Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

503 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015 



-2 -
có ý kiến cho rằng: DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du
lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững.

1.1.2 Định nghĩa về DLST của một số tổ chức và các nước trên thế giới:
* Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN: International Union for
Conservation of Nature): DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi
trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc
điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích
hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo
ra ích lợi cho những người địa phương tham gia tích cực (ceballos-lascurain,1996)
* Hiệp hội DLST thế giới: DLST là du lịch có trách nhiệm đối với các khu
thiên nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và lợi ích của nhân dân địa phương được
đảm bảo.
* Hiệp hội du lịch Hoa kỳ: “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự
nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm
biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ
môi trường”
* Hiệp hội du lịch Australia: “DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên định
hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có
lợi cho sinh thái”
1.1.3 Định nghĩa về DLST của ngành du lịch Việt Nam:
Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc
tế, Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” từ ngày
7 đến ngày 9/9/1999 tại Hà Nội đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau:
“DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa,
gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền
vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng: Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, một
mặt góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân,
mặt khác, nó cũng gây ra những “vấn đề”cho môi trường sinh thái – tài nguyên sinh
vật và đa dạng sinh học đã và đang bị đe dọa đến mức báo động, các dạng tài ngyên
môi trường đất, nước, không khí cũng đang trên đà suy thoái và ô nhiễm.


-3 -
Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác
nhau, với nhiều tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến
nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các
chuyên gia về DLST đều cho rằng: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên,
hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững
về mặt sinh thái. DLST dù theo định nghĩa nào chăng nữa thì vẫn phải hội đủ các
yếu tố: Sự quan tâm đến thiên nhiên và môi trường; trách nhiệm với xã hội và cộng
đồng của những người tham gia .
Chính vì vậy, Cứu thiên nhiên bằng cách du lịch hóa vào trong điều kiện
thiên nhiên đó không còn là cách thức mới mẻ đối với các doanh nghiệp lữ hành.
Tuy nhiên, DLST chú trọng vào tài nguyên và nhân công địa phương, đây là một sự
thu hút hấp dẫn đối với các nước đang phát triển. DLST tạo nên những khao khát và
sự thỏa mãn về thiên nhiên, kích thích lòng yêu mến thiên nhiên và từ đó mới thôi
thúc được ý thức bảo tồn và phát triển nhằm ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên tự
nhiên, văn hóa và thẩm mỹ.
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái:
DLST không chỉ đơn giản là vấn đề thay tên tour tuyến hay tổ chức các tour
đến các khu tự nhiên. Việc tổ chức các tour DLST thực sự không dễ dàng. Muốn có
tour DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi
trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và giá trị đạo đức. Theo Annalisa Koeman
(cố vấn dự án du lịch bền vững) cho rằng để có tour DLST bền vững cần phải thực
hiện 11 nguyên tắc cơ bản sau:
* Nguyên tắc tích cực về môi trường: Tăng cường và khuyến khích trách
nhiệm đạo đức của mọi người đối với môi trường, cụ thể là giáo dục nâng cao hiểu
biết cho du khách về môi trường tự nhiên, tạo ý thức tham gia của du khách vào các
nổ lực bảo tồn.
* Không làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, không những đối với từng
yếu tố mà cả sự cân bằng sinh thái của các yếu tố đó.
* Tập trung chú trọng đến sự cân bằng sinh thái của tổng thể các yếu tố của
môi trường hơn đối với từng yếu tố của tài nguyên.


-4 -
* Du khách chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn
chế của nó hơn là làm nó biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân.
* Đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với
ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, xã hội, văn hóa hay khoa học).
* Khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên nhằm hòa đồng làm tăng sự hiểu biết
hơn là đi tìm cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng.
* Đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng thông qua kinh nghiệm của cả người hướng
dẫn và các thành viên tham gia.
* Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban ngành chức năng: địa phương,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và khách du lịch (trước, trong và sau
chuyến đi).
* Dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối
hợp với các ban ngành chức năng.
* Đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các
tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ hoạt động.
*
Thiết lập một khuôn khổ quốc tế đa ngành vì DLST là một hoạt
đ
ộng
mang tính quốc tế.
1.2 Các đặc trưng của du lịch sinh thái:
1.2.1 Các đặc trưng cơ bản:
DLSTbao gồm tất cả các đặc trưng cơ bản của mọi hoạt động du lịch nói
chung là:
- Tính đa ngành: thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch
như: sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, giá trị văn hóa lịch sử…Thu nhập xã hội từ
DLST cũng mang lại nhiều nguồn thu cho các ngành kinh tế thông qua các sản phẩm
cung cấp cho khách du lịch như: điện, nước, các sản phẩm từ nông nghiệp, bưu chính
viễn thông, thủ công mỹ nghệ,…
- Tính đa thành phần: biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du
lịch, ở những người phục vụ, ở những cộng đồng cư dân địa phương tham gia vào
hoạt động du lịch.
- Tính liên vùng: biểu hiện thông qua các tour, tuyến du lịch đến các khu,
điểm du lịch trong một khu vực hay một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau.


-5 -
- Tính mùa vụ: biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung cao
trong năm. Tính thời vụ còn thể hiện ở các loại hình du lịch: Du lịch lễ hội, du lịch
nghỉ dưỡng.
- Tính xã hội hóa: thể hiện ở sự thu hút nhiều người, nhiều ngành, nhiều cấp
trong xã hội tham gia trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động du lịch.
- Tính đa mục tiêu: biểu hiện những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên,
cảnh quan, di tích lịch sử – văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của người tham
gia hoạt động du lịch, của cộng đồng cư dân địa phương, của khách du lịch; qua đó
mở rộng được sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi
thành viên trong xã hội.
DLST còn chứa đựng các đặc trưng riêng bao gồm:
- DLST hướng con người tiếp cận gần hơn với các vùng tự nhiên, các khu
bảo tồn nơi rất nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động du lịch gây nên những áp
lực lớn đối với môi trường, mà DLST được coi là nhằm mở đường cho sự cân bằng
giữa mục tiêu phát triển du lịch với mục tiêu bảo vệ môi truờng.
- Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường, qua đó đáp ứng được nhu cầu phát triển bền vững.
- Cộng đồng các cư dân địa phương là những người chủ sở hữu các nguồn
tài nguyên tại địa phương mình. Phát triển DLST cần phải có sự tham gia của cộng
đồng người dân địa phương.

Trong khi có những công ty kinh doanh DLST hoạt động theo nguyên tắc:
cộng tác với các nhà quản lý, các khu bảo tồn thiên nhiên và nhân dân địa phương
với mục đích đóng góp cho sự bảo vệ lâu dài các vùng đất hoang dã và sự phát triển
kinh tế – xã hội ở địa phương.
Qua đó chúng ta có thể thấy rằng DLST được sử dụng với tư cách là một
quan điểm có tính phổ biến của một mô hình phát triển. Trong khi du lịch thiên nhiên
thuần túy chỉ giới hạn trong khuôn khổ khai thác các điều kiện tự nhiên để tạo ra các
sản phẩm, các hoạt động du lịch phục vụ du khách thì DLST là một khái niệm rộng
lớn hơn, tổng hợp hơn nhằm đạt được các mục tiêu ở tầm vĩ mô trong công tác quản
lý Nhà nước và quản lý khai thác kinh doanh du lịch.



-6 -
1.2.2. Tiêu chuẩn thang đo hệ thống du lịch sinh thái:
Hình thành hệ thống tiêu chuẩn DLST là một nhu cầu cần thiết cho hoạt
động DLST. Bởi vì những lý do sau:
- Khách có thể chọn được hãng lữ hành và điều hành tour DLST thích hợp.
- Những ngành quản lý có thể kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ những tiêu chuẩn
của các điểm, khu DLST, hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh doanh DLST.
- Du khách và cộng đồng dân cư điều chỉnh hành vi ứng xử phù hợp với
điểm DLST.
- Những nhà điều hành tour tiếp thị, quảng cáo loại sao hoặc biểu tượng
“xanh” của họ.
Hệ thống tiêu chuẩn có thể được thể hiện dưới biểu tượng “xanh” theo mức
phân loại sao tối thiểu. Thang đo hệ thống DLSTcủa Shore gồm các mức sau:
Mức 0: Mức này đòi hỏi các nhà lữ hành nhìn nhận hoặc có nhìn nhận về sự phá hủy
của hệ thống sinh thái. Đây là bước “ngưỡng cửa nhận thức” ở mức thấp
nhất. Loại hình du lịch tự nhiên thông thường đạt tiêu chuẩn ở mức này.
Mức 1: Mức này đòi hỏi sự hỗ trợ tiền tệ tích cực giữa khách DLST và hệ thống sinh
thái mà họ quan tâm.
Mức 2: Mức này đòi hỏi khách DLST tự tham gia hỗ trợ môi trường. Có biểu hiện
cụ thể: một vài du khách đã tham gia trồng cây, tham gia dọn rác …
Mức 3: Mức này đòi hỏi hệ thống (bao gồm hàng không quốc tế, cơ sở lưu trú và
giao thông tại chỗ) của tour du lịch đặc trưng thuận lợi cho môi trường và
nhận thức của khách du lịch có thể trung lập hoặc tích cực.
Mức 4: Mức này đòi hỏi hiệu quả thực của khách du lịch phải là tích cực và môi
trường nơi du lịch sử dụng công nghệ thích hợp, tiêu thụ năng lượng thấp,
có biện pháp thu hoạch bền vững, sử dụng nông nghiệp hữu cơ, tham gia cá
nhân trong việc khôi phục hệ sinh thái để điều tiết các mặt xấu ảnh hưởng
tới môi trường của hệ thống du lịch.
Mức 5: Mức này trong DLST sẽ là một chuyến đi đến những nơi có hệ thống bảo vệ
môi trường “hoàn hảo”. Biểu hiện của tour DLST ở mức này là: không quảng cáo
trên báo chí không tái sinh được, giao thông đã được xử lý không tác hại đối với môi
trường, các cơ sở lưu trú tại chỗ, các hoạt động của khách tham quan, nhân viên phải


-7 -
không ảnh hưởng đến môi trường, lò sưởi, điều hòa sử dụng bằng năng lượng mặt
trời và ít ảnh hưởng đến môi trường, đồ ăn uống và đồ lưu niệm sẽ được sản xuất
theo cách bền vững. Các sản phẩm đã được sử dụng sẽ được tái sinh.
1.3 Những vấn đề về phát triển DLSTbền vững:
1.3.1 Khái niệm về phát triển bền vững, du lịch bền vững và DLST bền vững:
Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED): “Phát triển
bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của xã hội hiện tại mà không làm tổn
hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Sự phát triển bền vững
về kinh tế – xã hội cần đạt được 3 mục tiêu cơ bản:
- Bền vững về kinh tế;
- Bền vững về tài nguyên và môi trường;
- Bền vững về văn hóa xã hội.
Từ khái niệm phát triển bền vững trên, ta có thể thấy rằng phát triển du lịch
bền vững cũng là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu du lịch hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai.
Sự phát triển du lịch bền vững cũng cần đạt 3 mục tiêu cơ bản :
-
Bền vững về kinh tế: là sự phát triển ổn định lâu dài của du lịch, tạo ra
nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của xã hội, đem lại lợi
ích cho cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương.
- Bền vững về tài nguyên và môi trường: là việc sử dụng các tài nguyên
không vượt quá khả năng phục hồi của nó, sao cho đáp ứng nhu cầu phát triển hiện
tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu
của thế hệ mai sau.
- Bền vững về văn hóa xã hội là: việc khai thác đáp ứng nhu cầu phát triển
du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại
cho các thế hệ tiếp theo.
Như vậy, khi nói tới DLST người ta muốn nhấn mạnh sự phát triển du lịch
phải gắn với việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển tài nguyên – môi trường – Thiên
nhiên và nhân văn thông qua sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của cộng đồng
dân cư địa phương. Vì vậy, nhiều người cho rằng phát triển DLST thì tương đương
với phát triển du lịch bền vững. Qua phân tích trên ta thấy, phát triển DLST chỉ là


-8 -
điều kiện cần chứ chưa đủ để phát triển du lịch bền vững. Để phát triển DLST bền
vững cũng cần phải đạt 3 mục tiêu cơ bản: Bền vững về kinh tế - Bền vững về tài
nguyên và môi trường - Bền vững về văn hóa xã hội. Để thực hiện phát triển DLST
bền vững cần phải thực hiện các nguyên tắc của DLST bền vững.
1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản của DLST bền vững:

CÁC MỤC TIÊU XÃ HỘI

- Lợi ích cộng đồng
- Sự tham gia kế hoạch
hóa, giáo dục về

việc
làm.

CÁC MỤC TIÊU
KINH TẾ

- Lợi ích kinh tế của
người dân.
- Lợi ích của doanh
nghiệp, của các ngành




CÁC MỤC TIÊU MÔI TRƯỜNG

- Không lám cạn kiệt nguồn lực
- Thừa nhận giá trị của nguồn
tài nguyện
DLST
bền vững
Hình 1.1 : Mô hình của
Pamela A.Wigh về các nguyên tắc và giá
trị DLST bền vững

















Theo Pamela A.Wigh đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng phát
triển DLST bền vững như sau:
- Không làm suy giảm các nguồn lực và phải được phát triển theo cách có
lợi cho môi trường.
- Đưa ra những kinh nghiệm mới cho du khách.
- Có tính giáo dục đối với tất cả các thành phần tham gia như: cộng đồng địa
phương, chính quyền, các tổ chức phi chính phủ, ngành du lịch và du khách trong
các giai đoạn trước, trong và sau chuyến du lịch.


-9 -
- Nâng cao nhận thức của các thành phần tham gia về giá trị thực sự các
nguồn lực.
- Làm cho mỗi người nhận thức được khả năng giới hạn của nguồn lực về
mặt lâu dài.
- Nâng cao hiểu biết và phối hợp giữa các thành phần tham gia như: chính
quyền, tổ chức phi chính phủ, ngành du lịch, các nhà khoa học và người bản địa
trước và trong quá trình hoạt động.
- Nâng cao trách nhiệm và hành vi đạo đức đối với môi trường tự nhiên và
văn hóa của tất cả những người tham gia.
- Mang lại lợi ích cho nguồn lực, cộng đồng địa phương và cả ngành du lịch.
- Những hoạt động sinh thái phải đảm bảo những nguyên tắc đạo đức cơ bản
để áp dụng không những cho nguồn lực bên ngoài như: nguồn lực tự nhiên, nguồn
lực văn hóa mà còn được áp dụng cho cả hoạt động nội tại của môi trường sinh thái
và ngành du lịch.
Mô hình các nguyên tắc và giá trị DLST bền vững được Pamela A.Wigh
xây dựng, trong đó 3 nhóm mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường được coi là có
tầm quan trọng như nhau, phải được giải quyết một cách cân đối để đạt được sự phát
triển bền vững.
1.3.3 Những yêu cầu về tổ chức hoạt động DLST bền vững:
* Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý:
Bởi vì, tài nguyên và môi trường không phải là “hàng hóa cho không” mà
phải tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch. Do đó cần có nguồn đầu tư cần
thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp của
môi trường. Một trong những biện pháp đó là khai thác nguồn tài nguyên hợp lý và
duy trì trong giới hạn cho phép “sức chứa” đã được xác định.
Khái niệm “sức chứa” được hiểu đưới nhiều khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm
lý học và xã hội.
- Dưới góc độ vật lý: sức chứa có thể được hiểu là số lượng khách tối đa mà
không gian của điểm du lịch có thể tiếp nhận.


- 10 -
Hệ sinh thái
Taøi nguyeân
Môi trường
Cảnh quan
Con người
Sinh thái học
- Về khía cạnh sinh học: sức chứa sinh thái tự nhiên được hiểu là giới hạn về
lượng khách đến một khu vực mà nếu vượt quá sẽ xuất hiện các tác động sinh thái do
hoạt động của du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng ảnh hưởng tới môi trường.
- Về khía cạnh tâm lý: sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu
vượt quá, du khách sẽ cảm thấy hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của du
khách khác. Hay nói cách khác, mức độ thỏa mãn của du khách bị giảm xuống dưới
mức bình thường do tình trạng quá tải.
- Về khía cạnh xã hội: sức chứa là giới hạn mà tại đó bắt đầu xuất hiện
những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch và khách du lịch đến đời sống kinh tế,
văn hóa – xã hội của khu vực.
Khách sạn
Hướng dẫn
Nhà hàng
Tổ chức
Hội nghị
DLST
Du lịch học
Hình 1.2: DLST được tạo thành bởi sự thống nhất và bổ sung của
du lịch học về DLST
* Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải:
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng
chất thải, lượng chất thải lớn hơn khả năng hấp thụ chất thải của tự nhiên từ hoạt
động du lịch sẽ góp phần làm suy thoái môi trường. Để hạn chế chất thải cần thực
hiện biện pháp như: đảm bảo sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, khuyến khích sử
dụng công nghệ mới, có trách nhiệm phục hồi các tổn thất về tài nguyên, phát triển
trên cơ sở quy hoạch nhằm hạn chế chất thải ra môi trường.
* Phát triển gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng:
Tính đa dạng về thiên nhiên, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên
sức hấp dẫn của du lịch thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, tăng sự phong phú
về sản phẩm du lịch. Để bảo tồn tính đa dạng thực hiện các biện pháp sau: không phá
hủy tính đa dạng sinh thái tự nhiên, khuyến khích đa dạng kinh tế – xã hội, không
khuyến khích thay thế ngành nghề truyền thống bằng một nghề chuyên môn hóa
phục vụ du lịch, chia sẻ lợi ích thu được góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng
thiên nhiên, sinh thái, văn hóa.


- 11 -
* Phát triển DLST phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã
hội:
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao, vì vậy
mọi phương tiện phát triển kinh tế – xã hội cần tiến hành đánh giá tác động môi
trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường DLST.
Tính toán được các lợi ích cũng như những bất lợi của việc quy hoạch tổng thể tác
động tới tài nguyên và môi trường du lịch. Tài nguyên của một đất nước thì hữu hạn,
vì vậy khi quy hoạch cần phải tính toán tối ưu sử dụng tài nguyên cho DLST hoặc
cho ngành kinh tế khác.
* Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương:
Nếu người dân địa phương khó khăn về kinh tế, kém phát triển thì họ sẽ
phải khai thác tối đa các tiềm năng về tài nguyên, đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài
nguyên và tổn hại đến môi trường. Chính vì vậy đây là nguyên tắc quan trọng trong
phát triển DLST bền vững. Việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương thể hiện
qua hoạt động DLST mang lại thu nhập, việc làm cho dân cư địa phương, chi phí
môi trường được trích đầy đủ cho việc bảo tồn và phát triển môi trường.
* Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương:
Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ
giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm
hơn với tài nguyên, môi trường du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, góp
phần đối với sự phát triển DLST bền vững.
* Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và
các đối tượng có liên quan:
Việc thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương
bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến
thức và các nguồn lực của địa phương. Nếu không tính toán thấu đáo, không quan
tâm đến cộng đồng địa phương, nhiều trường hợp nảy sinh mâu thuẫn thậm chí đối
kháng lợi ích của cộng đồng địa phương với tổ chức đầu tư. Kết quả sự phát triển của
dự án không thuận lợi.
* Chú trọng việc đào tạo, nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường:
Sự phát triển bền vững không chỉ yêu cầu ở đội ngũ cán bộ nhân viên,
những người thực hiện phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, mà còn không ngừng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét