Các dịch vụ viễn thông quốc tế phải đảm bảo truyền tin nhanh, chính xác, chất
lượng, đa dạng, nhiều hính thức.
Dịch vụ viễn thông quốc tế mang tính xã hội cao.
Dịch vụ viễn thông quốc tế phải đảm bảo yêu cầu về an ninh quốc gia.
Các doanh nghiệp thực hiện khai thác và cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế
đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, được nâng cấp thường xuyên và đổi
mới thì mới có thể bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật.
Đối tượng sử dụng dịch vụ viễn thông quốc tế rất đa dạng, các lớp khách
hàng rất đa dạng với những nét đặc thù tiêu dùng khác nhau.
Dịch vụ viễn thông quốc tế đóng vai trò là một dịch vụ liên lạc, phương tiện
truyền tải nhiều loại hình dịch vụ khác về mặt điện tử. Những đặc điểm này đã tạo
nên nét đặc thù của dịch vụ viễn thông quốc tế với các dịch vụ khác, và từ đó đề ra
các yêu cầu cụ thể đối với việc khái thác và cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế.
1.1.2. Phân loại dịch vụ viễn thông quốc tế.
Theo phân loại của WTO, dịch vụ viễn thông quốc tế bao gồm các dịch vụ chủ
yếu sau:
- Dịch vụ điện thoại.
- Dịch vụ truyền dữ liệu cả gói.
- Dịch vụ truyền dữ liệu theo mạng.
- Dịch vụ Telex.
- Dịch vụ điện tín.
- Dịch vụ fax.
- Dịch vụ mạng cho thuê tư nhân.
- Thư điện tử.
- Thư truyền tiếng.
- Thông tin tức thời và phục hồi cơ sở dữ liệu.
- Trao đổi dữ liệu điện tử.
- Dịch vụ fax tăng cường/ giá trị tăng thêm bao gồm lưu giữ và chuyển phát,
lưu giữ và phục hồi.
- Chuyển mã số.
- Thông tin tức thời và/hoặc xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý các giao dịch).
1.2. Cạnh tranh trong lĩnh vực khai thác dịch vụ viễn thông quốc tế.
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh.
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái niệm
có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo C. Mac: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
để thu được lợi nhuận siêu ngạch".
Còn theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: "Cạnh tranh là hoạt động tranh đua
giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong
nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm tranh giành các điều
kiện sản xuất, tiêu thị và thị trường có lợi nhất".
Tại diễn đàn Liên hiệp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002
thi định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là: "Khả năng của nước đó đạt được
những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội tính
trên đầu người theo thời gian".
Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra cách hiểu chung nhất về cạnh
tranh như sau: Cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong
môi trường cạnh tranh.
1.2.2. Các loại hình cạnh tranh.
Hiện nay, có rất nhiều các tiêu thức khác nhau để phân loại cạnh tranh.
a. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
Cạnh tranh được chia thành ba loại.
Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người bán luôn muốn bán hàng hóa
của mình với giá cao, trong khi đó người mua muốn mua hàng hóa với giá thấp. Giá
cả cuối cùng của hàng hóa được hình thành do sự thương lượng của người bán và
người mua.
Cạnh tranh giữa các người mua với nhau: Mức độ của loại hình cạnh tranh này
phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì mức độ
cạnh tranh gay gắt, giá cả hàng hóa tăng lên và người mua phải mua hàng hóa với giá
cao. Còn khi cung lớn hơn cầu thì mức độ cạnh tranh yếu, giá cả hàng hóa giảm và
người mua được mua hàng hóa với giá thấp.
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống và khi đó
người tiêu dùng là có lợi. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào có khả năng
cạnh tranh yếu, không chịu được áp lực cạnh tranh sẽ phải rut lui khỏi thị trường và
nhường thị phần của mình cho các đối thủ cạnh tranh khác mạnh hơn.
b. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế:
Cạnh tranh được phân thành hai loại.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch vụ. Kết quả của
loại hình cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
Cạnh tranh giữa các ngành: Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong nền kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình cạnh
tranh này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, và kết quả của
nó là việc hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
c. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh.
Theo tính chất của cạnh tranh thì cạnh tranh được chia thành ba loại.
Cạnh tranh hoàn hảo: Là loại hình cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị
trường, trong đó không có người nào có đủ ưu thế để khống chế giá cả trên thị
trường, các sản phẩm được xem là đồng nhất.
Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có
các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy
tín khác nhau của nhà sản xuất.
Cạnh tranh độc quyền: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường chỉ có một
hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm
hoặc dịch vụ đó sẽ do người bán quyết định, không phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu
trên thị trường.
d. Căn cứ vào các thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh.
Theo cách phân loại này cạnh tranh được chia thành hai loại.
Cạnh tranh lành mạnh: Là hình thức cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với
chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận.
Cạnh tranh không lành mạnh: Là hình thức cạnh cạnh dựa vào kẽ hở của pháp
luật, trái với chuẩn mực đạo đức và bị xã hội lên án.
1.2.3. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu.
Để cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp sử dụng các cộng cụ cạnh tranh
chủ yếu sau:
a. Chất lượng sản phẩm.
Ngày nay, mỗi khi mua bất kỳ một sản phẩm nào người tiêu dùng không chỉ
quan tâm tới giá cả của sản phẩm mà còn rất quan tâm tới chất lượng của sản phẩm.
Chất lượng của sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng của mỗi
doanh nghiệp. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ góp phần làm tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp.
b. Giá bán sản phẩm.
Giá cả trở thành một công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các
chính sách định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp có
thể sử dụng các chính sách định giá sau để định giá cho sản phẩm của mình:
- Chính sách định giá thấp: Doanh nghiệp định giá bán sản phẩm của mình
thấp hơn giá thị trường. Giá này có thể cao hơn giá trị của sản phẩm trong trường hợp
doanh nghiệp có sản phẩm mới xâm nhập vào thị trường, cần bán nhanh với số lượng
lớn hoặc dùng giá để cạnh tranh với các đối thủ khác; và giá này cũng có thể thấp
hơn giá trị của sản phẩm trong trường hợp doanh nghiệp bán hàng trong thời kỳ khai
trương hoặc doanh nghiệp muốn bán hàng nhanh nhằm mục đích thu hồi vốn.
- Chính sách định giá cao: Theo chính sách này doanh nghiệp sẽ định giá sản
phẩm cao hơn mức giá thống trị trên thị trường và tất nhiên là cao hơn giá trị của sản
phẩm. Chính sách này được sử dụng khi doanh nghiệp có sản phẩm mới tung ra thị
trường mà người tiêu dùng chưa biết rõ chất lượng của nó, chưa có cơ hội để so sánh
về giá; hoặc sản phẩm được doanh nghiệp phân phối độc quyền trên thị trường; hoặc
sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp là sản phẩm cao cấp, có chất lượng đặc biệt;
hoặc đó là sản phẩm không khuyến khích người tiêu dùng mua…
- Chính sách định giá theo thị trường: Đây là chính sách định giá phổ biến của
các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp định giá sản phẩm xung quanh giá thị trường.
- Chính sách giá phân biệt: Với cùng một loại sản phẩm doanh nghiệp định ra
nhiều mức giá khác nhau theo các tiêu thức như: lượng mua, chất lượng sản phẩm,
hình thức thanh toán, theo thời gian, theo không gian….
- Chính sách bán phá giá: Đây là chính sách mà doanh nghiệp định giá bán
sản phẩm của mình thấp hơn hẳn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sản xuất
nhằm tối thiểu hóa rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
c. Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm.
Trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt chưa đủ để khẳng định năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp còn cần phải biết tổ chức mạng lưới phân
phối sản phẩm. Ngày nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng,
quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp trên thị trường. Mạng lưới phân phối
sản phẩm của doanh nghiệp được tổ chức tốt sẽ làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm,
làm cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt của người tiêu dùng, giúp mở
rộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường…
d. Các công cụ khác.
Để phát huy tốt hiệu quả của các công cụ cạnh tranh, doanh nghiệp phải sử
dụng phối hợp tất cả các công cụ cạnh tranh. Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể sử
dụng phối hợp thêm các công cụ cạnh tranh sau.
- Dịch vụ sau bán hàng.
- Đưa ra các phương thức thanh toán gọn nhẹ, thuận tiện.
- Thương lượng trong cạnh tranh.
- Cạnh tranh về thời cơ thị trường…
1.2. Xây dựng chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp khai thác và
cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế.
1.2.1. Khái niệm chiến lược cạnh tranh.
Hiện nay vẫn còn rất nhiều tranh cãi về định nghĩa chiến lược. Theo cách hiểu
chung nhất, chiến lược là định hướng và phạm vị của một tổ chức về dài hạn nhằm
giành được lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực
của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong
đợi của các bên hữu quan.
Chiến lược cạnh tranh là một hệ thống tư duy, ý tưởng quản lý mang tính khái
quát và dài hạn, chỉ dẫn đường lối cho các công ty nhận diện và khai thác được ưu
thế vượt trội của mình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, nhằm đáp ứng
ngày càng cao nhu cầu của khách hàng hiện thực và tiềm năng, xây dựng năng lực
tăng trưởng bền vững, ổn định tại các thị trường mục tiêu nhất định.
1.2.2. Nội dung cơ bản của chiến lược cạnh tranh trong doanh nghiệp khai
thác và cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế.
Chiến lược cạnh tranh trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh
nghiệp khai thác và cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế nói riêng có các nội dung
chủ yếu sau:
1.2.2.1. Mục tiêu, tầm nhìn của chiến lược.
Một "tầm nhìn" của chiến lược hay nói cách khác một tầm nhìn dài hạn xem tổ
chức mong muốn tự đặt mình trong mối quan hệ tới môi trường kinh doanh như thế
nào, công việc kinh doanh của công ty nhằm mục đích gì. Tầm nhìn chiến lược cho
thấy ý nghĩa tồn tại của tổ chức. Tầm nhìn chiến lược trả lời các câu hỏi liên quan
đến các khía cạnh sau:
- Khách hàng: trả lời câu hỏi ai là người tiêu thụ sản phẩm của công ty.
- Sản phẩm. dịch vụ: trả lời cho câu hỏi dịch vụ hay sản phẩm chính của công
ty là gì?.
- Thị trường: Công ty cạnh tranh tại đâu?
- Công nghệ: trả lời câu hỏi công nghệ có là mối quan tâm hàng đầu của công
ty hay không?
- Sự quan tâm đối với vấn đề sống còn, phát triển và khả năng sinh lợi: công
ty có ràng buộc với các mục tiêu kinh tế hay không?
- Triết lý: đâu là niềm tin cơ bản, giá trị, nguyện vọng và các ưu tiên triết lý
của công ty.
- Tự đánh giá về mình: năng lực đặc biệt hoặc ưu thế cạnh tranh chủ yếu của
công ty là gì?
- Mối quan tâm đối với hình ảnh cộng đồng: hình ảnh cộng đồng có là mối
quan tâm chủ yếu đối với công ty hay không?
- Mối quan tâm đối với nhân viên: thái độ của công ty đối với nhân viện như
thế nào?
Mục tiêu là trạng thái tương lai mà công ty cố gắng thực hiện hay là kết quả
cuối cùng của các hành động được hoạch định. Mục tiêu của chiến lược phải chính
xác và đo lường được, phải hướng đến các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, phải
mang tính thách thức nhưng có thể thực hiện được và khoảng thời gian để thực hiện
nó, và mục tiêu chiến lược cần cung cấp các công cụ để đánh giá sự thực thi của các
nhà quản trị.
1.2.2.2. Chủ thể và đối tượng của chiến lược.
Chủ thể của chiến lược là những người xây dựng lên chiến lược và dùng chiến
lược để tác động lên các đối tượng khác nhằm thực hiện tầm nhìn và mục tiêu của
chiến lược.
Đối tượng của chiến lược là tất cả những đối tược chịu sự tác động của chiến
lược. Những đối tượng này có thể ở bên trong hay bên ngoài công ty, có liên quan
trực tiếp hay gián tiếp tới công ty.
1.2.2.3. Các chiến lược bộ phận.
Mỗi một chiến lược được xây dựng lên thường bao gồm rất nhiều các chiến
lược bộ phận, và chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp khai thác dịch vụ viễn
thông quốc tế cũng vậy. Chiến lược cạnh tranh này là sự kết hợp các quyết định khác
nhau về các yếu tố như sản phẩm, thị trường, năng lực phân biệt…Tùy theo đặc điểm
từng ngành, từng doanh nghiệp mà trong chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp có
những chiến lược bộ phận khác nhau và mức độ tập trung vào mỗi chiến lược bộ
phận cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp khai thác và cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế,
chiến lược được xây dựng dưới nhiều cấp độ khác nhau:
- Chiến lược tổng thể của doanh nghiệp (cấp tổ chức).
- Chiến lược ngành kinh doanh (cấp ngành).
- Chiến lược chức năng (cấp chức năng).
- Chiến lược vận hành cho các bộ phận (cấp bộ phận)
a. Chiến lược tổng thể trả lời câu hỏi cơ bản
Tổ chức cần đạt được những mục tiêu cơ bản nào?; Nên hoạt động trong các
lĩnh vực nào? ngành nào?; Mục tiêu của mỗi lĩnh vực; ngành đó?; Phân bổ nguồn lực
ra sao để đạt các mục tiêu đó?; Phối hợp hoạt động của các ngành như thế nào?
Chiến lược tổng thể có các nhiệm vụ:
- Định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp: Bao gồm việc
xác định các mục tiêu tổng thể, các dạng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực viễn
thông mà doanh nghiệp sẽ tiến hành và cách thức quản lý, phối hợp các hoạt động.
- Định hướng quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa
chúng: Chiến lược tổng thể nhằm vào phát triển và khai thác tính cộng hưởng giữa
các hoạt động thông qua việc phân chia và phối hợp các nguồn lực giữa các ngành
kinh doanh độc lập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ.
- Chiến lược tổng thể cho phép xác định cách thức quản lý các đơn vị kinh
doanh hoặc các nhóm hoạt động. Doanh nghiệp có thể thực hiện công tác quản lý
thông qua việc can thiệp trực tiếp (đối với phương thức quản lý tập quyền ) hoặc tạo
sự tự chủ quản lý cho các đơn vị kinh doanh (đối với phương thức quản lý tập
quyền ) trên cơ sở sự tin tưởng.
- Tạo lập các ưu tiên đầu tư và hướng các nguồn lực doanh nghiệp tới các ngành
kinh doanh hấp dẫn nhất.
b. Chiến lược ngành kinh doanh
Chiến lược ngành kinh doanh của doanh nghiệp khai thác và cung cấp dịch vụ
viến thông quốc tế thực chất là các phương thức để có được thành công trong ngành
kinh doanh như nâng cao lưu lượng điện thoại quốc tế, tăng tỷ lệ lợi nhuận, phát triển
mạng lưới dịch vụ đạt hiệu quả cao…
Một chiến lược ngành kinh doanh thành công cần phải tạp cho doanh nghiệp lợi
thế cạnh tranh bền vững, trên cơ sở:
- Thu hút khách hàng
- Chống các thế lực cạnh tranh. Thông qua việc thuyết phục thành công khách
hàng rằng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp có giá trị vượt trội như: Sản phẩm
và dịch vụ tốt nhất với mức giá phù hợp nhất.
Chiến lược ngành kinh doanh có nhiệm vụ: Đưa ra các phương thức để có kết
quả thành công trong ngành; các biện pháp cạnh tranh để xây dựng lợi thế cạnh tranh
bền vững; Xây dựng năng lực và khẳ năng cạnh tranh quan trọng; Hợp nhất các hoạt
động chiến lược của các khu vực chức năng; Có được sự chấp thuận của lãnh đạo tổ
chức về các chiến lược cạnh tranh.
c. Chiến lược chức năng
Chiến lược chức năng liên quan đến các quy trình tác nghiệp của các hoạt động
kinh doanh và các bộ phận của chuỗi giá trị. Chiến lược ở các chức ngăng marketing,
tài chính, nguồn nhân lực hay nghiên cứu và phát triển nhằm vào phát triển và phối
kết hợp các nguồn lực nhờ đó các chiến lược ngành kinh doanh thực hiện một cách
hiệu quả.
Chiến lược chức năng phụ thuộc vào chiến lược ở cấp cao hơn, đóng vai trò
như yếu tố đầu vào cho chiến lược ngành kinh doanh và chiến lược tổng thể. Khi
chiến lược ở các cấp cao hơn được thiết lập, các bộ phận chức năng sẽ triển khai
đường lối này thành các kế hoạch hành động cụ thể đảm bảo thực hiện thành công
chiến lược ngành kinh doanh và chiến lược tổng thể. Chiến lược chức năng thường
có các nhiệm vụ: Chi tiết các hoạt động chính sẽ được quản lý như thế nào?; Cung
cấp hỗ trợ cho chiến lược ngành kinh doanh?; Cụ thể các mục tiêu chức năng sẽ đạt
được như thế nào?
d. Chiến lược vận hành
Chiến lược vận hành đề cập tới những chiến lược hẹp hơn cho quản lý các
hoạt động ở cấp cơ sở và các đơn vị vận hành liên quan; Bổ sung chi tiết cho chiến
lược ngành kinh doanh và chiến lược chức năng; Sự ủy thác trách nhiệm tới các quản
lý ở tuyến đầu kinh doanh.
1.2.2.4. Các giải pháp, công cụ của chiến lược.
Để thực hiện các mục tiêu của chiến lược, các nhà hoạch định chiến lược cần
xây dựng một hệ thống các giải pháp và công cụ. Các giải pháp chiến lược là những
phương thức hành động của chủ thể chính sách để đạt được mục tiêu. Các giải pháp
chiến lược có thể tác động trực tiếp hay có tác động gián tiếp lên mục tiêu của chính
sách. Còn công cụ chiến lược là những yếu tố được sử dụng để thực hiện các giải
pháp chiến lược như: các công cụ về inh tế, về hành chính tổ chức, tuyên truyền -
giáo dục, các công tụ kỹ thuật nghiệp vụ…
1.2.3. Quy trình xây dựng chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp khai
thác dịch vụ viến thông quốc tế.
1.2.3.1. Xác định mục tiêu của chiến lược.
Việc xác định mục tiêu của chiến lược chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố
như: các yếu tố bên trong doanh nghiệp, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp. Khi xác
định mục tiêu chiến lược cạnh tranh cần đảm bảo:
- Các mục tiêu của chiến lược phải rõ rang trong từng thời gian tương ứng và
phải có các mục tiêu chung cũng như các mục tiêu riêng cho từng lĩnh vực hoạt động.
- Các mục tiêu chiến lược phải đảm bảo tính liên kết tương hỗ lẫn nhau, mục
tiêu này không cản trở mục tiêu khác.
- Trong hệ thống mục tiêu của chiến lược phải xác định được rõ thứ tự mục
tiêu ưu tiên.
1.2.3.2. Nghiên cứu và dự báo môi trường.
Nghiên cứu dự báo môi trường giúp Công ty đánh giá được điểm mạnh điểm
yếu, cơ hội, thách thức của mình.
1.2.3.2.1. Nghiên cứu và dự báo môi trường vĩ mô:
Môi trường toàn cầu: Xu hướng quốc tế hoá, hội nhập đang là xu hướng phổ
biến mà Công ty cần quan tâm
Môi trường kinh tế: Trạng thái môi trường kinh tế vĩ mô xác định sự lành
mạnh, thịnh vượng của nền kinh tế, nó luôn gây ra tác động đến các doanh nghiệp và
các ngành. Các doanh nghiệp phải nghiên cứu sự thay đổi của môi trường kinh tế để
nhận ra các thay đổi, khuynh hướng và các hàm ý chiến lược của nó. Môi trường kinh
tế chỉ bản chất và định hướng của nền kinh tế mà trong đó doanh nghiệp hoạt động.
Các nhân tố ảnh hưởng đến Công ty thường là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối
đoái, tỷ lệ lạm phát tác động tới nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Thực trạng nền
kinh tế và xu hướng phát triển trong tương lai ảnh hưởng đến chiến lược của doanh
nghiệp.
Môi trường công nghệ: Những biến đổi về công nghệ như phương pháp sản
xuất, nguyên vật liệu ảnh hưởng tới chu kỳ sống của sản phẩm, những thay đổi này
có thể khuyến khích hoặc kìm hãm doanh nghiệp nên phải thường xuyên đánh giá.
Môi trường chính trị, pháp lý: Các chính sách vĩ mô ảnh hưởng tổng thể đến
mọi hoạt động của nền kinh tế, trong đó có hoạt động của các Doanh nghiệp khai
thác và cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế; Chính sách thuế, chính sách tỷ giá, lãi
suất… Chính phủ là nhà tiêu dùng lớn nhất của nền kinh tế. Quyết định của chính
phủ có thể tạo ra cơ hội cũng như kìm hạn sự phát triển của các Doanh nghiệp.
Môi trường văn hóa, xã hội: Phong tục, tập quán lối sống của mỗi quốc gia
khác nhau, chính vì vậy để phát triển và tận dụng hết được tiềm năng của thị trường,
các doanh nghiệp buộc phải nghiên cứu đến truyền thống văn hóa, lối sống của thị
trường đó. Đồng thời cũng quan tâm đến sự thay đổi lối sống của thị trường nhằm
đưa ra chiến lược kịp thời, phù hợp.
Môi trường tự nhiên: Những thay đổi về khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên
như vùng đồng bằng, hay miền núi đểu ảnh hưởng đến việc khai thác và cung cấp
dịch vụ viễn thông quốc tế của doanh nghiệp
1.2.3.2.2. Nghiên cứu và dự báo môi trường ngành:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét