
Hiện nay, với việc tăng cờng kiểm tra hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Hoa
Kỳ và Canada ( kiểm soát 100% các lô hàng thuộc 3 nhóm sản phẩm thịt cua
ghẹ, tôm và cá da trơn với 4 chỉ tiêu kháng sinh, thời gian tối thiểu là 4 tháng ),
Việt Nam đã củng cố vững chắc niềm tin về chất lợng hàng thuỷ sản cho tất cả
các thị trờng, kể cả thị trờng khó tính nhất EU.
Nhận thức đợc đầy đủ tầm quan trọng của việc đáp ứng các tiêu chuẩn về
an toàn thực phẩm đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trờng EU, các
doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về chất l-
ợng sản phẩm và vấn đề VSATTP. Ngoài ra, hiên nay do các hộ nông dân, ng
dân cũng đang đổi mới cách thức sản xuất, chuyển từ sản xuất thô sơ, năng suất
thấp sang thâm canh hiện đại, và đang tiếp cận với các tiêu chuẩn thế giới nh
MSC, SQF, GAP , nuôi sinh thái, thân thiện với môi trờng từng bớc nâng cao
chất lợng sản phẩm, vợt qua các yêu cầu khắt khe của thị trờng EU. Bên cạnh
đó, việc EU ngày càng công nhận thêm nhiều doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
xuất khẩu của Việt Nam đợc phép xuất khẩu sang EU chính là một trong những
bằng chứng chứng tỏ rằng hàng thuỷ sản Việt Nam đang ngày càng đáp ứng đợc
các yêu cầu của thị trờng này.
3.2 Những mặt cha đạt đợc
Bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt đợc trong những năm qua, việc
xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang thị trờng EU vẫn còn tồn tại nhiều vấn
đề
Trớc hết vẫn là vấn đề VSATTP của hàng thuỷ sản Việt Nam. Tuy đã đạt
đợc những thành tựu nhất định nhng đây vẫn là một trong những điểm yếu nhất
của hàng thuỷ sản Việt Nam. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn của EU về d lợng
kháng sinh qúa khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nớc. Ví dụ nh yêu cầu
về lợng chologramphenicol, trong khi ngời dân Việt Nam vẫn có thói quen sử
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dụng thuốc có hàm lợng chologramphenicol 0,4% nhỏ trực tiếp vào mắt nh một
loại thuốc rửa mắt không độc hại, thì EU lại đòi hỏi d lợng chologramphenicol
trong thuỷ sản phải đạt mức độ gần nh không tuyệt đối. Bên cạnh quy trình
kiểm tra chất lợng hàng thuỷ sản Việt Nam chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở nhận
biết cảm quan bên ngoài sản phẩm nên không đánh gia đợc chất lợng sản phẩm,
chứ cha nói đến vấn đề xác định đợc sản phẩm đó có chứa hoá chất hay chất
kháng sinh bị cấm hay không. Ngay các thiết bị kiểm tra hiện đại hiện nay của
Việt Nam cũng có sự chênh lệch về trình độ với các thiết bị kiểm tra của EU.
Do vậy nhiều lô hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu sang EU vẫn bị trả về
hay bị tiêu huỷ tại chỗ do chứa một lợng các hoá chất vợt quá mức cho phép.
Bên cạnh đó, vấn đề VSATTP đối với hàng thuỷ sản Việt Nam cha đợc ổn định,
còn mang tính thời vụ và thất thờng.Theo báo cáo của Trung tâm kiểm tra chất
lợng và vệ sinh thuỷ sản, từ tháng 8/2001- đến 3/4/2002, tỗng số lô hàng Việt
Nam bị EU cảnh cáo phát hiện d lợng kháng sinh là 52 lô. Tính riêng 6 tháng
đầu năm 2002, gía trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào EU giảm đến 50% so
với cùng kì năm 2001. Đây là điều cha từng xảy ra. Trớc tình hình đó, Bộ và các
doanh nghiệp đã cố gắng để khắc phục vấn đề này. Nhờ vậy, sang năm 2003 số
lô hàng bị phát hiện đã giảm xuống còn 10 lô. Nhng sang năm 2004 và đầu năm
2005 tình hình vi phạm các tiêu chuẩn chất lợng của hàng thuỷ sản Việt Nam
trở thành vấn đề nổi cộm. Năm 2004 số lô hàng bị phát hiện nhiễm kháng sing
lại tăng lên 24 lô và đến tháng 9/2005 đã là 46 lô. Chính vì vậy Bộ thuỷ sản đã
phải thắt chặt kiểm tra chất lợng hàng thuỷ sản xuất khẩu đồng thời ban hành
các quy định mới về hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế trong sản xuất và
kinh doanh mặt hàng này cho phù hợp với các quy định của thị trờng EU, nhờ
đó đến cuối năm 2005 thì không còn lô hàng nào bị cảnh cáo. Qua đó thấy rõ đ-
ợc tính bấp bênh trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến vấn đề
VSATTP của các doanh nghiệp cũng nh của các hộ nuôi trồng thuỷ sản .Tuy
trong những năm gần đây vấn đề này đã thực sự đợc các doanh nghiệp quan
tâm, nhng cũng mới chỉ có các doanh nghiệp lớn mới có thể đáp ứng các yêu
cầu của EU, còn rất nhiều doanh nghiệp của thuỷ sản Việt Nam cha đáp ứng đ-
ợc vấn đề này
Một vấn đề khó khăn nữa mà thủy sản Việt Nam còn gặp phải đó là những
yêu cầu về môi trờng của EU đối với việc sản xuất và kinh doanh thuỷ sản. Tính
cho đến nay, số lợng các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam áp dụng hệ thống
ISO 14000 đang dừng lại ở con số hết sức hạn chế. Do đó có thể nói đây cũng là
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
một trong những thách thức mà các doanh nghiệp thuỷ sản của Việt Nam đang
cố gắng vợt qua
Việc đáp ứng các quy định của EU về bao bì hàng hoá cũng chính là một
trong những điểm yếu của Việt Nam. Hiện nay, rất ít doanh nghiệp thuỷ sản của
Việt Nam có đợc các thông tin về quy định và tiêu chuẩn và bao bì của EU liên
quan đến môi trờng nh quy định về nguyên liệu sử dụng để sản xuất bao bì, độ
phân huỷ và khả năng tái chế, nhìn chung các doanh nghiệp thuỷ sản của chung
ta hiện nay thờng cung cấp bao bì hàng hoá theo yêu cầu của nhà nhập khẩu
chứ không cần biết tiêu chuẩn về bao bì nh thế nào.
Bên cạnh đó một yêu điểm nữa của thủy sản Việt Nam là vấn đề truy
nguyên nguồn gốc sản phẩm.Để đáp ứng đợc yêu cầu này thì chúng ta phải áp
dụng các dây chuyền nuôi trồng chế biến và cung cấp thuỷ sản một cách hệ
thống. Có vậy, khi sử dụng một sản phẩm thuỷ sản nào đó mà đặc biệt khi có
vấn đề xảy ra thì ngời tiêu dùng có thể biết đợc sản phẩm đó có xuất xứ từ đâu,
đợc sản xuất theo dây truyền công nghệ nào, đáp ứng đợc các tiêu chuẩn gì,
thậm chí là nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm đó là ở đâu, đợc nuôi bằng thức
ăn gì Do vậy đây cũng là một thách thức rất lớn đối với hàng thuỷ sản Việt
Nam khi mà EU quy định đây là điều kiện bắt buộc đối với mọi sản phẩm thuỷ
sản xuất khẩu vào thị trờng này
3.3 Nguyên nhân
Những vấn đề còn tồn tại của ngành thuỷ sản Việt Nam là do một số
nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do ngành thuỷ sản của Việt Nam vẫn còn ở trình độ thấp, sản
xuất vẫn mang tính chất nhỏ lẻ thiếu tập chung. Tình trạng sản xuất manh mún
với những thói quen của ngời sản xuất nhỏ, kĩ năng lạc hậu vẫn còn tồn tại phổ
biến. Nguồn lợi thuỷ sản đang ngày càng suy kiệt, khả năng tái tạo thấp, trong
khi đó việc đánh bắt xa bờ vẫn còn là điểm yếu của ngành. Đối với các sản
phẩm thủy sản nuôi trồng, mặc dù đã có những thành công nhất định nhng do
phát triển tự phát nên thiếu bền vững, luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch
bệnh, nguy cơ ô nhiễm môi trờng. Khi tình trạnh đó xảy ra thì ngời nuôi trồng
lại không ngần ngại sử dụng các chất kháng sinh, các hoá chất bị cấm để chữa
bệnh cũng nh để tăng trọng sản phẩm. Nguyên nhân của tình trạng này là do
ngời dân không có kiến thức về vấn đề : d lợng chất kháng sinh, tạp chất trong
thuỷ sản, cũng nh kiến thức về bảo vệ môi trờng và nguồn lợi thuỷ hải sản. Bên
cạnh đó, việc kiểm soat d lợng chất kháng sinh trong hàng thuỷ sản Việt Nam
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét