Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của CTCK
Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp, tùy thuộc vào quy định
của từng nước về mô hình, cơ sở vật chất, vốn điều lệ mà các CTCK có thể
thực hiện một, một số hoặc toàn bộ hoạt động của CTCK. Nhìn chung các
CTCK có các hoạt động cơ bản sau:
1.1.2.1 Hoạt động tự doanh
Tụ doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán các chứng
khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của CTCK được thục hiện thông
qua cơ chế giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) hoặc thị
trường OTC. Trên thị trường tập trung, lệnh giao dịch của CTCK được đưa
vào hệ thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của khách hàng. Trên
thị trường OTC các hoạt động này có thể được thực hiện tiếp giữa công ty với
các đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin. Mục đích của hoạt
động hoạt động của các CTCK là nhằm thu lợi cho chính mình.
Khác với hoạt động môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinh
doanh bằng chứng nguồn vốn của của công ty. Vì vậy CTCK đòi hỏi phải có
nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng
phân tích và đua ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp
đóng vai trò nhà tạo lập thị trường.
1.1.2.2 Hoạt động bảo lãnh phát hành
Hoạt động bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh
giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán,
tổ chức việc phân phối chứng khoán, giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai
đoạn đầu sau khi phát hành. Như vậy các CTCK giúp cho tổ chức phát hành
thực hiện thành công đợt chào bán chứng khoán ra công chúng. Doanh thu
của CTCK từ hoạt động này là phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định
5
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
5
Khoá luận tốt nghiệp
trên số tiền thu được từ đợt phát hành do đó hoạt động bảo lãnh phát hành
chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của CTCK, đồng thời đây
cũng là hoạt động đòi hỏi phải có vốn pháp định cao nhất.
1.1.2.3 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Đây là hoạt động quản lý vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào
chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên
cơ sở tăng lợi nhuận và bảo quản vốn cho khách hàng.
Quản lý danh mục đầu tư là một dạng hoạt động tư vấn mang tính chất
tổng hợp kèm theo đầu tư, khách hàng ủy thác cho CTCK thay mặt mình
quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách
hàng chấp nhân hoặc yêu cầu ( mức lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro có thể chấp
nhận vv vv). Thực hiện hoạt động này cho khách hàng CTCK vừa bảo quản
hộ chứng khoán, vừa đầu tư hộ chứng khoán. Thông thường CTCK nhận
được phí quản lý bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên một số lợi nhuận thu
về cho khách hàng.
Quy trình của một hoạt động quản lý danh mục đầu tư bao gồm:
- Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: CTCK và khách hàng tìm hiểu về khả
năng tài chính, chuyên môn tư đó đưa ra các yêu cầu về quản lý vốn ủy thác.
- Ký hợp đồng quản lý: lúc này công ty và khách hàng sẽ ký hợp đồng
theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian ủy thác, mục tiêu đầu tư, quyền
và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư.
- Thực hiện hợp đồng quản lý: CTCK thực hiện đầu tư vốn ủy thác của
khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảm bảo tuân thủ các
quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chính công ty.
- Kết thúc hợp đồng quản lý: khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các
khoản phí quản lý theo các hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợp khi
CTCK ngưng hoạt động, giải thể hoặc phá sản.
6
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
6
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2.4 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc
CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các
tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến
phát hành, đầu tư và cơ cấu cho khách hàng.
Đối với hoạt động tư vấn chứng khoán do đặc điểm riêng trong ngành
là giá cả thị trường luôn biến động nên việc tư vấn về giá trị chứng khoán rất
khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều xung đột về lợi ích. Đặc biệt là với
hoạt động này các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về giá trị
và xu hướng giá cả của các loại chứng khoán, việc này có thể do khả năng
hoặc có thể do họ cố tình gây hiểu lầm để kiếm lợi. Do vậy, đây là hoạt động
hoạt động cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏi phải có những giới hạn nhất
định khi thực hiện công việc.
Một số hoạt động tư vấn cơ bản:
- Tư vấn tài chính doanh nghiệp
- Tư vấn cổ phần hóa
- Tư vấn niêm yết
- Tư vấn mua và sáp nhập công ty
- Tư vấn bán và giải thể công ty
…….
1.1.2.5 Các hoạt động khác.
*/ Lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc
trong giao dịch chứng khoán, bởi giao dịch chứng khoán trên thị trường tập
trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký
chứng khoán tại các CTCK ( nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi
7
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
7
Khoá luận tốt nghiệp
sổ ) hoặc ký gửi chứng khoán ( nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật
chất ). Khi thực hiên hoạt động lưu ký chứng khoán cho khách hàng CTCK sẽ
nhận được phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng
chứng khoán.
*/ Quản lý cổ tức
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo
dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận
và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
*/ Hoạt động tín dụng
Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh hoạt động môi giới cho khách
hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán
để khách hàng thực hiện hoạt động bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền
để khách hàng thực hiện hoạt động mua ký quỹ.
1.2 Hoạt động môi giới chứng khoán.
1.2.1 Khái niệm
Thị trường ngày càng phát triển ở trình độ cao, sản phẩm và dịch vụ
càng dồi dào về số lượng, đa dạng phong phú về chủng loại, tinh tế và nhạy
cảm trong vận hành chức năng. Theo đó đòi hỏi về việc cung cấp cho người
đầu tư những thông tin cần thiết, những lời khuyên mang tính thời điểm hay
mang tính thời điểm hay mang tính chiến lược và giúp người đầu tư thực hiện
giao dịch theo các cách có lợi nhất do vậy phải có hoạt động môi giới chứng
khoán phát triển mang tính chuyên nghiệp cao. Với tư cách là một thể chế bậc
cao của nền kinh tế thị trường, một trong những đặc trưng của TTCK là hoạt
động theo nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này các giao dịch trên thị
trường bắt buộc phải thực hiện thông qua người môi giới mà đại diện là các
CTCK. Giao dịch trên thị trường phải thông qua môi giới trung gian nhằm
8
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
8
Khoá luận tốt nghiệp
đảm bảo sự công bằng bình đẳng giữa mọi người, đảm bảo lợi thế ngang bằng
trong giao dịch.
Như vậy, môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh trong đó
một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế
giao dịch tại sàn giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách
hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của chính giao dịch đó.
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các
sản phẩm,dich vụ tư vấn đầu tư và kêt nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán
và nhà đầu tư mua chứng khoán. Và trong những trường hợp nhất định, hoạt
động môi giới sẽ trở thành những người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng
thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư giúp nhà đầu tư
có những quyết định tỉnh táo. Xuất phát từ yêu cầu trên, người môi giới đòi
hỏi phải có những phẩm chất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công
việc và với thái độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt
nhất.
Người môi giới chứng khoán là những người hoạt động chuyên nghiệp
trên thị trường, họ là những chuyên gia tài chính có khả năng phân tích tình
hình kinh tế - xã hội, phân tích đánh giá tình hình hiên tại và nhận định xu
hướng trong tương lai của các loại chứng khoán cũng như xu thế chung của
toàn thị trường. Người môi giới không chỉ đơn giản là trung gian giao dịch
mua bán chứng khoán cho khách hàng họ còn là người tư vấn cho khách
hàng. Nhà đầu tư khi tìm đến các CTCK nói chung hay các nhân viên môi
giới nói riêng luôn mong nhân được những lời khuyên, lời tư vấn tất cả các
hoạt động mua bán của mình. Có những nhà đầu tư mà sự hiểu biết để lụa
chọn chứng khoán và thời cơ đầu tư còn chưa cụ thể, họ tìm đến là mong
muốn được tư vấn, giúp đỡ để đưa ra quyết định.Thấy rằng hoạt động môi
giới chứng khoán tại CTCK là một hoạt động khép kín bao gồm các hoạt
9
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
9
Khoá luận tốt nghiệp
động sau: tư vấn đầu tư chứng khoán, giao dịch chứng khoán và các dịch vụ
hỗ trợ khách hàng.
1.2.2 Vai trò của môi giới chứng khoán
1.2.2.1 Giảm chi phí giao dịch
Cũng như trên tất cả thị trường khác, để tiến hành giao dịch thì người bán và
người mua phải có cơ hội để gặp được nhau, thẩm định chất lượng hàng hóa
và thoả thuận giá cả. Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán với tư cách là
một thị trường của sản phẩm và dịch vụ bậc cao, để thẩm định chất lượng và
giá cả của hàng hóa, người ta cần một khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho
việc thu thập, xử lí thông tin và tiến hành quy trình giao dịch trên một hệ
thống thị trường đấu giá, tập trung. Những chi phí đó chỉ có các CTCK hoạt
động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải do được
hưởng lợi ích kinh tế nhờ quy mô lớn. Như thể vai trò của môi giới chứng
khoán là tiết kiệm được chi phí giao dịch xét trong từng giao dịch cụ thể cũng
như trong tổng thể thị trường, nhờ đó giúp nâng cao tính thanh khoản thị
trường.
1.2.2.2 Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
Công ty môi giới chứng khoán và các nhân viên môi giới, khi thực hiện
vai tròn làm trung gian giữa người bán và người mua có thể nắm bắt được nhu
cầu của khách hàng và phản ánh với người cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Có
thể nói hoạt động môi giới chính là một trong những nguồn cung cấp những ý
tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Kết quả của
quá trình đó, xét trong dài hạn, là cải thiện được tính đa dạng của sản phẩm và
dịch vụ nhờ đó đa dạng hóa được cơ cấu khách hàng, thu hút được ngày càng
nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư tăng trưởng.
*/ Góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư
10
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
10
Khoá luận tốt nghiệp
Hoạt động của công ty môi giới và nhân viên môi giới chứng khoán
một khi đã thâm nhập sâu rộng vào cộng đồng các doanh nghiệp và người đầu
tư sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần hình thành nên cái gọi là một nền văn
hóa đầu tư. Những đặc trưng chủ yếu của một nền văn hóa đầu tư là:
- Ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng. Trong những nền kinh tế
mà môi trường đầu tư còn thô sơ thì thu nhập được tạo ra trong các hộ gia
đình sau khi đã trang trải cho những nhu cầu cơ bản của cuộc sống thường
được chi tiêu cho những mục đích phi sản xuất với tỷ lệ khá cao, trong khi
vốn cho tăng trưởng trong nền kinh tế lại thiếu trầm trọng. Khi nhân viên môi
giới tiếp cận tới những khách hàng tiềm năng, họ mang những sản phẩm tài
chính phù hợp với nhu cầu của khách hàng, họ giải thích về những lợi ích mà
sản phẩm đem lại, và sau khi khách hàng chấp nhận mở tài khoản nhân viên
môi giới sẽ thường xuyên quan tâm chăm sóc tài khoản theo cách có lợi nhất
cho khách hàng. Hoạt động này lâu dần sẽ hình thành nên thói quen đầu tư
vào tài sản tài chính.
- Thói quen và kỹ năng sử dụng các dịch vụ đầu tư, mà phổ biến là dịch
vụ môi giới chứng khoán. Theo thời gian, người đầu tư sẽ dần dần hình thành
được sự tin cậy và ủy thác cho người môi giới chứng khoán.
- Môi trường pháp lý, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật. Chính hoạt
động của các công ty môi giới chứng khoán và nhân viên môi giới là một yếu
tố góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý trong kinh doanh chứng khoán.
Hoạt động môi giới sẽ đưa pháp luật đến với người đầu tư giúp họ luôn có ý
thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật; đồng thời cũng phản ánh những bất cập
trong điều chỉnh của khuôn khổ pháp lý tới các nhà làm luật để kịp thời chỉnh
sửa.
*/ Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh
Để thành công trong nghề môi giới chứng khoán, điều quan trọng là
từng công ty môi giới và từng người môi giới phải thu hút được nhiều khách
11
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
11
Khoá luận tốt nghiệp
hàng tìm đến, giữ chân được những khách hàng đã có và gia tăng được khối
lượng tài sản mà khách hàng đã ủy thác cho họ quản lý. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy ở những thị trường phát triển, 20% trong tổng số các nhà môi
giới – những người thành công nhất – đã tạo ra tới 80% nguồn thu từ hoa
hồng cho công ty hoặc cho ngành; và tính trung bình thì một nhà môi giới
hàng đầu điển hình tạo ra khoản thu từ hoa hồng nhiều gấp 16 lần mức thu mà
một người môi giới trung bình mang lại. Nguyên nhân tạo ra sự khác biệt này
chính là quá trình cạnh tranh giữa những người hành nghề môi giới khiến họ
phải không ngừng trau dồi nghiệp vụ, nâng cao đạo đức và kĩ năng hành nghề,
nghiêm chỉnh chấp hàng pháp luật và những quy định của công ty. Quá trình
này đã nâng cao được chất lượng và hiệu quả của hoạt động môi giới chứng
khoán xét trên toàn cục.
1.2.2.3 Hình thành những dịch vụ mới trong nền kinh tế tạo thêm
việc làm và làm phong phú thêm cho môi trường đầu tư.
Với phương thức hoạt động là chủ động tìm đến khách hàng đặc biệt là
những khách hàng cá nhân và đem đến cho họ những dịch vụ tài chính tốt
nhất. Nên CTCK nào cũng có lực lượng những người bán hàng rất đông đảo.
Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở khách hàng của người môi
giới, trong xã hội sẽ xuất hiện các dịch vụ khác như cung cấp các danh sách
khách hàng tiềm năng được phân loại theo những tiêu chí đề ra bởi người môi
giới.
1.2.3 Phân loại nhà môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán cũng có thể phân chia làm nhiều loại với nhiều
đặc điểm khác nhau:
- Nhà môi giới chứng khoán không mua bán chứng khoán cho chính
mình. Những người này chỉ đóng vai trò kết nối và giúp thực hiện yêu cầu
giữa người mua và người bán. Chứng khoán và tiền được trao đổi trực tiếp từ
12
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
12
Khoá luận tốt nghiệp
khách bán sang khách mua và ngược lại, người môi giới không đứng tên tài
sản giao dịch.
- Môi giới độc lập hay môi giới 2 đô la: nhà môi giới này làm việc cho
chính họ và hưởng hoa hồng theo dịch vụ. Họ là những thành viên tự bỏ tiền
ra thuê chỗ tại sở giao dịch, họ thực thi lệnh cho các công ty thành viên khác
tại sàn giao dịch. Khi đó, các CTCK sẽ hợp đồng với nhà môi giới độc lập để
thực hiện lệnh cho khách hàng của mình.
- Môi giới được uỷ nhiệm hay thừa hành: nhà môi giới này làm việc
hưởng lương của CTCK, được bố trí thực hiện lệnh mua bán chứng khoán cho
chính công ty hay cho khách hàng trên sàn giao dịch. Do đó, họ còn được gọi
tên khác là môi giới trên sàn.
1.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động môi giới chứng khoán.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của CTCK nói
chung cũng như hiệu quả hoạt động môi giới của CTCK nói riêng.Nhân tố
chủ quan là những nhân tố thuộc về bản thân công ty.
1.3.1.1 Đội ngũ nhân viên môi giới.
Có thể nói yếu tố con người là nhân tố hàng đầu cho sự phát triển hoạt
động tại CTCK. Đối với hoạt động môi giới mang nhiều nét đặc trưng cơ bản
như vậy thì đòi hỏi đội ngũ nhân viên không chỉ có kiến thức chuyên môn và
xã hộ sâu rộng, am hiểu pháp luật mà còn đòi hỏi phải luôn tuân thủ chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Đây là
những yếu tố quan trọng để tạo lập và duy trì niềm tin của khách hàng đối với
CTCK. Mục tiêu của các CTCK là làm sao thu hút được nhiều nhà đầu tư, mở
rộng mạng lưới hoạt động …muốn đạt được mục tiêu như vậy thì các công ty
phải có chiến lược tiếp cận khách hàng tiềm năng, chính những nhân viên môi
giới là những người đầu tiên cho khách hàng hình ảnh đầu tiên về CTCK. Do
13
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
13
Khoá luận tốt nghiệp
vậy đội ngũ nhân viên môi giới phải trang bị cho mình những kỹ năng cần
thiết như: kỹ năng tìm kiếm khách hàng, kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ
năng khai thác thông tin, kỹ năng bán hàng.Một CTCK với đội ngũ nhân viên
có trình độ chuyên môn cao,tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, năng động, đoàn
kết sẽ là nền tảng cho sự thành công của công ty.
1.3.1.2 Chiến lược kinh doanh của công ty
Chiến lược kinh doanh của công ty cũng là một nhân tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động môi giới của CTCK. Ban lãnh đạo phải
xác định chiến lược tổng thể từ đó ban lãnh đạo công ty sẽ xây dựng chiến
lược phát triển, chính sách phù hợp cho hoạt động môi giới ở từng giai đoạn,
từng thời kỳ khác nhau. Mỗi chính sách khác nhau, cách thực hiên chính sách
khác nhau thì kết quả cũng sẽ khác nhau. Nêu ban lãnh đạo công ty không đặt
mối quan hệ giữa hoạt động môi giới và hoạt động khác trong mối quan hệ
tương hỗ thì hiệu quả công ty thu được sẽ không cao, lúc đó công ty sẽ không
tạo được chỗ đứng, danh tiếng và uy tín trên thị trường.
1.3.1.3 Uy tín và quy mô vốn của CTCK
Tâm lý chung của các nhà đầu tư, đặc biệt đối với nhà đầu tư chưa có
kinh nghiệm khi tham gia vào thị trường là họ sẽ tìm đến CTCK có uy tín
cùng với đội ngũ nhân viên môi giới tin cậy để được đầu tư hoặc tư vấn cho
hộ trong quyết định đầu tư đảm bảo được sự an toàn hiệu quả. Do vậy uy tín
là một yếu tố quyết định sự thành công của CTCK.
Khi bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ doanh nghiệp
nào cũng cần phải có vốn. Đặc biệt là kinh doanh chứng khoán là một trong
những ngành nghề phải có vốn pháp định. Vốn này sẽ giúp công ty hình thành
nên trang thiết bị cơ sở vật chất, đồng thời sẽ giúp công ty chi trả các khoản
chi phí như: chi phí nguồn nhân lực, chi phí tìm kiếm, chi phí nghiên cứu ….
Đối với hoạt động môi giới mức vốn tối thiểu phải là 25 tỷ. Thực tế cho thấy
14
Nguyễn Thị Hoàng Anh Lớp TCDN 46Q
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét