Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, các
chính sách có liên quan đến hoạt động của đơn vị.
Nhà quản trị xây dựng các thể thức và nguyên tắc để thoả mãn các mục tiêu
của Doanh nghiệp. Cơ cấu kiểm soát nội bộ đợc thiết kế để mang lại sự bảo đảm
chắc chắn các quyết định và chế độ quản lý đợc thực hiện đúng thể thức, đồng thời
giám sát mức hiệu quả của các chế độ và các thể thức đó. Nhân viên trong công ty
phải tuân thủ các chính sách, quyết định nội bộ, cụ thể là:
- Phát hiện kịp thời những rắc rối trong kinh doanh để hoạch định và thực
hiện các biện pháp đối phó.
- Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và các gian lận trong kinh doanh.
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ của
hoạt động kinh doanh.
- Lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp
định có liên quan.
* Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.
Các quá trình kiểm soát trong mọi tổ chức nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không
cần thiết các nỗ lực và sự lãng phí trong mọi lĩnh vực kinh doanh, nhằm ngăn cản
việc sử dụng kém hiệu quả các nguồn tiềm năng. Định kỳ, nhà quản lý đánh giá
kết quả hoạt động để nâng cao hiệu năng quản lý, đảm bảo cơ cấu bộ máy đơn vị
có đủ năng lực điều khiển, chỉ huy đơn vị.
* Các mục tiêu chi tiết và nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Đối với bất kỳ loại hình nghiệp vụ kinh tế nào trong một doanh nghiệp đều
có thể xảy ra một vài loại sai sót của quá trình ghi sổ. Có bảy mục tiêu mà một cấu
trúc kiểm soát nội bộ phải thoả mãn để ngăn ngừa các sai sót nh vậy.
Cụ thể là:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
stt Các mục tiêu chi tiết của hệ thống kiểm soát nội bộ
1 Các nghiệp vụ kinh tế phải có căn cứ hợp lý( tính có căn cứ hợp lý).
2 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phê chuẩn đúng đắn( mục tiêu về sự phê chuẩn).
3 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổ một cách đầy đủ( mục tiêu về tính đầy đủ).
4 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc đánh giá đúng đắn( mục tiêu về sự đánh giá).
5 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phân loại đúng đắn( mục tiêu về sự phân loại).
6 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phản ánh đúng hạn( mục tiêu về tính đúng kỳ).
7 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi đúng đắn vào sổ phụ và đợc tổng hợp chính xác( mục
tiêu về tính chính xác cơ học).
Bảy mục tiêu trên đợc áp dụng cụ thể cho từng nghiệp vụ trọng yếu trong
cuộc kiểm toán.
Cùng với mục tiêu trên, hệ thống kiểm soát nội bộ phải đảm bảo thực
hiện các nguyên tắc sau:
stt Các nguyên tắc trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ
1 Nguyên tắc phân công phân nhiệm
2 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
3 Nguyên tắc uỷ quyền phê chuẩn
Tóm lại, kiểm tra- kiểm soát là những hệ thống có chức năng xác minh,
đánh giá, nhận xét về đối tợng kiểm tra- kiểm soát. Hoạt động kiểm tra kiểm soát
nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu của quản lý. Các yếu tố của hệ thống
kiểm tra- kiểm soát bao gồm tất cả các yếu tố đối chiếu, xem xét, xác minh đối t-
ợng của quản lý. Tổ chức kiểm tra- kiểm soát thể hiện cả tính khoa học và tính
nghiệp vụ kỹ thuật về việc thực hiện các chiến lợc và bớc đi cụ thể trong hoạch
định chính sách và tổ chức bộ máy kiểm tra- kiểm soát ở cả tầm vĩ mô và vi mô
của nền kinh tế.
1.2. Các nội dung của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp thờng đợc xem gồm 4
yếu tố cấu thành nên, đó là:
(1)
Môi trờng kiểm soát
(2)
Hệ thống kế toán
(3)
Hoạt động
kiểm soát
(4)
Giám sát độc lập hoạt động kiểm soát.
Môi trờng kiểm soát (MTKS): Là thái độ, khả năng, sự nhận biết và các
hoạt động của ngời quản lý, các chính sách, thủ tục kiểm soát, tính trung thực và
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
giá trị đạo đức, cơ cấu tổ chức, sự phân công trách nhiệm, phân chia quyền lực,
chính sách về nhân sự. MTKS là thành phần quan trọng nhất trong bốn thành phần
của hệ thống KSNB, nếu thiếu MTKS hữu hiệu thì chắc chắn hệ thống KSNB sẽ
không có hiệu quả, kể cả khi ba thành phần khác của hệ thống KSNB có chất lợng
tốt. Hiệu quả của hệ thống KSNB luôn phụ thuộc vào quan điểm của ngời quản lý
cao cấp. Nếu ngời quản lý cao nhất coi trọng công việc kiểm toán thì các nhân
viên trong đơn vị sẽ tuân thủ nghiêm túc và thận trọng quy chế quản lý của đơn vị
đã đợc xây dựng và ngợc lại. Do vậy kết quả đánh gía về MTKS nói chung và quan
điểm của ngời lãnh đạo nói riêng có ảnh hởng lớn đến đánh gía toàn bộ hệ thống
KSNB. KTV phải nhận biết đợc từng nội dung, yếu tố của MTKS đợc thiết lập và
thực hiện theo các phơng pháp sau:
Cập nhật và đánh giá đúng mức tài liệu ( báo cáo khảo sát, báo cáo kiểm
toán ) và kinh nghiệm của các KTV đã thực hiện kiểm toán trớc đó. Bởi vì hệ
thống và công việc kiểm soát thờng không thay đổi liên tục, thông tin này có thể
đợc cập nhật và đợc áp dụng phù hợp cho công việc kiểm toán những năm tiếp
theo.
Tiến hành trao đổi, phỏng vấn ngời quản lý cấp cao và các nhân viên quản
lý của đơn vị đợc kiểm toán về các nội dung của KSNB. Nội dung trao đổi cần đợc
chuẩn bị chu đáo, có thể dới dạng các nội dung hoặc bằng câu hỏi trả lời có,
không, hoặc không sử dụng. Cần đặc biệt chú ý đến các nội dung:
- Đối với thái độ của ngời quản lý: Thể hiện bởi quá trình đào tạo và việc
nắm bắt các nội dung kiểm soát. nếu những ngời quản lý cao cấp đợc đào tạo
chính quy, đúng chuyên ngành, kết quả phỏng vấn cho thấy họ hiều biết công việc
kiểm soát cùng với hệ thống chính sách thủ tục kiểm soát đợc ban hành đầy đủ, đó
là biểu hiện của ngời quản lý có năng lực, quan tâm và coi trọng công tác kiểm
soát thì hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả.
- Tính trung thực và giá trị đạo đức: Thông qua việc đối chiếu kết quả trao
đổi với ngời quản lý cấp cao và kết quả trao đổi với các nhân viên kết hợp những
xem xét, quan sát khác để đánh giá tính trung thực và đạo đức của ngời lãnh đạo
đơn vi. Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hởng đến hành vi ứng xử, tính trung thực
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
của nhân viên trong công việc và độ tin cậy của các thông tin thu thập đợc cũng
nh độ tin cậy của hệ thống KSNB và báo cáo tài chính.
- Chính sách về nhân sự: Một chính sách đối đãi, thăng chức và đào tạo tốt
sẽ đảm bảo cho các hoạt động kiểm soát đợc thực hiện nghiêm túc và có hiệu lực.
- Thu thập, nghiên cứu các tài liệu, ghi chép có liên quan đến MTKS : gồm
các chính sách, quy chế, thủ tục về KSNB đợc thiết lập: nh quy định về quy trình,
thủ tục, quan hệ giữa các bộ phận trong quản lý thu chi, sử dụng và bảo quản tài
sản Một hệ thống các chính sách, quy chế, thủ tục về KSNB đầy đủ là biều hiện
của một MTKS có hiệu lực.
Quan sát: KTV có thể lựa chọn một số công việc kiểm soát xuyên suốt mọi
hoạt động của đơn vụ để quan sát thực tế, ví dụ: nghiệp vụ mua vật t, từ khi lập kế
hoạch, phê duyệt, thực hiện, thủ tục kiểm tra chất lợng hàng nhập kho, bảo quản
và xuất dùng.
Tổng hợp kết quả của bốn phơng pháp trên sẽ cho phép KTV sự hiều biết
đầy đủ về MTKS nội bộ của đơn vị đợc kiểm toán.
Hệ thống kế toán: Thực hiện nghiêm túc công tác kế toán đó chính là một
trong những điều kiện phát huy đợc tác dụng tự kiểm tra của kế toán. Nghiên cứu
hệ thống kế toán cần xem xét việc chấp hành quy định của Nhà nớc ở các nội
dung: chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế toán và quá
trình kiểm tra kế toán. Tơng tự nh phơng pháp để nhận biết môi trờng kiểm soát.
Tuỳ điều kiện cụ thể KTV có thể sử dụng một số hoặc tất cả phơng pháp đã nêu ở
trên để xem xết, xác định:
(1)
các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu của đơn vị;
(2)
các nghiệp
vụ về kinh tế này đợc bắt đầu nh thế nào;
(3)
hiện đợc ghi vào những sổ sách kế toán
nào và bản chất của chúng là gì;
(4)
các nghiệp vụ kinh tế đợc xử lý nh thế nào từ
khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành;
(5)
quá trình lập các báo cáo của kế toán.
Thông thờng việc nghiên cứu này đợc thực hiện bằng cách theo dõi một số nghiệp
vụ kinh tế chủ yếu xuyên suốt hoạt động của đơn vị. Bằng chứng thu thập đợc từ
việc tìm hiểu nghiên cứu tài liệu sẽ có độ tin cậy cao.
Hoạt động kiểm soát: Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục
để đảm bảo những hoạt động cần thiết sẽ đợc thiết lập và thực hiện nhằm đạt đựơc
các kế hoạch, mục tiêu đã đề ra. Có ba loại hoạt động kiểm soát cơ bản sau:
(1)
Sự
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cách ly thích hợp về trách nhiệm,
(2)
sự phân chia quyền lực đúng dắn trong quản lý
và hoạt động,
(3)
bảo quản tài sản tài liệu, sổ sách và giữ bí mật các thông tin.
Sự cách ly thích hợp về trách nhiệm (trớc đây ta thờng gọi là bất năng kiêm
nhiệm) là việc phân chia nhiệm vụ đảm bảo tách rời việc thực hiện những công
việc mà nếu cùng một ngời làm dễ xảy ra những sai sót và gian lận vì mu lợi cá
nhân.
+ Cách ly việc bảo quản tài sản với kế toán, nh thủ quỹ phải tách rời kế toán
thanh toán.
+ Cách ly quyền phê chuẩn các nghiệp vụ với việc bảo quản tài sản có liên
quan. Ví dụ kế toán trởng phải tách rời việc giữ kho hàng hoá.
+ Cách ly trách nhiệm điều hành với trách nhiệm ghi sổ nh: quá trình ghi sổ
tại các phân xởng thờng giao cho một bộ phận riêng biệt thuộc quyền kế toán tr-
ởng.
- Sự phân chia quyền lực đúng đắn trong quản lý và hoạt động: Hoạt động
kiểm soát chỉ có nề nếp khi quyền phê chuẩn các nghiệp cụ kinh tế phải đợc quy
định rõ ràng. Ví dụ: việc bán hàng phải có bảng giá cố định đợc niêm yết, quy
định giới hạn đối với nợ của khách hàng
- Bảo quản tài sản, tài liệu sổ sách và giữ bí mật các thông tin.
Bảo vệ và quản lý tài sản, tài liệu sổ sách sẽ giữ bí mật các thông tin là
những nội dung quan trọng của công việc kiểm soát. Một hệ thống kiểm soát tốt
phải có các nội dung, biện pháp cụ thể để bảo vệ an toàn, quản lý khoa học tài sản
và những ghi chép, nh nơi cất trữ an toàn, quy chế về sử dụng
Giám sát độc lập hoạt động kiểm soát: Là sự xem xét lại cẩn thận và liên
tục hoặc theo giai đoạn ba nội dung trên của hệ thống KSNB . Để hoạt động này
có hiệu quả đòi hỏi nó phải độc lập với các hoạt động kiểm soát. Nhu cầu giám sát
này phát sinh do cơ cấu kiểm soát nội bộ có khuynh hớng thay đổi qua thời gian,
nhân viên có khả năng quên hoặc vô ý không tuân theo các thủ tục kiểm soát, hoặc
trở nên cẩu thả và gian lận trừ khi có ngời giám sát đánh giá việc thực hiện của họ.
Việc giám sát độc lâp hoạt động đảm bảo công việc kiểm soát đang đợc tiến hành
theo đúng quy định và có mục đích; có thể hạn chế đợc rủi ro và thay đổi bổ sung
kịp thời những khiếm khuyết của hệ thống KSNB thích hợp với sự thay đổi họat
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
động của đơn vị theo điều kiện cụ thể. Đối với những công ty lớn hoạt động giám
sát do phòng kiểm toán nội bộ thực hiện. Việc nhận biết hoạt động kiểm soát và
giám sát độc lập hoạt động kiểm soát có thể sử dụng các phơng pháp nhận biết
MTKS đã trình bày ở trên.
Khi đã có đợc sự hiểu biết về hệ thống KSNB của đơn vị từ các bằng chứng
thu thập đợc.KTV tiến hành đánh giá những mặt mạnh, yếu kém, hiệu quả hoạt
động và độ tin cậy của hệ thống KSNB . Những yếu kém đợc nhận ra chính là sự
thiếu hụt hoạt động kiểm soát phù hợp mà có thể dẫn tới sai lệch thông tin có liên
quan trọng báo cáo tài chính. Có bốn bớc tiếp cận có thể sử dụng để nhận thức đợc
những yếu kém quan trọng.
(1)
KTV trớc tiên cần phải biết những hình thức kiểm
soát nào đang tồn tại;
(2)
những hoạt động kiểm soát mấu chốt thiếu hụt;
(3)
hậu quả
có thể đem lại do thiếu hoạt động kiểm soát quan trọng, mức độ quan trọng của
yếu kém;
(4)
xem xét liệu có các biện pháp bổ sung để bù lại sự yếu kém. Khi nhận
ra đợc yếu kém của kiểm soát có thể đánh giá rủi ro kiểm tra ở các mức độ thấp,
trung bình, hoặc cao cho từng nội dung kiểm toán. Từ đó có thể xác định trọng
yếu kiểm toán, là nơi rủi ro kiểm soát đợc đánh gía là cao và các sai sót, gian lận
có nhiều khả năng xảy ra.
Việc nghiên cứu hệ thống KSNB thực hiện tuỳ thuộc vào quy mô của đơn vị
đợc kiểm toán. Đối với những đơn vị nhỏ, việc thiêt lập một hệ thống KSNB đầy
đủ là tốn kém và không hiệu quả. Do vậy KTV chỉ nên nhận biết một số nội dung
của hệ thống KSNB đủ để xác định báo cáo tài chính có thể kiểm toán đợc hay
không. Việc thực hiện kiểm toán trên phải dựa cơ sở đánh giá đầy đủ mức độ rủi
ro kiểm soát. Mặt khác, tuỳ vào nội dung và loại hình kiểm toán mà nghiên cứu hệ
thống KSNB ở một mức độ và phơng pháp phù hợp. Không nhất thiết phải dùng cả
bốn phơng pháp cho mọi trờng hợp. Tuy nhiên, đánh giá hệ thống KSNB phải đợc
thực hiện cả trong giai đoạn khảo sát và tiến hành kiểm toán.
Nghiên cứu đầy đủ hệ thống KSNB của đơn vị đợc kiểm toán để phục vụ
cho việc xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp là vấn đề rất khó; song để có một
báo cáo khảo sát và kết quả kiểm toán đảm bảo chất lợng nhất thiết phải thực hiện
tốt công việc này, qua đó mới có thể giúp đơn vị đợc kiểm toán hoàn thiện công
tác quản lý và nâng cao hiệu quả trong các hoạt động kinh tế.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.3. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM ở Việt Nam.
1.3.1.Khái quát về NHTM.
Ngân hàng là một trong những ngân hàng tổ chức tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế. Ngân hàng là ngời cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu
dùng ( cá nhân, hộ gia đình) và vói hầu hết các cơ quan chính quyền điạ phơng
( thành phố, tỉnh ).Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phơng, từ ngời
bán rau quả cho tới ngời kinh doanh ô tô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng
cơ bản phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua ô tô trng bày. Khi doanh
nghiệp và ngời tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ
họ thờng dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ họ thờng
sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử. Và khi cần thông tin tài chính hay
cần lập kế hoạch tài chính, họ thờng tìm đến ngân hàng để nhận đợc lời t vấn.
Trên toàn thế giới, ngân hàng là loại hình tổ chức trung gian tài chính cung
cấp các khoản tín dụng trả góp cho ngời tiêu dùng với quy mô lớn nhất. Trong mọi
thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên qua trọng nhất trên thị trờng tín
phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phơng phát hành để tài trợ cho các công
trình công cộng, từ những hội trờng, sân bóng đá cho đến sân bay và đờng cao tốc.
Ngân hàng cũng là một trọng tổ chức tài chính cung cấp vốn lu động quan trọng
nhất cho các doanh nghiệp và trong những năm gần đây, ngân hàng đã tăng cờng
mở rộng cho vay dài hạn đổi mới hay mua sắm máy móc thiết bị mới. Với tất cả
những lí do đó và hơn thế nữa, ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian
tài chính quan trọng nhất của xã hội.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tài chính kinh doanh
nào trong nền kinh tế.
1.3.2.Vai trò và chức năng cơ bản của ngân hàng.
Sơ đồ : Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay
Chức năng uỷ thác Chức năng tín dụng
Chức năng bảo hiểm
Chức năng môi giới
Chức năng ngân hàng
đầu tư và bảo l nhã
Ngân hàng hiện đại
Chức năng quản lý tiền mặt
Chức năng lập kế hoạch
đầu tư
Chức năng thanh toán
Chức năng tiết kiệm
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
*) Vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế.
Trong khi nhiều ngời tin rằng các ngân hàng chỉ đóng một vai trò rất nhỏ
trong nền kinh tế nhận tiền gửi và cho vay- thì trên thực tế hiện đã phải thực
hiện nhiều vai trò mới để có thực hiện để duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng
nhu cầu của xã hội. các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:
Vai trò trung gian: chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình, các
thành phần khác để đầu t vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua
hàng hoá, dịch vụ ( nh bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lới thanh
toán điện tử , kết nối các quĩ và phân phối tiền giấy).
Vai trò ngời bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán ( chẳng hạn nh phát hành th tín dụng).
Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát
hành hoặc chuộc lại chứng khoán( thờng đợc thực hiện tại phòng uỷ thác).
Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện chính sách kinh tế của chính phủ,
góp phần điều tiết sự tăng trởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
1.3.3. Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thơng
mại Việt Nam.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng thơng mại và những trung gian tài chính, nói chung cũng giống
nh những doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trờng: chúng đều đợc tổ chức ra
để kinh doanh kiếm lợi cho mình và cho chủ nợ. Để hoạt động kinh doanh các
ngân hàng thơng mại phải có vốn và phải bảo toàn, phát triển vốn của mình. Trong
tổng số nguồn vốn của các ngân hàng thơng mại , nguồn vốn huy động chiếm một
tỷ trọng lớn, xu hớng hoạt động luôn đợc mở rộng theo nhiều hớng : huy động vốn
tăng để mở rộng cho vay và đầu t.
Khác với các doanh nghiệp bình thờng, ngân hàng thơng mại là một loại
hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng
thanh toán, liên quan đến toàn bộ nền kinh tế. Tuy hoạt động ngân hàng hiện nay,
bao gồm nhiều loại nguồn vốn nhng tựu trung lại đây là loại hình kinh doanh tiền
tệ, tín dụng của một hệ thống trung gian, tài chính đặc biệt quan trọng trong nền
kinh tế, dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng (dới hình thức nhận tiền gửi,
huy động bằng trái phiếu, kỳ phiếu, và đi vay ), với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, đầu t và các nguồn vốn thanh toán. nh vậy ngân hàng
thơng mại tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông qua việc, sử dụng
không chỉ bằng nguồn vốn tự có mà chủ yếu bằng nguồn vốn huy động vủa khách
hàng. Nếu ngân hàng thơng mại không thu hồi đợc số nợ vay mà họ đã cho vay ra,
thì không những họ bị mất nguồn vốn tự có của bản thân, mà còn có nguy cơ
không thể hoàn trả đợc số tiền đã huy động của khách hàng. Trong hoạt động ngân
hàng thơng mại tổn thất trong kinh doanh là một tất yếu, khó tránh khỏi. Việc đảm
bảo an toàn vốn tiền gửi của khách hàng và đảm bảo an toàn vốn đầu t không
những đợc các nhà kinh doanh tiền tệ quan tâm đặc biệt mà còn là mối quan tâm
của toàn xã hội. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên đặt ra nhằm đảm bảo hoạt động bình th-
ờng là ngân hàng thơng mại phải thờng xuyên thu hồi đợc số vốn đã cho vay, để
duy trì khả năng hoàn trả số tiền đã huy động của khách hàng và bảo toàn nguồn
vốn tự có của bản thân. Sự an toàn vững chắc trong kinh doanh của ngân hàng th-
ơng mại có thể đợc hiểu là sự đảm bảo an toàn về mặt quyền lợi của ngời gửi tiền
cũng nh đối với chính bản thân ngân hàng.
Ngân hàng Thơng mại thờng dành riêng một lợng tiền lớn và những chứng
từ có giá để đảm bảo khả năng thanh toán. Lợng tiền này vừa đợc dùng làm dự trữ,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vừa đợc dùng để điều chuyển, thanh toán. Phần lớn tài sản của Ngân hàng là tiền
mặt và các giấy tờ có thể giao dịch đợc. Do tính chất của tài sản nắm giữ, mà một
Ngân hàng rất dễ bị tổn thơng khi có gian lận và sai sót. Đặc biệt là tính chất
chuyển đổi cao của tiền mặt, séc và các chứng từ có giá khác do nhân viên Ngân
hàng quản lý nên các Ngân hàng th ơng mại cần có các quy trình hoạt động rõ
ràng, phân cấp quản lý và điều hành cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của từng cá
nhân và phải xây dựng một cơ cấu kiểm soát nội bộ thích hợp, đủ mạnh để vừa
đảm bảo cho các hoạt động có hiệu quả, vừa tránh gian lận, tham ô, lợi dụng.
Ngân hàng Thơng mại thờng tham gia vào các giao dịch lớn, với số lợng
tiền tệ rất lớn nên cần sử dụng phơng pháp xử lý dữ liệu trên mạng máy vi tính. Sự
phát triển của hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, trên thực tế đã nâng cao rất nhiều
năng lực kiểm soát của ngân hàng nhng điều này đang làm nảy sinh nhiều loại rủi
ro khác xuất phát từ lỗi của máy tính và gian lận máy tính gây nên. Từ đó đặt ra
yêu cầu phải có một hệ thống kế toán tốt và tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ
chặt chẽ, với đội ngũ cán bộ tinh thông nghề nghiệp để hạn chế mức tối đa những
rủi ro có thể xảy ra.
Các Ngân hàng Thơng mại thờng tổ chức hoạt động kinh doanh với một
mạng lới các Chi nhánh, các phòng giao dịch trải rộng theo các khu vực hành
chính. Vì vậy, việc phân cấp quản lý, điều hành kinh doanh, chi tiêu tài chính là
điều tất yếu; nhng cũng khó tránh khỏi tình trạng vợt quyền, sự tác động của chính
quyền địa phơng trong hoạt động kinh doanh, sự phân tán về hoạt động hạch toán
kế toán, hoạt động kiểm tra, kiểm soát , từ đó dẫn đến khó khăn trong việc duy trì
tính đồng bộ, tính thống nhất của các hoạt động nghiệp vụ
Những hoạt động ngoài bảng cân đối tài chính cũng là vấn đề đáng quan
tâm. Một Ngân hàng Thơng mại có thể nhận đợc các giao ớc mà không có việc
chuyển tiền, chuyển hàng nào. Ngân hàng chịu trách nhiệm lu trữ, bảo quản những
giấy tờ có liên quan đến các hoạt động này; tuy nhiên, ngân hàng hoạt động nh
một đại lý hay ngời đợc uỷ thác, nên các hoạt động này không đợc nêu trong báo
cáo tài chính của Ngân hàng, trừ những khoản thu nhập và chi phí xuất phát từ các
hoạt động này. Những khoản này có thể đợc hạch toán vào sổ sách và cũng có thể
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét