Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
Tính chuyển đổi trong nước của đồng tiền thể hiện qua việc được ưa thích sử
dụng và dễ dàng mua ngoại tệ với mức giá thị trường. Điều này một mặt phụ thuộc sự ổn
định về giá trị và sự thuận tiện khi sử dụng đồng tiền, mặt khác phụ thuộc vào việc đươc
phép chuyển đổi ra ngoại tệ trong các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và khả năng đáp
ứng nhu cầu ngoại tệ của hệ thống ngân hàng. Đánh giá tính chuyển đổi của đồng tiền
của các nước đang phát triển chủ yếu dựa vào việc đánh giá tính chuyển đổi trong nước.
Với các nước này, uy tín, vị thế của đồng nội tệ có thể đánh giá qua chỉ số lạm phát, mức
độ đô la hóa của nền kinh tế, sự phát triển của các thị trường tài chính, trình độ của hệ
thống ngân hàng, mức độ thông thoáng của chính sách quản lý ngoại hối và sự linh hoạt
của tỷ giá hối đoái
Tính chuyển đổi quốc tế của đồng tiền thể hiện ở mức độ phổ biến được sử dụng
làm phương tiện thanh toán trong các giao dịch thương mại, tài chính quốc tế. Tính
chuyển đổi quốc tế là cấp độ cao, chỉ có một số đông tiền mạnh như USD, EUR, …(còn
được gọi là các đồng tiền tự do chuyển đổi). Đa số các đồng tiền còn lại có tính chuyển
đổi thấp hơn, ở mức độ chuyển đổi trong nước
Tiền tệ tự do chuyển đổi là những tiền tệ mà luật tiền tệ của nước hoặc khối kinh
tế có tiền tệ đó cho phép bất cứ ai có thu nhập tiền tệ này đều có quyền yêu cầu Ngân
hàng nước đó chuyển đổi tự do tiền tệ này ra các tiền tệ nước khác mà không cần phải có
giấy phép. Có hai loại tiền tệ tự do chuyển đổi: tự do chuyển đổi toàn bộ và tự do chuyển
đổi một phần.
Tiền tệ tự do chuyển đổi toàn bộ có thể chuyển đổi ra bất cứ loại tiền quốc gia nào
mà không cần phải thỏa mãn một điều kiện nào, ví dụ như USD của Mỹ, EURO của châu
Âu, GBP của Anh, JPY của Nhật Bản, AUD của Australia, CHF của Thụy Sĩ, CAD của
Canada. Hầu hết đó đều là các đồng tiền mạnh của các nền kinh tế phát triển
và ổn định. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thường quy định đồng tiền thanh
toán là tiền tự do chuyển đổi để tránh rủi ro đồng tiền xuống giá và linh hoạt đổi ra bất cứ
tiền nước nào nếu người xuất khẩu muốn.
5
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
Với tiền tệ tự do chuyển đổi một phần, việc chuyển đổi của nó phụ thuộc vào một
trong 3 yếu tố sau:
- Chủ thể chuyển đổi: có hai loại chủ thể chuyển đổi được luật quản lý ngoại hối
của các quốc gia phân loại là người cư trú và người phi cư trú. Người cư trú phải có được
giấy phép chuyển đổi thì mới đổi được tiền tệ đang nắm giữ, còn người phi cư trú được
quyền chuyển đổi tự do
- Mức độ chuyển đổi: từ hạng mức nào đó do luật quy định trở lên, muốn chuyển
đổi thì phải có giấy phép chuyển đổi ngoại tệ, dưới hạng mức đó thì được tự do chuyển
đổi
- Nguồn thu nhập tiền tệ: các nguồn thu nhập bằng tiền của những người phi cư
trú từ hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ quốc tế, từ hoạt động đầu tư nước
ngoài tại nước có tiền tệ đó sẽ được chuyển đổi tự do, còn các nguồn thu nhập khác phi
thương mại, phi đầu tư muốn chuyển đổi phải có giấy phép. Ví dụ những tiền tệ
chuyển đổi tự do một phần là PHP- Peso Philippines, TWD- Đô la Đài Loan, THB- Bạt
Thái Lan, KRW- Won Hàn Quốc, IDR- Rupiad Indonesia, EGP- Pound Ai Cập
Một đồng tiền được chuyển đổi phụ thuộc vào 4 yếu tố. Cụ thể là tự do hoá các
giao dịch vãng lai; nới lỏng các giao dịch tài khoản vốn (nguồn vốn vào - ra không gặp
trở ngại); thả nổi tỷ giá hối đoái; và cuối cùng là phải có thị trường tài chính, đặc biệt là
thị trường hối đoái mở.
1.3. Ý nghĩa của việc nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, việc nâng cao tính chuyển đổi của đồng
tiền có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và quá trình hội nhập quốc
tế. Với xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, đồng tiền có tính chuyển đổi cao có
tác dụng:
- Liên kết kinh tế trong nước với quốc tế;
- Hỗ trợ,thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển;
6
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
- Thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nước ngoài;
- Nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế;
- Làm giảm hiện tượng đô la hoá, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền
tệ và chính sách tỷ giá.
1.4. Các yếu tố nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền:
Khả năng chuyển đổi của đồng triền phụ thuộc vào các yếu tố:
Thứ nhất là đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh
của hàng hoá và dịch vụ. Đây là yếu tố cơ bản,là điều kiện khách quan tạo sức mạnh và
niềm tin lâu dài vào đồng nội tệ;
Thứ hai là các chính sách tài chính - tiền tệ phải hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm
phát và tạo vị thế cho đồng nội tệ, chính sách quản lý ngoại hối thông thoáng phù hợp với
trình độ phát triển của nền kinh tế, trong đó thực hiện một cơ chế tỷ giá linh hoạt;
Thứ ba là các thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị
trường vốn) phải được hình thành, phát triển đồng bộ và hoạt động có hiệu quả;
Thứ tư là các định chế tài chính phát triển, thực hiện các giao dịch tiền tệ một cách
thuận lợi với chi phí thấp.
7
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
CHƯƠNG II: BÀI HỌC LỘ TRÌNH CỦA TRUNG QUỐC
VÀ LIÊN HỆ VIỆT NAM
2.1. Lộ trình Trung Quốc
Trong tiến trình mở rộng kinh tế, Trung Quốc đang nỗ lực đưa đồng Nhân dân tệ
(CNY) trở thành đồng tiền quốc tế, tạo thế cân bằng với đồng USD trong hệ thống tiền tệ
toàn cầu, CNY trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi, đưa Nhân dân tệ thành một trong số
những đồng tiền dự trữ của thế giới, sánh ngang với những đồng tiền như USD hay EUR.
Hành trình điều chỉnh CNY của Trung Quốc qua các giai đoạn:
- 1988: Trung Quốc lập các trung tâm hoán đổi tiền tệ bán chính thức, cho phép
giao dịch đồng CNY ở một tỷ giá sát hơn phản ánh nhu cầu thị trường.
- 1/1/1994: Tỷ giá chính thức và tỷ giá ở các trung tâm hoán đổi được thống nhất,
theo đó đồng CNY bị đánh tụt giá trị khoảng 33% xuống còn 8,7 CNY/USD.
- 4/1994: Thị trường tiền tệ liên ngân hàng đầu tiên được thành lập ở Thượng
Hải. Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường để duy trì đồng CNY ổn định.
- 1/12/1996: Cho phép đồng CNY có khả năng chuyển đổi toàn diện.
- 1994 - 1996: Đồng CNY tăng từ 8,7 lên 8,28 CNY/USD.
- 1997 - 1999: Trung Quốc được đánh giá cao khi giữ đồng CNY ổn định trong
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.
- 2000: Đồng CNY được cho phép có biên độ tỷ giá rộng hơn so với đồng USD,
cụ thể là 8,2760 - 8,2800 CNY/USD.
- 12/2001: Trung Quốc gia nhập WTO và cam kết sẽ dần điều chỉnh chính sách
tiền tệ.
8
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
- 2003: Sức ép tăng mạnh về định giá lại đồng CNY để giúp cân bằng thương mại
toàn cầu.
- 12/2004: Trung Quốc tuyên bố sẽ dần theo cơ chế tiền tệ linh hoạt.
- 21/7/2005: Đồng CNY được nâng giá trị 2,1% lên một “tỷ giá hối đoái thả nổi
có kiểm soát” theo cách gọi của Trung Quốc.
- 7/2008: Ngân hàng trung ương “trói” đồng CNY ở mức 6,83 CNY/USD đối phó
với khủng hoảng
- Tháng 6/2010: Trung Quốc tuyên bố nối lại cải cách tỷ giá hối đoái đồng CNY,
tăng tính linh hoạt tiền tệ.
Với bước đi vững chắc của mình, Trung Quốc đã trở thành quốc gia có nền kinh
tế đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ. GDP của Trung Quốc qúy II năm 2010 tăng
10,3%, quý I năm 2010 tăng 11,9% so với cuối năm 2009; trong khi GDP của Hoa Kỳ
quý II năm 2010 chỉ tăng 0,6% và quý I năm 2010 tăng 0,9% so với cuối năm 2009.
Trong khi nhập siêu của Hoa Kỳ vẫn chưa có chiều hướng giảm (tháng 4 năm 2010 nhập
siêu 40,3 tỷ USD, tháng 5 tăng lên 42 tỷ USD và tháng 6 là 49,9 tỷ USD) thì Trung Quốc
liên tục tăng xuất siêu (tháng 4 năm 2010 xuất siêu đạt 1,7 tỷ USD, tháng 5 là 19,6 tỷ
USD và tháng 6 là 20 tỷ USD)
Trong thương mại quốc tế, Trung Quốc luôn theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái trên
cơ sở định giá thấp đồng nhân dân tệ so với các ngoại tệ khác (đặc biệt với USD) để tạo
lợi thế thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thặng dư cán cân thương mại tạo sự
ổn định và bền vững trong dự trữ ngoại hối.
Bảng 1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại, dự trữ ngoại tệ
của Trung Quốc 2002-2009
9
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
Năm Tỷ giá
(CNY/USD)
CCTM (triệu
USD)
Dự trữ ngoại hối
(triệu USD)
2002 8,2770 44.167 286.407
2003 8,2770 44.652 403.251
2004 8,2768 58.982 609.932
2005 8,1943 134.189 818.872
2006 7,9734 217.746 1.066.340
2007 7,6075 261.9 1.528.250
2008 6.949 297 1.946.000
2009 6.831 198 2.400.000
(Nguồn: http://tradingeconomics.com/Economics)
Với việc duy trì tỷ giá phù hợp đã giúp Trung Quốc luôn đạt được thặng dư
thương mại, kể cả trong giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế thế giới (Cán cân
thương mại thặng dư 261,9 triệu USD trong năm 2007 đến năm 2008 tăng lên 297 triệu
USD, năm 2009 giảm nhưng không đáng kể, đạt 198 triệu USD. Bên cạnh thặng dư cán
cân thương mại liên tiếp qua các năm phải kể đến sự bền vững kho dự trữ ngoại hối của
Trung Quốc (tăng từ 1.528 tỷ USD trong năm 2007 lên 1.946 tỷ USD và tính đến hết
năm 2009, con số này lên đến 2.400 tỷ USD).
10
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
Biểu đồ 1: Tỷ giá CNY/USD trung bình qua các năm
(Nguồn: Reuter)
Một số nước đã hối thúc Trung Quốc nới lỏng kiểm soát tiền tệ hơn nữa,
mục tiêu là giảm sự mất cân đối thương mại và tiết kiệm giữa các quốc gia. Đề xuất này
đã buộc Trung Quốc phải lưu tâm và mới đây đã tiến hành nới lỏng tiền tệ, góp phần tăng
tỉ giá giữa đồng nhân dân tệ với USD. Đồng nhân dân tệ lên giá đã tạo ra khả năng đa
dạng hóa cơ cấu dự trữ quốc gia, hệ quả là đẩy đồng đô la giảm sâu hơn so với các đồng
tiền mới nổi nhưng tăng lên so với euro. Một số Ngân hàng Trung ương vốn đã mua
USD nhằm duy trì việc neo tỉ giá này đã nhanh chóng đa dạng hóa danh mục dự trữ bằng
cách bán 1/3 lượng USD thu được để mua những ngoại tệ khác, chủ yếu là euro vì có rất
ít lựa chọn khác và nếu đồng nhân dân tệ tăng giá thì tương quan euro/đô la sẽ giảm
xuống. Điều này được nhiều nhà đầu tư và đầu cơ kỳ vọng, kết cục là giá vàng đã tăng
lên so với euro, bảng anh và yên nhật trong thời gian qua (bắt đầu từ ngày 23/11/2009).
11
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
Biểu đồ 2: Tỷ giá CNY/USD theo ngày trong 2 tháng đầu năm 2010
(Nguồn: Reuter)
Có nhiều áp lực phải đánh giá lại đồng nhân dân tệ, nhất là sự mất giá gần 40%
của USD trong 8 năm qua thể hiện sự không tương xứng với những ngoại tệ chủ chốt,
trong khi Trung Quốc và nhiều nền kinh tế mới nổi lại neo tỉ giá với USD vốn đang trượt
giá để hỗ trợ xuất khẩu.
Nhằm đạt được mục tiêu của mình, Trung Quốc từng bước thực hiện lộ trình của
mình:
Trước tiên, Trung Quốc
sẽ thúc đẩy hơn nữa cải cách cơ chế tỷ giá hối đoái của
đồng CNY nhằm tăng tính linh hoạt về tỷ giá đồng tiền này trong khi vẫn chú trọng quan
hệ cung - cầu của thị trường.
Tiếp đến là các nỗ lực thúc đẩy mạnh mẽ chương trình cho phép các công ty trong
nước thanh toán các giao dịch quốc tế bằng đồng CNY.
Trung Quốc đã và đang đẩy
mạnh việc sử dụng rộng rãi đồng CNY ở nước ngoài, ký một loạt các hiệp định trao đổi
12
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
tiền tệ song phương.
Trung Quốc đã nới lỏng những hạn chế đối với giao dịch bằng đồng
tiền này tại Hong Kong - đặc khu hành chính vẫn mở rộng cửa cho các nhà đầu tư quốc
tế và dự kiến sẽ là bệ phóng cho đồng nội tệ của Trung Quốc tiến ra toàn cầu. Theo quy
định mới, bất cứ công ty nào trên thế giới cũng có thể mở một tài khoản bằng đồng CNY
ở Hong Kong và chuyển đổi sang các đồng tiền khác tùy thích, đồng thời các tổ chức tài
chính ở đặc khu này được tự do thực hiện các công cụ đầu tư bằng CNY. Trung Quốc
cũng không hạn chế các đối tượng doanh nghiệp được nhận vốn vay hay hạn chế các loại
hình vốn vay bằng nội tệ - một bước tự do hóa cơ bản có thể dẫn tới bùng nổ các giao
dịch tín dụng bằng đồng CNY ở nước ngoài
Trung Quốc cũng thực hiện thí điểm dùng đồng CNY để thanh toán qua biên giới.
Mở rộng sử dụng CNY để thực hiện các giao dịch mua bán qua biên giới có ý nghĩa rất
lớn, giúp các công ty tránh được rủi ro về dao động tỷ giá hối đoái cũng như giảm được
chi phí phát sinh trong quá trình trao đổi ngoại tệ
Những bước đi này có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó tạo ra các công cụ mới cho
các công ty nước ngoài nắm giữ và đầu tư đối bằng nguồn CNY họ thu được qua các
giao dịch thương mại với Trung Quốc
.
Rõ ràng, đây là những động thái thể hiện một sự
điều chỉnh quan trọng trong chính sách tiền tệ của Trung Quốc theo hướng linh hoạt,
rộng mở và phổ biến hóa đồng CNY
Tuy nhiên, các nhà phân tích cảnh báo sẽ phải mất hàng thập kỷ nữa đồng CNY
mới có thể đảm đương vai trò quốc tế thực sự và thách thức đồng USD. Đồng CNY chưa
đủ khả năng để nắm giữ vai trò quốc tế. Để có thể đảm nhận vai trò quốc tế, một đồng
tiền phải hội tụ các yếu tố sau: một là, tính cạnh tranh kinh tế của đồng tiền đó; hai là, thị
trường tài chính của nước đó phải rất mạnh và phát triển và bản thân đồng tiền phải
chuyển đổi được; ba là, môi trường mà đồng tiền đó được sử dụng phải ổn định.
13
Nhóm 4 - CH18G
Khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Bài học lộ trình của Trung Quốc và liên hệ thực tiễn Việt Nam
Đồng CNY hiện không thể chuyển đổi một cách tự do mà thay vào đó được gắn
với một rổ tiền tệ và bị kiểm soát chặt chẽ bởi cơ quan ngoại hối của Trung Quốc.
Trung Quốc cũng như Việt Nam là những nước có nền kinh tế đang phát triển ở
trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế phát triển dựa trên cơ chế kế hoạch hoá tập
trung "khép kín" sang nền kinh tế phát triển dựa trên cơ chế thị trường "mở" chịu sự điều
tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN. Mặc dù, thời điểm bắt đầu chuyển đổi và
"mầu sắc" của định hướng có khác nhau, nhưng ở nhiều góc độ chúng ta đều có thể nhận
thấy có những nét tương đồng giữa hai nền kinh tế này. Đặc biệt, với những thành công
“đáng nể” sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa rồi, Trung Quốc đáng là một “tấm
gương” để Việt Nam học tập. Qua bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về điều hành
chính sách tỷ giá, nâng cao khả năng chuyển đổi của đồng tiền, Việt Nam cần phải có sự
phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô và duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong từng giai đoạn.
2.2. Liên hệ với Việt Nam qua các giai đoạn:
Việc đánh giá tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam (VND) sẽ chủ yếu dựa trên
sự đánh giá tính chuyển đổi trong nước thông qua phân tích vị thế của VND, chính sách
quản lý ngoại hối và khả năng đáp ứng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng. Do đặc thù của
cơ chế quản lý và biến động của kinh tế thế giới có ảnh hưởng đến Việt Nam, việc đánh
giá tính chuyển đổi của Việt Nam chia thành các giai đoạn như sau:
2.2.1. Giai đoạn trước khi mở cửa
- Về tình hình kinh tế trong nước:
Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp. Nhà nước nắm độc quyền
về ngoại thương, ngoại hối. Quy mô nền kinh tế nhỏ, khả năng cạnh tranh của hàng hoá
và dịch vụ rất thấp, kinh tế đối ngoại kém phát triển, hệ thống ngân hàng còn sơ khai.
Chính phủ nghiêm cấm các tổ chức và cá nhân sở hữu, sử dụng trong nước phải thực
hiện bằng VND
14
Nhóm 4 - CH18G
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét