linh kiện cho máy móc chính vì vậy mà Thái Lan có trình độ công nghệ về máy móc gia
công tương đối cao.
Với sự nổi lên của Trung Quốc và việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do Đông Nam
Á ( AFTA), Thái Lan đang điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất của ngành điện và điện tử mặc
dù Thái Lan bị ảnh hưởng bởi chính sách khuyến khích đầu tư phát triển có lựa chọn theo
quốc gia của các công ty Nhật Bản trong khu vực ASEAN, điều này không có nghĩa là
Thái Lan kém năng lực cạn tranh so với Trung Quốc trong lĩnh vực nhân công và chi phí
hậu cần cho sản xuất kinh doanh. Trên thực tế quá trình tái cơ cấu đang cho thấy rõ Thái
Lan là trung tâm xuất khẩu hàng gia dụng như tủ lạnh , điều hòa nhiệt độ, máy giặt và
thiết bị thông tin. Đáng chú ý ý là công ty Seagate có trụ sở ở Mỹ gần đây đã tuyên bố
những kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất đĩa cứng máy tính ở Thái Lan. Ngoài ra
còn có sự dịch chuyển đầu tư tương tự ví dụ như trường hợp của các công ty trách nhiệm
hữu hạn Fujitsu và Hitachi. Thái Lan đang dần thay thế Sinhgapo để trở thành một trung
tâm chính sản xuất đĩa cứng máy tính.
Hình 2. Xu hướng sản xuất của ngành điện-điện tử Thái Lan
0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
20.0
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Billion Dollar
0
50
100
150
200
250
300
350
400
Billion Dollar
Parts
Device
Com m unication
Com puter
AV
Japanese investm ent
for Thailand
Nguồn : Niên giám thống kê ngành điện tử thế giới ( Year Book of World Electronics
Data trên thế giới hàng năm ( Viện nghiên cứu điện tử READ) và từ các số của tạp chí
thống kê tài chính
0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
20.0
199 199 199 199 199 200 200 200 200
0
5
10
15
20
25
30
35
40
Linh phụ kiện
Thiết bị
Viễn thông
Máy tính
Thiết bị nghe nhìn
Đtư của Nhật Bản
vào Thái Lan
Tỷ đô-la
Tỷ đô-la
Hình 3 : Thị phần của Thái Lan sản xuất điện và điện tử ở khu vực ASEAN
Nguồn : Xem bảng 2
3. Những ưu đãi dành cho các công ty Nhật Bản.
Trong khi các công ty Nhật Bản đang góp phần to lớn vào sự phát triển công nghiệp điện
và điện tử của Thái Lan thì họ cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau từ khung
luật pháp, chính sách đến sự thiếu phát triển của của công nghiệp phụ trợ cũng như sự
thiếu hụt nguồn nhân lực. Những giải pháp cơ bản cho vấn đề này vẫn chưa được đưa ra
mặc dù đã đã có những cố gắng từ phía chính phủ Thái Lan và nguồn vốn ODA của Nhật
Bản.
Khung chính sách và thể chế pháp lí
Đề cập đến khung chính sách luật thì Thái lan đã có nhiều luật điều chỉnh hoạt động đầu
tư cũng như các cơ quan chính phủ tham gia việc việc thực thi các luật trên. Tuy nhiên
mức độ phạm vi tham gia của cơ quan chính phủ và các quan chức tham gia vào việc
thực thi những luật này có những sai khác đáng kể. Điều này đã gây ra những phiền toái
nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều công ty Nhật Bản. Ví dụ như các
công ty nước ngoài được Ủy Ban Đầu Tư (BĐT ) thừa nhận thì trên lí thuyết được phép
nhập khẩu vật liệu mà không phải nộp thuế. Tuy nhiên trên thực tế chính sách này chỉ
hoàn lại thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp tại thời điểm các doanh nghiệp đưa ra chứng
cứ có hàng xuất khẩu. Thủ tục này gây ra phiền hà cho các doanh nghiệp và nhiều công
0.0
20.0
40.0
60.0
80.0
100.0
120.0
140.0
199 199 199 199 199 200 200 200 200
Tỷ đô-la
0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
Thái Lan Các nước ASEAN khác Tỷ trọng
ty đã chỉ ra rằng việc hoàn lại thuế nhập như vậy đôi khi bị trì hoãn một cách tuỳ tiện.
Ngoài ra chính phủ thay đổi mức thuế suất nhập khẩu, các công ty bị yêu cầu phải trả
khoản chênh lệch giữa mức thuế cũ và mới trước đây và điều này xảy ra rất thường
xuyên. Vì thế tính bền vững của chính sách luôn được quan tâm. Phần lớn các công ty
đang hoạt động ở Thái Lan gồm cả những công ty hoạt động trong ngành điện và điện tử
đang phải đối mặt với những phiền toái này và đang kêu gọi sự điều chỉnh phù hợp. Mặc
dù nhiệm vụ chính của Ủy Ban Đầu Tư (BĐT) là thu hút các công ty nước ngoài đến
Thái Lan nhưng giờ đây chính là lúc mà Ủy Ban Đầu Tư nên dành nhiều quan tâm hơn
tới việc cung cấp các dịch vụ theo dõi hỗ trợ thường xuyên cho các công ty nước ngoài
mà đã có mặt tại Thái Lan.
Sự kém phát triển của công nghiệp phụ trợ
Đối với các công ty Nhật Bản đang hoạt động ở Thái Lan và mong muốn khuyến khích
sự phát triển các doanh nghiệp Thái Lan thì việc cung cấp những nguyên tắc kinh doanh
cho các doanh nhân Thái Lan là cần thiết để nhận ra nguyên tắc QCĐS ( chất lượng, giá
cả, phân phối, dịch vụ ). Điều này có lẽ còn quan trọng hơn cả công nghệ sản xuất, nâng
cấp thiết bị và máy móc sản xuất. Việc nâng cấp có thể đạt được bằng việc tăng nguồn
nhân lực và tăng thêm vốn đầu tư. Ngược lại đầu óc kinh doanh thì ăn sâu vào và trở
thành đặc điểm của người dân Thái Lan. Để thay đổi được điều này thì cần phải có một
số biện pháp cơ bản nhất định như là cải cách toàn diện hệ thống giáo dục là điều hết sức
cần thiết.
Ở Thái Lan từ lâu người ta đã nhận cần phải khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ
tuy nhiên nhu cầu cấp bách này đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết khi đất nước này
theo đuổi chiến lược đang hướng ra xuất khẩu. Một số việc chuyển giao công nghệ và
đào tạo tay nghề đã được thực hiện trong các lĩnh vực nhựa và thiết bị kim loại , những
ngành đó cần sự chính xác tương đối thấp. Tuy nhiên các trình độ về sản xuất linh kiện và
nguyên vật liệu, công nghệ xử lí bề mặt như phun sơn và mạ cho các linh kiên dùng trong
các sản phẩm điện tử xuất khẩu vẫn còn rất. Lĩnh vực này cần phải được hỗ trợ nhiều hơn
nữa thông qua việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật từ các chuyên gia Nhật Bản và các
biện pháp khác.Trong những năm gần đây khi các công ty ô tô phương Tây và Nh
ật Bản
bắt đầu xem Thái Lan như một trung tâm sản xuất ở khu vực ASEAN thì sự tập trung và
phát triển của các nhà sản xuất linh kiện cũng đang diễn ra mạnh mẽ. Điều này cũng dẫn
tới việc cần thiết phải nâng cấp các ngành công nghiệp phụ trợ mạnh mẽ hơn nữa. Nếu
như đạt được mục tiêu này, Thái Lan bắt đầu có khả năng phát triể
n các công nghệ phức
tạp trong các ngành sản xuất công nghiệp. Phòng Thương mại và Công nhiệp Nhật Bản
và Liên Đoàn Công nghiệp Thái Lan đã đồng tổ chức một cuộc “Hội nghị chuyên đề về
năng suất” với sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Đoàn các tổ chức kinh tế của Nhật Bản. Sự
kiện diễn ra hàng năm này đã được tổ chức 4 lần kể từ năm 2000. Chương trình này nhắm
vào các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ của Thái Lan, đào tạo 40 người của 20 công ty
cho mỗi khoá (mỗi công ty có 2 người đó là chủ tịch và giám đốc ). Hội nghị kéo dài 4
ngày trọng tâm nhằm vào đào tạo hướng nghiệp; bao gồm các bài giảng tập trung vào các
nghiên cứu tình huống, thăm quan nhà máy và đào tạo thực tế trong xưởng của các công
ty mẫu.Chương trình này được đánh giá cao bởi tính thực hành của nó. Nhiều người cho
rằng hội nghị này nên được tổ chức thường xuyên hơn và số lượng công ty cũng nên mở
rộng thêm. Nhưng vấn đề nằm ở quá trình tiếp theo sau khi hội nghị kết thúc do không có
công ty nào tham gia vào chương trình một cách liên tục nên khó có thể đánh giá được lợi
ích của khoá này đào tạo đến đâu. Chương trình hành động của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ( DNV&N ) và một quy hoạch tổng thể đang được tiến hành để phát triển các doanh
nghiệp cỡ vừa và nhỏ. Ngoài ra Viện Phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ (
VPTDNV&N ) đã được thiết lập vào tháng 4 năm 1999 với tư cách là cơ quan nòng cốt
phục cho mục đích này. Nó hợp tác với các trường đại học lớn và các phòng thương mại
và công nghiệp ở các vùng khác nhau để mở ra các chương trình đào tạo và cung cấp các
dịch vụ tư vấn. Tuy nhiên những đối tượng tham gia và nội dung của đa phần các chương
trình hiện nay được thiết kế cho các doanh nghiệp quy mô rất nhỏ chỉ có một số ít chương
trình phù hợp với công ty lớn hơn một chút để phục vụ cho các ngành phụ trợ của ngành
điện và điện tử.
Đảm bảo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực mà các công ty Nhật Bản trong ngành điện và điện tử cần nhất là kỹ sư
thiết kế, sản xuất và hệ thống thông tin cũng như cán bộ quản lí gồm có các kế toán.
Chẳng hạn như trong khi họ muốn tuyển các kỹ sư thiết kế và kế toán có tài, thì rất ít
trường đại học ở Thái Lan có khoa khoa học cơ bản, kỹ sư hoặc kế toán. Khi có nhu cầu
lớn về một loại lao động nào đó thì số lượng lại rất hạn chế vì thế rất khó cho các công ty
có thể đảm bảo tuyển được các cán bộ có tài. Để giải quyết vấn đề này các công ty phải
đưa ra một cơ chế khuyến khích như trả thêm lương cho những người làm việc tốt hơn,
tuy nhiên do lề lối quản lí lao động cũ nên hầu như không thể làm cho liên đoàn lao
động
chấp thuận sự chênh lệch lớn về lương ( trả cho lao động ) trong một công ty. Ở Thái Lan
có khoảng 70 trường đại học gồm Chulalongkorn, Thamasat và Viện Công Nghệ Hoàng
Gia Mongkut đào tạo các sinh viên ngành khoa học cơ bản và xây dựng. Mặc dù nếu chỉ
tính các trường đại học quốc gia và đại học công khác thì số lượng các sinh viên tốt
nghiệp ngành khoa học và xây dựng ước tính hàng năm chỉ vào khoảng hơn 20000 sinh
viên, trong đó có khoảng 10000 họ
c chuyên ngành hoá hoặc khoa học và chỉ khoảng 10
000 theo lĩnh vực xây dựng như kỹ sư điện, kỹ sư cơ khí. Ngược lại, ở Trung Quốc có
1225 trường đại học với số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành khoa học và xây
dựng hành năm là trên 450 000 sinh viên ( số liệu năm 2001 ) . Trong khi việc tuyển
dụng các kỹ sư có tài với lương thấp tương đối dễ dàng ở Trung Quốc , thì các công ty
hoạt động ở Thái Lan hầu như không biết liệu họ có thể thuê được các kỹ sư có năng lực
cao hay không thậm chí nếu có tìm thấy các ứng viên đó thì các công ty cũng phải trả
lương rất cao.
Hiện nay có một kế hoạch đang được tiến hành với sự giúp đỡ của Bộ Kinh Tế Thương
Mại và Công Nghiệp Nhật Bản (METI) để thiết lập một tổ chức trong tương lai gần nhằm
đào tạo công nhân cho các công ty Nhật Bản đang hoạt động ở Thái Lan. Chương trình
giảng dạy theo như đã thảo luận sẽ kéo dài từ 3 đến 6 tháng vừa lí thuyết và thực hành
trong các lĩnh vực quản lý ( kế toán, quản lý lao động, các công việc liên quan đến luật
pháp vv …) , các lĩnh vực liên quan đến thiết kế và các lĩnh vực kỹ thuật liên quan đến
sản xuất ( khoa lắp riáp và khoa công nghệ ). Dự tính mỗi một buổi có xấp xỉ 10 giáo
viên hướng dẫn và 80 học viên (lên lớp). Một câu hỏi vẫn tồn tại đó là làm thế nào có thể
lồng việc đào tạo hướng nghiệp vào chương trình này ngoài các bài giảng trên lớp.
Bảng 1. Các hệ thống giáo dục cung cấp nguồn nhân lực ở Thái Lan
Hệ thống giáo dục của Bộ
Giáo Dục
Có hai định hướng giáo dục. Định hướng thứ nhất gồm có
giáo dục bắt buộc kéo dài trong 6 năm, 3 năm cho trung học
cơ sở, 3 năm trung học phổ thông và 4-5 năm học đại học.
Định hướng thứ hai học sinh nhận được một chứng chỉ đào
tạo nghề, sau hai năm học nữa sẽ nhận được bằng trung cấp
và sau 2-3 năm học nữa sẽ nhận được bằng cử nhân
Hệ thống giáo dục của Bộ
Lao Động và Phúc Lợi Xã
Hội
Theo hệ thống này thì theo sau giáo dục bắt buộc kéo dài 6
năm là đào tạo nghề (tương đương 3 năm trung học cơ sở )
và học sinh phải học thêm về đào tạo nghề để lấy chứng chỉ
bậc 1 ( tương đương với 1 chứng chỉ đào tạo nghề ), để lấy
chứng chỉ bậc 2 ( tương đương với một khoá học trung cấp
kéo dài 2 năm ) và bậc 3 ( tương đương với bằng cấp của
một cử nhân ). Tuy nhiên, hiện nay giáo dục dành cho bậc 2
và bậc 3 vẫn chưa được thực hiện.
Các trung tâm đào tạo và
phát triển kỹ năng
Phòng phát triển kỹ năng ( PPTKN ) của Bộ Lao động và
Phúc Lợi Xã Hội
Xấp xỉ 50 trung tâm đào tạo nghề trên khắp cả nước ( trung
tâm RISD được thành lập năm 1994, PCSD năm 1999 )
Trong ngành điện và điện tử, đào tạo để vận hành máy tính,
các công việc liên quan đến điện, sửa chữa tivi và máy điều
hoà
2.Cục phát triển công nghiệp phụ trợ
-Tiền thân là trung tâm đào tạo vận hành cơ khí máy móc
thành lập năm 1998
-Với sự giúp đỡ của JICA (1999-2004), tập trung vào thúc
đẩy ngành chế biến nhựa và khuôn đúc
3.Viện hợp tác công nghệ Đứ
c-Thái Lan(TGI)
-Được thành lập dưới một dự án chung giữa chính phủ Thái
Lan và Đức vào năm 1995
-Đào tạo kỹ năng trong 3 lĩnh vực: tự động hóa, CAD/CAM,
và thiết kế khuôn kim loại cho dập và gia công nhựa
4. Trung tâm đào tạo kỹ thuật Ayutya
-Một liên doanh giữa công ty Canon và Viện Công nghệ
King MongKuk, thành lập năm 1992 tại Công viên công
nghệ Ayuatta, bắc Bangkok
-Đào tạo tự động hóa,điện, điện tử, và gia công nhựa, CNC
5. Hi
ệp hội xúc tiến công nghệ ( Thái Lan – Nhật Bản)
(TPA)
-Một tổ chức thành lập với sự giúp đỡ của Bộ Công Nghiệp
Thương Mại Nhật (METI) và hội phát triển kinh tế Thái
Nhật
-Tổ chức các hội nghị chuyên đề về quản lý sản xuất, công
nghệ thông tin, tiêu chuẩn chất lượng và các lĩnh vực
quản
trị kinh doanh
6. Trung tâm công nghệ điện tử máy tính quốc gia
(NECTEC)
-Thành lập vào năm 1994 trực thuộc Bộ Khoa Học Môi
Trường
-Tổ chức hội nghị chuyên đề cho phát triển nguồn nhân lực,
như là công nghệ thông tin phục vụ doanh nghiệp, thiết kế
IC, và các hoạt động nghiên cứu phát triển
7. Viện Điện và Điện Tử
-Thành lập như là một tổ chức độc lập vào năm 1998 dưới
sự quản lý của Bộ Công Nghiệp
-Tổ chức hội nghị chuyên đề về công nghệ và quản trị kinh
doanh.
II. Malaysia
1. Chính sách công nghiệp
Dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Mahathir, Bộ Phát triển Công Nghiệp ( MIDA) đã thự
hiện nhiều chính sách phát triển công nghiệp bao gồm chính sách phát triển nguồn tài
nguyên tự nhiên, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện và điện tử và
các ngành công nghiệp liên quan cũng như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh
vực sản xuất ô tô nội địa. Đặc biệt dưới chính sách “ Nhìn về Đông Á” với mục đích cố
gắng đạt sự tăng trưởng kinh tế như Nhật Bản, Chính phủ đã tập trung phát triển chính
sách nhằm thúc đẩy các ngành hướng xuất khẩu thông qua các chính sách hấp dẫn đầu tư
nước ngoài đến những năm của thập kỷ 90 và đã thành công tạo ra một hệ thống rộng lớn
các nhà sản xuất trong ngành điện và điện tử.Công việc quản lý kinh tế rất khó khăn
trong suốt thời kỳ khủng hoảng tài chính khu vực trong năm 1997, và đã buộc Chính phủ
phải cải cách cấu trúc công nghiệp. Tuy nhiên, Malaysia đã trải qua thời kỳ khó khăn do
biết chấp nhận một chính sách tỷ giá hối đoái độc lập ( một tỷ giá hối đoái cố định) không
chịu ảnh hưởng với các thúc ép tử quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) và bây giờ đang phát huy tác
dụng, tạo tiền đề cho con đường phát triển khi Malaysia tiến vào thế kỷ 21.
Chính sách kinh tế dựa vào sự hấp thụ của vốn nước ngoài và đã chứng minh đã thành
công, và Malaysia đang trở thành người dẫn đầu về phát triển kinh tế trong khu vực
ASEAN.Tuy nhiên , với đặc thù là một quốc gia đa chủng tộc với người Mã Lai chiếm
tới 60% dân số, người Trung Quốc chiếm 20% còn lại là người Ấn và các dân tộc khác
20% . Chính sách kinh tế hướng về cộng đồng thiểu số Bumiputra với mục đích tăng vai
trò và địa vị của người Mã lai, đã có những tác động cả thuận lợi và không thuận đối với
đất nước. Đối lập với những dự định hồi đó của thủ tướng Mahathir, xã hội Malaysia đã
đối xử ưu đãi thiên vị người Mã Lai trong kinh tế , chính trị . Trong bối cảnh đó, vô hình
chung nền kinh tế và các doanh nghiệp đã không phổ biến triết lý sản xuất ( monodukuri)
mà các công ty Nhật bản tìm kiếm. Kết quả là không có nhiều các kỹ thuật công nghệ cao
đuợc chuyển giao cho những doanh nghiệp của người bản địa.
Với nguồn lực lao động có hạn và sự yếu kém dần năng lực cạnh tranh, chính phủ đã
công bố một chính sách chuyển dịch nền kinh tế dựa vào sản xuất ( P-Economy) sang nền
kinh tế dựa trên tri thức(K-economy) trong khoảng thời gian giữa thập niên 90 với mục
tiêu thoát khỏi nền kinh tế phụ thuộc vào các ngành công nghiệp lắp ráp phụ thuộc vào
vốn đầu tư từ nước ngoài. Mặc dù các doanh nghiêp của Malaysia dường như có vị trí
tương đối tốt khi cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc do nhờ vào một hệ thống
rộng lớn của các công ty Nhật bản và các công ty nước ngoài, nó vẫn thay đổi mạnh mẽ
chính sách đầu tư nước ngoài sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Những dự định của
Malaysia giờ đây là chuyển dịch sang phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng
cao thông qua đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và đầu tư vào công nghệ thông tin.
Malaysia đang nỗ lực rất lớn để tạo ra Hành lang siêu xa lộ thông tin được đưa ra từ giữa
năm 1990.
Chính sách “ Hướng Đông Á”
Trong quá trình thiết kế phát triển chiến luợc xây dựng quốc gia, thủ tướng Mahathir đã
chọn lựa chính sách “ Hướng Đông Á” vào năm 1981 với mục đích học tập kinh nghiệp
phát triển của Nhật và Hàn Quốc. Cùng với chính sách ưu đãi người thiểu số Malai (
Bumiputra), Thủ tướng Mahathir đã xây dựng một hệ thống cử người Malay tới các nước
trên thế giới để học hỏi. Khi thủ tướng Mahathir lưu ý đặc biệt với đặc điểm về tinh thần
công việc, đạo đức kinh doanh và kỹ năng quản lý của người Nhật, xấp xỉ 14000 sinh
viên Mã Lai đã được học tập tại Nhật Bản dưới chính sách này đến năm 2003. Những
sinh viên muốn tham gia vào chương trình này được học tập khóa dự bị trong các trung
tâm của Nhật trong khuôn viên các trường đại học của Malaysia trước khi tới các trường
đại học Nhật để học tập. Tính tới hôm nay, 1580 sinh viên Mã lai đã hoàn thành chương
trình học tập của mình trong các trường đại học quốc gia Nhật Bản thuê nhân công địa
phương thường nhìn nhận các sinh viên du học tự túc tốt nghiệp các trường nước ngoài
tài năng hơn các sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ưu đãi cho người Mã lai. Tuy
nhiên, chính sách Nhìn về hướng Đông đã tồn tại 20 năm, một số cựu sinh viên ở
Nhật
bản đã tận dụng ưu thế kinh nghiệm làm việc với các công ty Nhật Bản để thành lập các
doanh nghiệp riêng. Gần đay, 25 các doanh nghiệp thành công đã tập hợp lại để thành lập
một liên doanh” Hướng Đông Á” ,và bằng cách phát triển và thành lập văn phòng công
nghiệp và thương mại, đang triển khai công việc cầu nối giữa doanh nghiệp Nhật Bản(
đặc biệt là phòng thương mại công nghiệp Nh
ật Bản) và các doanh nghiệp nội đia của
người bản xứ.
Hình 04. Số sinh viên du học dưới chính sách Hướng Đông Á
Nguồn : Ngân hàng phát triển hải ngoại Nhật Bản (JBIC).
Ghi chú: Chính sách Hướng Đông của Malaysia bao gồm các chương trình (i) Chương
trình đào tạo học thuật (AEP); (ii) Chương trình đào tạo kỹ thuật (TEP); (iii) Chương
trình học tiếng Nhật cho các giáo viên Malaysia (JLPMT); (iv) Chương trình đào tạo kỹ
thuật-công nghiệp trong nhà máy (công nghệ thông tinTP); (v) Chương trinh đào tạo
ngắn ngày cho các doanh nhân quản lý (STME); (vi) Chương trình đào tạo quản trị kinh
doanh và chương trình kèm với các công ty Nhật Bản; (vii) Học bổng do tổ chức, chính
phủ Nhật tài trợ.
Sáng kiến hành lang siêu xa lộ thông tin
Mặc dù Malaisia tiếp tục là một trung tâm sản xuất chính của công nghiệp điện và điện tử
trong khu vực ASEAN, nhưng nó đang bị cản trở bởi hai vấn đề chính (i) mạng lưới các
ngành công nghiệp phụ trợ gây ra sự phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu nguyên vật
liệu và phụ tùng; (ii) tình trạng khan hiếm lực lượng lao động gây nên chi phí lao động
cao. Như là một phần trong chương trình Siêu xa lộ
thông tin, chính phủ đã công bố
chính sách thúc đẩy lĩnh vực điện và thiêt bị viễn thông-phần mềm. Điều này có nghĩa là
sự chuyển dịch sản xuất thiết bị điện và thiết bị hàng điện dân dụng tiêu dùng sang các
linh vực khác . Trong bất cứ trường hợp nào, bởi vì khu vực tự do mậu dich ASEAN(
AFTA) sẽ buộc các quốc gia tập trung vào những lĩnh vực mà có lợi thế cạnh tranh do
vậy không sớm thì muộn, tốc độ sản xuất các hàng hóa thiết bị điện tiêu dùng thông dụng
sẽ có xu hướng giảm xuống.
Others
(
10514
)
73%
P ostgraduate
(
71
)
0%
Help
Ⅰ
&Help
Ⅱ
(
522
)
4%
TEP
(
1121
)
8%
AEP
(
2078
)
15%
Chương trình Siêu xa lộ thông tin đã tạo ra một trung tâm nghiên cứu và phát triển cho
các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ thông tin.Trung tâm này có diện tích khoảng
15 km2 trải dài từ trung tâm thủ đô Kuala Lumpur (KL) ở phía bắc tới sân bay quốc tế
Kuala Lumpur ở Sepang ở phía nam. Trung tâm này tổng cộng có 8 dự án đặc biệt bao
gồm một trung tâm y tế từ xa, một trường học chất lượng cao, các cơ sở nghiên cứu
R&D, trung tâm đa chức năng và chính phủ điện tử. Các công ty liên quan đến bất kỳ một
trong những dự án trên được những ưu đãi như được lựa chọn miễn 100% thuế đầu tư
hoặc là ưu đãi cho các nhà đầu tư tiên phong trong vòng 10 năm. Các công ty này cũng
được phép tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài khi cần thiết.
Bảng 02. Hành lang siêu xa lộ thông tin: Các doanh nghiệp tham gia
Nguồn: MSC
Hình 5. Hành lang siêu xa lộ thông tin: Tham gia phân theo ngành (tháng 11. 2002)
1997
1998 1999 2000 2001
2002/11
Mala
ysian capita i50%< j
47 84 181 276 410
522
Forei
gn capita i50%< j
44 84 112 144 198
239
J
V i50%-50% j
12 31 34 38 50
53
iGlobal big company j
3 6 7 9 13
18
Tota
l
94 197 300 429 621
779
0
20
40
60
80
100
120
140
160
Phần cứng – Điện tử
Linh phụ kiện, thiết bị
Kinh doanh bằng Internet, Dịch vụ/
Cung ứng thương mại điện tử
Phát triển
phầm mềm kinh doanh
Phát triển phần mềm
Ứng dụng kỹ thuật
Hệ điều hành
Viễn thông
Các ngành khác
Số lượng
Kinh doanh bằng Internet, Dịch vụ ứng dụng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét