Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

102579

thuộc vào nhận thức, vào dự đoán và hành động khống chế rủi ro của mỗi
ngân hàng.
III -Phân loại nợ quá hạn:
Có nhiều cách phân loại nợ quá hạn:
- Nếu chia theo khả năng thu hồi thì gồm:
Nợ quá hạn thông thờng: Đảm bảo đòi đủ 100%.
Nợ quá hạn khó đòi: Khả năng thu hồi không đủ và phải kéo dài.
Nợ quá hạn mất trắng.
- Nếu chia theo nguyên nhân:
Nợ quá hạn do mất khả kháng nh do thiên tai, do thay đổi cơ chế
chính sách, do khủng hoảng. Nguyên nhân không thuộc lỗi của bên cho vay và
ngời đi vay.
Nợ quá hạn do lỗi của ngời đi vay: Yếu kém về trình độ quản lý nh
yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh hoặc cố tình không trả nợ
Nợ quá hạn do lỗi của ngời cho vay: Thờng bao giờ cũng gắn với
lỗi của ngời vay do có sự thông đồng, đồng tình.
- Nếu chia theo thời gian:
Nợ quá hạn dới 180 ngày.
Nợ quá hạn từ 181 ngày trở lên đến 360 ngày.
Nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Nếu chia theo biện pháp bảo đảm tiền vay
Nợ quá hạn có bảo lãnh của ngời hay bên thứ ba.
Nợ quá hạn còn vật t, hàng hoá tồn kho chờ bán và có tài sản hình
thành từ vốn vay.
Nợ quá hạn có tín chấp.
5
Nợ quá hạn có xác nhận của cấp chủ quản.
Nợ quá hạn có ngời thừa kế hợp pháp theo luật phải trả thay.
- Nếu chia theo khả năng thu hồi vốn:
Nợ quá hạn bình thờng: Là nợ quá hạn do định kỳ cho vay sai thực
tế, là nợ quá hạn có thời gian quá hạn dới 6 tháng kể từ sau ngày đến hạn trả
nợ.
Nợ khê đọng: Là nợ quá hạn có thời gian quá hạn từ 6 tháng đến 12
tháng kể từ ngày sau ngày đến hạn trả nợ mà vẫn cha thu hồi đợc vốn vì đã
tiềm ẩn những rủi ro.
Nợ khó đòi: Là nợ quá hạn có thời gian quá hạn trên 12 tháng kể từ
sau ngày đến hạn trả nợ mà vẫn cha thu hồi đợc vốn vì đã nảy sinh những rủi
ro cha khắc phục đợc.
Nợ mất khả năng thu hồi vốn: Là nợ quá hạn không còn khả năng thu
hồi vốn sau khi đã phân tích các khả năng thu hồi vốn.
Nh vậy nợ quá hạn nói chung mới chỉ thể hiện đợc một phần về chất l-
ợng tín dụng mà cha nói rõ đến khả năng mất vốn của ngân hàng, chỉ có loại
nợ mất khả năng thu hồi vốn mới chỉ rõ phạm vi mất vốn của ngân hàng. Loại
nợ quá hạn bình thờng tức là loại nợ quá hạn dới 6 tháng là có thể chấp nhận
đợc trong điêù kiện tình hình kinh doanh ở nớc ta hiện nay. Bởi vì khi chuyển
đổi từ quan liêu bao cấp sang kinh doanh thì cũng phát sinh những yếu tố mới
ảnh hởng xấu đến quá trình kinh doanh mà ta cha phát hiện và nắm bắt đơc
kip thời. Đó là những yếu tố khách quan do thị trờng gây ra. Khi nền kinh tế
thị trờng dần dần đợc hình thành rõ nét và ổn định thì mới có thể khống chế và
giảm đợc các nợ quá hạn này. Các loại nợ quá hạn từ 6 tháng đến 12 tháng và
trên 12 tháng là những là những loại nợ đã tiềm ẩn những rủi ro đối với ngân
hàng. Loại nợ quá hạn sau cùng mới là loại nợ mà mất khả năng thu hồi vốn
của ngân hàng. Đối với loại nợ quá hạn này thì các ngân hàng đợc phép trích
từ quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp. Hiện nay quỹ đợc hình thành từ lợi nhuận sau
thuế 10% cho đến khi bằng vốn điều lệ của ngân hàng.
Ch ơng II:
6
Thực trạng và nguyên nhân nợ quá
hạn hiện nay Trong hệ thống NHTM
VN.
I Thực trạng nợ quá hạn trong các NHTM hiện nay
Nợ quá hạn là vấn đề của tất cả các ngân hàng trên Thế giới và cũng
làm đau đầu những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. Bản thân nợ quá hạn là
hiện tợng tự nhiên, hợp với quy luật phát triển kinh tế gắn liền với rủi ro trong
hoạt động ngân hàng- Một hoạt động kinh tế quan trọng trong nền kinh tế thị
trờng. Song vấn đề trở nên nghiêm trọng khi mức độ nợ quá hạn hay tỷ lệ nợ
quá hạn trên tổng d nợ cho vay vợt quá ngỡng cho phép (Nhiều nhà kinh tế
thống nhất ngỡng an toàn này đối với một nền kinh tế là 3% - 5%). Vấn đề nợ
quá hạn hiện nay còn liên quan đến mối quan hệ giữa nhà nớc và hệ thống tài
chính, tức là sự can thiệp và khả năng kiểm soát đối với hệ thống ngân hàng
làm cho nợ quá hạn không còn mang tính chất thuần tuý kinh tế nh trớc đây.
Trên Thế giới, theo Washington Post ngày 30/3/98 tình trạng nợ khó
đòi của các nớc Đông và Đông Nam á rất căng thẳng, đe doạ làm tan rã nền
kinh tế toàn cầu. Nợ khó đòi của Thái Lan chiếm tới 30% tổng d nợ và cần tới
15 tỷ USD để tái tạo vốn cho các ngân hàng, con số tơng tự ở Hàn Quốc là
25% và 34 tỷ USD, ở Indonêxia là 70% và 20 tỷ USD. Số nợ không có hiệu
quả ở các ngân hàng Nhật bản lên tới con số khổng lồ 500 tỷ USD. Vào tháng
1/1997 nợ quá hạn của Nga lên tới 522.000 tỷ Rbl, còn ở Trung Quốc nợ khó
đòi chiếm khoảng 30% tổng tín dụng. Còn đối với VN thì đến cuối năm 1997
tỷ lệ nợ quá hạn lên tới 10% trong khi đó số liệu công bố cuối năm 1996 là
5,7%.
Một số đặc điểm về tình hình nợ quá hạn ở VN hiện nay:
+ Trong số nợ quá hạn hiện nay chủ yếu là phát sinh từ thời bao cấp.
Trớc đây cơ chế quản lý tín dụng mang hình thức cấp phát chứ không phải
kinh doanh nh hiện nay, nên đến nay phát sinh nợ quá hạn cũng là điều dễ
hiểu. Còn những món nợ mới phát sinh trong thời kỳ thời gian gần đây phần
7
lớn tập trung vào một số ít doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, quản lý kém do
không theo kịp với sự chuyển đổi, đổi mới thích ứng với nền kinh tế thị trờng.
Tất nhiên cũng phải kể đến những món nợ quá hạn do khách hàng lừa đảo
hoặc cán bộ ngân hàng kém phẩm chất gây ra. Tuy nhiên số đó là rất ít so với
tổng số nợ quá hạn của ngân hàng và càng ít hơn nữa trong toàn bộ khối lợng
tín dụng của ngân hàng đã phát ra.
+ Hiện nay, nợ quá hạn là quá cao, hơn cả mức giới hạn cho phép là 5%
đang làm cho hoạt động tín dụng trong các NHTM thiếu lành mạnh, rủi ro
cao, gây ách tắc, ứ đọng vốn, đe doạ nền tài chính của cả hệ thống NHTM.
Hơn nũa hiện tợng nợ quá hạn trong các NHTM lại đang có xu hớng tăng lên.
Vấn đề quan trọng, đáng lo ngại đối với các NHTM hiện nay là chất lợng hoạt
động tín dụng, tình hình nợ quá hạn trở nên khá phổ biến, tỷ trọng nợ quá hạn
cao lại có xu hớng tăng lên. Theo báo cáo của các ngân hàng nhà nớc thì hầu
hết các NHTM đều có nợ quá hạn. Trong toàn hệ thống NHTM, chỉ tính riêng
nợ quá hạn khó đòi đã đạt tới con số hàng ngàn tỷ đồng. So với năm 1995, d
nợ quá hạn của các ngân hàng thơng mại quốc doanh tăng lên 1,18%, nhng do
d nợ tín dụng tăng nên xét về số tuyệt đối thì d nợ quá hạn của năm 1996 cao
hơn mức d nợ quá hạn của năm 1995 không phải là 1,18% mà lên tới 1,4%.
Điều này càng cho thấy mức độ thiệt hại có thể xảy ra càng lớn, bởi lẽ d nợ tín
dụng tăng chủ yếu nhờ vào nguồn huy động tăng, còn vốn tự có của các ngân
hàng thờng tăng lên với một tiến độ chậm chạp nên tỷ lệ rủi ro so với vốn tự
có cũng theo xu hớng tăng lên, làm lung lay nền tảng của các ngân hàng thơng
mại.
Bên cạnh đó d nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng cổ phần thơng mại
cũng rất đáng quan tâm, tỷ lệ nợ quá hạn thờng ở mức trên 5% trên tổng d nợ,
ở nhiều ngân hàng tỷ lệ nợ quá hạn chiếm trên 20% d nợ, một con số không
có biện pháp ngăn ngừa kịp thời sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng
không thể lờng trớc đợc.
+ Trong số nợ quá hạn trên một năm, nợ khó đòi, nợ không có khả
năng thu hồi chiếm tỷ trọng lớn.
Khi phân tích chất lợng tín dụng, điều làm cho ngời ta lo lắng không phải đơn
giản chỉ là sự chậm trễ, sai hẹn trong việc trả nợ của khách hàng dù sự chậm
trễ ấy có làm ảnh hởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, mà cái chính
8
của sự lo lắng là khả năng thu hồi của nợ đó. Chính vì thế mà trong nợ quá
hạn, ngời ta còn chia ra nợ quá hạn trên một năm, nợ khó đòi, nợ không có
khả năng thu hồi và theo trật tự này thì sự lo lắng cũng tăng theo gấp bội còn
niềm hy vọng thì giảm dần. Nh vậy mới thấy rằng hoạt động tín dụng quả là
không đơn giản chút nào.
Thực tế những năm gần đây cho thấy số nợ quá hạn trên một năm, nợ khó đòi
chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng số nợ quá hạn, thờng là trên 50%, ở một
số NHTM cổ phần tình hình còn đáng sợ hơn nhiều 80%, 90%, thậm trí còn
100%. Một con số làm kinh hoàng cho những ai hiểu về hoạt động ngân hàng.
Song không chỉ có vậy, nợ khó đòi không phải chỉ đơn giản là khó đòi, mà
trong số đó một tỷ lệ không nhỏ là nợ không có khả năng thu hồi, tức là d nợ
rủi ro 100%.
+ Rủi ro tiềm ẩn trong số d nợ không có vấn đề cũng rất cao:
Nếu tách hết số d quá hạn ra khỏi tổng d nợ, ta còn lại số d nợ bình thờng, hay
d nợ không có vấn đề gì lo ngại. Song ở một số ngân hàng, số d nợ này vẫn
buộc các nhà phân tích phải quan tâm, bởi trong số d nợ tởng chừng bình th-
ờng đó lại ẩn chứa rất nhiều vấn đề không bình thờng, không đúng quy chế,
luật pháp nh:
Số d nợ đó đã đợc gia hạn nhiều lần, thậm trí thời gian gia hạn còn
nhiều hơn kỳ hạn cho vay lần đầu.
Số d nợ đó đợc đảo nợ nhiều lần (Cho vay mới để thu hồi nợ cũ), có
nhiều trờng hợp kế toán đã không chuyển sang nợ quá hạn, lại chuyển vào
hạch toán trong hạn. Khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng này để trả
nợ cho ngân hàng khác. Đây cũng là một hình thức đảo nợ nhng có sự tham
gia của nhiều ngân hàng.
Nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng với cùng một tài sản
thế
chấp mà hoàn toàn không hề hay biết.
Tình hình trên cho thấy, số d nợ phát sinh trong các trờng hợp đã nêu tuy
nằm trong tổng số d nợ bình thờng nhng xét về bản chất nó khó có khả năng
thu hồi ngay từ khi cho vay.
9
Trớc những khó khăn trong vấn đề nợ quá hạn trong hệ thống NHTM nh đã
nêu trên thì mặc dù các ngân hàng đã đề ra thực hiện một số giải pháp để
nhằm hạn chế, giảm thiểu và xử lý mức nợ quá hạn, nhng mức nợ quá hạn vẫn
ở mức cao và đang bế tắc trong khâu xử lý.
II- Nguyên nhân nợ quá hạn của hệ thống NHTM VN hiện nay:
Những nguyên nhân chủ yếu gây ra các khoản nợ quá hạn của VN trong thời
gian qua:
1 - Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Do thiên tai bão lụt, hoả hoạn, chiến tranh hay những biến động trên
thị trờng quốc tế, thị trờng giá cả, lãi suất, cung cầu Làm cho những ngời đi
vay mất khả năng trả nợ.
Do thiên nhiên gây ra: Hầu nh năm nào ở nớc ta cũng xảy ra bão
lụt, ngoài ra còn có hạn hán, hoả hoạn làm cho một số địa phợng phải chịu
hậu quả khá nặng nề, do đó làm cho một số doanh nghiệp vay vốn của ngân
hàng bị thiệt hại và không có khả năng hoàn trả lại vốn cho ngân hàng. Nh
trong năm 2000 do cơn bão số 5 đã làm cho các ngành nông ng hải sản bị tổn
thất khá nặng nề, do hiệu ứng dây truyền cũng làm cho một số ngành, đơn vị,
cánhân liên quan nh thơng mại, cung ứng dịch vụ, công nghiệp chế biến
cũng lâm vào tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ và không
trả nợ đợc ngân hàng kéo dài đến nay vẫn cha khắc phục đợc hết.
Do sự biến động của thị trờng, thị trờng có lúc biến động mạnh
về giá cả nh trong thời gian vừa qua giá cả cà phê giảm mạnh, làm cho một số
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu không kịp đối phó nên đã
bị thua lỗ nặng.
Do lãi suất biến động: Trong nền kinh tế thị trờng thì lãi suất luôn
biến động và sự biến động của lãi suất sẽ làm ảnh hởng không nhỏ đến công
tác tín dụng. Trong những năm gần đây nớc ta đã khống chế đợc tình trạng
lạm phát, nhng lãi suất lại giảm liên tục. Trong trờng hợp lãi suất cho vay
giảm nhng lãi suất tiền gửi vẫn giữ nguyên làm cho chênh lệch giữa đầu ra và
10
đầu vào giảm dẫn đến chi phí nguồn vốn lớn hơn chi phí sử dụng. Nh vậy hoạt
động tín dụng rõ ràng là không thể có hiệu quả đợc.
- Vai trò quản lý của nhà nớc: Quản lý của nhà nớc còn nhiều sơ hở,
tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp hoặc cá nhân có những hành vi lừa
đảo, nhà nớc cho phép nhiều doanh nghiệp đợc sản xuất kinh doanh với
nhhiều chức năng, trình độ, năng lực quản lý, quy mô hoạt động là quá lớn so
với nguồn vốn tự có của NH. Do đó sẽ dẫn đến tình trạng vay vốn của NH
nhiều.
Đối với vai trò quản lý của ngân hàng nhà nớc, hiệu quả giám sát thanh
tra và xử lý sau thanh tra còn bị hạn chế, thiếu kiên quyết, không dứt điểm, do
đó không phát huy tác dụng trong việc củng cố sự phát triển của ngân hàng
thơng mại. Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực rất nhạy cảm đối với những biến
động của tình hình kinh tế xã hội, đòi hỏi sự nhạy bén, thế nhng một số quy
chế quản lý của ngân hàng nhà nớc lại chậm đợc ban hành hoặc chậm đợc bổ
sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế nh các quy chế về an toàn vốn,
về quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, về thế chấp tài sản, về hớng dẫn sử lý vi phạm
trong lĩnh vực ngân hàng. Qua đó thấy đợc vai trò quản lý của ngân hàng nhà
nớc nhất là các chi nhánh bị lu mờ hay nói đúng hơn là cha đầy đủ, cha thờng
xuyên trong việc giám sát, kiểm tra, nhắc nhở đối với các ngân hàng thơng
mại.
- Do ngân hàng nhà nớc quy định thời hạn cho vay trung và dài hạn tối
đa chỉ có 3 năm: Thời hạn cho vay này chỉ phù hợp với tính chất nguồn vốn
của các ngân hàng thơng mại (chủ yếu là vốn ngắn hạn, có khi phải dùng một
bộ phận vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn). Song đối với ngời vay thì
không có một doanh nghiệp nào có khả năng trả nợ đầy đủ cho ngân hàng
trong thời gian 3 năm đối với các dự án vay trung và dài hạn. Ngay từ khi đặt
vấn đề vay ngân hàng, các doanh nghiệp hoàn toàn ý thức đợc vấn đề này, nh-
ng vì có sự khống chế tối đa về thời hạn của ngân hàng nhà nớc nên cả ngời
vay và ngời cho vay phải nhắm mắt ký hợp đồng, để rồi không có khả năng trả
nợ và thu nợ đúng hạn. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nợ quá hạn của
các ngân hàng thơng mại đềnh lên nhanh chóng.
- Do môi trờng kinh tế kinh doanh cha ổn định: Sự rủi ro trong kinh
doanh tiền tệ đã là rủi ro lớn nhất trong mọi hoạt động kinh doanh, nhng ở VN
11
thì rủi ro ngân hàng còn đợc nhân lên vì hoạt động của các ngân hàng đợc
thực hiện trong điều kiện hành lang pháp lý vừa thiếu vừa không ổn định lại
còn không đồng bộ, đôi khi lại không rõ ràng, hoặc có luật rồi mà không thực
hiện đợc nh vấn đề về xiết nợ, gán nợ, phát mại, cầm cố thế chấp, đất đai,
quyền sở hữu và quyền sử dụng. Do môi trờng pháp lý kinh doanh ngân hàng
cha đầy đủ, cha đồng bộ, thể hiện ở việc ban hành và hớng dẫn thực hiện các
quy định, thông t, hớng dẫn cha thống nhất giữa các ngành có liên quan, hiệu
lực của cơ quan hành pháp cha cao, cha nhất quán trong việc thực thi những
vấn đề có liên quan đến hoạt động ngân hàng do vậy dẫn đến tình trạng khi
thực hiện tại ngân hàng cơ sở có nhiều lúc bị vi phạm, lệch lạc. Nh vậy do
chính sách, thể lệ, chế độ tín dụng ngân hàng cha chặt chẽ, nên ảnh hởng
không nhỏ đến chất lợng tín dụng. Chẳng hạn do sự không thống nhất của một
số văn bản quy định chế độ tín dụng nên có món vay vợt 10% vốn tự có, và
chính những món vay nh vậy không hoàn trả đợc đã gây thiệt hại rất lớn cho
ngân hàng. Về cho vay doanh nghiệp nhà nớc không quy định rõ ràng nh thế
nào thì đợc phép cho vay tín chấp, nh thế nào thì phải có tài sản cầm cố, thế
chấp mới đợc vay, chính vì vậy khi xảy ra nợ quá hạn ở những doanh nghiệp
này rất khó xử lý. Việc quy định theo dõi kiểm tra sau khi vay cũng không cụ
thể, rõ ràng, do vậy những cán bộ tín dụng cha có kinh nghiệm rất khó theo
dõi việc sử dụng tiền vay của khách hàng, nên có một số trờng hợp đã bị một
số kẻ lừa đảo lợi dụng sơ hở về thể chế để chiếm dụng số tiền lớn. Việc cho
phép vay chồng chéo hoặc cho vay các doanh nghiệp ở xã trụ sở hoạt
động của ngân hàng trớc đây đã làm cho việc theo dõi quản lý tiền vay khó
khăn và rất dễ dẫn đến tình trạng nợ quá hạn ở những doanh nghiệp đó và gây
nên tổn thất
Bên cạnh đó thì một số chủ trơng, chính sách của ngành ngân hàng lại
luôn bị thay đổi thậm chí trong một thời gian rất ngắn. Nhiều vấn đề thực tế đã
nảy sinh nhng lại cha đợc quy định bổ sung kịp thời, những quy định của nhà
nớc, của chính phủ thì ngân hàng nhà nớc chậm hớng dẫn để cho các NHTM
thực hiện.
Mặt khác các chính sách về ngân hàng cha đủ sức bảo vệ cho các ngân
hàng chống đỡ đợc với những sóng gió của thơng trờng nh các chính sách về
12
lãi suất, dự phòng rủi ro , tỷ lệ dự phòng của những năm trớc quá thấp lại
trích từ lợi nhuận chứ không phải từ chi phí.
Đối với những doanh nghiệp và những nhà kinh doanh: Do sự thay đổi về môi
truờng pháp lý và chính sách của nhà nớc mà những ngời kinh doanh này
không lờng trớc đợc và không đợc hớng dẫn thực hiện một cách cụ thể cũng
góp phần làm cho khối lợng nợ quá hạn phình to ra. Các chính sách và cơ chế
quản lý vĩ mô của nhà nớc đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện nên th-
ờng có sự điều chỉnh, nhiều doanh nghiệp trong kế hoạch kinh doanh đã
không theo kịp nên có sự bị động, dự báo nhu cầu không sát dẫn đến phát
triển tràn lan và không đúng nhu cầu của thị trờng, do vậy sản xuất kinh doanh
không có hiệu quả. Hơn nữa việc ban hành một số chủ trơng, chính sách của
chính phủ do không dự đoán trớc đợc những khó khăn vớng mắc khi triển khai
thực hiện nên đã tạo ra những rủi ro không dự đoán trớc đợc ví dụ nh những
chỉ thị về đóng của rừng, chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng, những
quy định về quản lý sử dụng đất đai do đó đã có không ít những doanh
nghiệp bị thua lỗ do không theo kịp với sự thay đổi của những chính sách
quản lý kinh tế mà hậu quả là NH cho vay phải gánh chịu. Đồng thời do sự
thay đổi về môi truờng pháp lý và chính sách của nhà nớc làm cho môi truờng
kinh tế cha ổn định do vậy làm cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn,
hàng hoá sản xuất ra không cạnh tranh nổi với thị trờng hàng ngoại nhập tràn
lan làm cho một số doanh nghiệp làm ăn bị thua lỗ, phá sản, làm đảo lộn
chính sách tín dụng của các ngân hàng, đây là nguyên nhân tác động mạnh mẽ
đến sự bất ổn mà hiện nay các ngân hàng thơng mại còn đang phải khắc phục
hậu quả.
- Do khách hàng: Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng còn bị
hạn chế Một số doanh nghiệp khi vay họ lập phơng án kinh doanh rất hiệu quả
nhng do không tính hết đợc những biến động của thị trờng nên đã bị thua lỗ.
Trong một số món vay trung và dài hạn để nhập máy móc thiết bị, do phân
tích dự án không chính xác dẫn đến máy móc nhập về không phát huy đợc tác
dụng gây thiệt hại lớn, không thể hoàn trả đợc tiền vay cho ngân hàng. Một
điều thấy rõ nữa là trình độ ngời quản lý là giám đốc hay kế toán trởng còn bị
hạn chế nhiều mặt nh học vấn, kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên không có
năng lực kinh doanh dẫn đến doanh nghiệp luôn bị thua lỗ.
13
Trong khi đó năng lực tài chính kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều yếu
kém và hoạt động lại cha có hiệu quả. Trong điều kiện kinh tế thị trờng mở
cửa các thành phần kinh tế của VN phát triển mạnh nhng cha có những tập
đoàn kinh tế mạnh đủ vốn, đủ sức mạnh để chiếm lĩnh thị trờng hoạt động sản
xuất kinh doanh. Các mô hình tổng công ty 90,91 thì từng đơn vị thành viên
cũng tự đi lo vốn sản xuất kinh doanh cho mình. Kết quả khảo sát cho thấy
các doanh nghiệp nhà nớc chỉ có từ 5%-10% vốn để hoạt động, còn lại là vay
ngân hàng tới 90%-95% để sản xuất kinh doanh, đối với những doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thì cũng vay NH tới 70%-80% vốn kinh doanh. Trong khi
đó thì cơ chế quản lý doanh nghiệp còn nhiều sơ hở và bất cập, năng lực quản
lý yếu kém, kinh nghiệm quản lý có những nơi có chỗ vừa thiếu lại yếu, công
nghệ thì lạc hậu, máy móc cũ, hàng hoá không đủ sức cạnh tranh, dẫn đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và đây cũng là gánh nặng trong môi truờng
đầu t của NH.
- Do môi trờng pháp lý cho kinh doanh tín dụng NH cha đầy đủ: Hiện
nay điều kiện cho vay lãi phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta cha
có luật về sở hữu, nên không có cơ quan nào chịu cấp chứng th sở hữu tài sản
và quản lý quá trình dịch chuyển tài sản. Còn đối với doanh nghiệp nhà nớc.
Chỉ thị 178 ngày 29/2/1999 của chính phủ thông t 06 ngày 04/4/2000 của NH
nhà nớc là vẫn phải thế chấp, nhng đến nay văn bản hiệu lực đã gần 5 tháng
nhng cục quản lý vốn vẫn cha chịu xác nhận tài sản và cơ quan công chứng thì
cha có chủ trơng, do vậy vẫn còn ách tắc không có cơ quan nhận đăng ký tài
sản thế chấp.
Các quy định của pháp luật kế toán thống kê, kiểm toán cha đủ khả năng
và hiệu lực buộc các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, thống kê kiểm
toán chính xác và kịp thời, hiện nay mới thực hiện bắt buộc đối với các doanh
nghiệp nhà nớc. Trên thực tế có đến 50% khách hàng không thực hiện đúng
quy định của pháp luật về kế toán thống kê. Đối với ngân hàng thì số liệu và
những thông tin để làm căn cứ cho vay lại không đúng và đầy đủ, do vậy dẫn
đến rủi ro.
Tín dụng thơng mại (Mua bán chịu) đang trở thành phổ biến trong giao
dịch thơng mại nhng cha có các chế định về lu thông kỳ phiếu thơng mại nên
xảy ra tình trạng thiếu dụng vốn, công nợ dây da, lừa đảo, chốn thuế, sử dụng
14

Xem chi tiết: 102579


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét