chính của mình, chỉ với một khoản phí bảo hiểm rất nhỏ trả cho ngời bảo hiểm,
khi gặp tổn thất ngời đợc bảo hiểm sẽ nhận đợc khoản tiền bồi thờng của ngời
bảo hiểm và sẽ chủ động nhanh chóng khôI phục ,đa sản xuất kinh doanh trở lại
bình thờng .
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử Ngời bảo hiểm cùng với
các ngành, các cơ quan hữu quan khác phối hợp tiến hành công tác đè phòng,
hạn chế tổn thất nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể gây ra thiệt hại
đối với tài sản, con ngời. Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm thiết bị điện tử, các
biện pháp đề phòng, chữa cháy, kiểm tra, giám định các thiết bị máy móc, đóng
vai trò quan trọng. Theo thông lệ, trớc khi tiến hành bảo hiểm, ngời bảo hiểm
phải theo rõi, kiểm tra và đánh giá mức độ rủi ro của đối tợng đợc yêu cầu bảo
hiểm, trên cơ sở đó sẽ đóng góp kịp thời cho ngời đợc bảo hiểm các biện pháp
cần thiết để hạn chế kha năng xảy ra các rủi ro gây nguy hại cho tài sản đợc bảo
hiểm.
c,Vai trò và tác dụng của bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm thiết bị điện tử (Electronic Equipment Insurance-EEI) có một số
u điểm so với các loại hình bảo hiểm khác nh :
Một là, EEI đa ra khái niệm bảo hiểm rộng rãi nhất trong ngành bảo hiểm.
Dựa trên đơn bảo hiểm mọi rủi ro với rất ít các điều kiện loại trừ ,nó bảo đảm
việc bồi thờng sau khi tổn thất hay h hỏng, thậm chí cả trong các trờng hợp
không đáng quan tâm hay không quan trọng đối với tài sản khác ví dụ nh việc
vận hành không có chuyên môn, dao động điện áp, ám khói ,ẩm ớt và nổ đèn
chân không .Tuy nhiên ,các hiểm hoạ ấy đã gây ra một rủi ro rất nghiêm trọng
cho thiết bị điện tử có độ nhạy cảm về tần số và tính khốc liệt. Cũng nh vậy,
một nguyên nhân tơng đối nhỏ nhng cũng có thể ảnh hởng lớn về tài chính đối
với tính liên tục của hoạt động kinh doanh bởi vì các hoạt động này có thể hoàn
toàn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của trái tim" thiết bị điện tử .
Hai là, điều khoản tiêu chuẩn trong bảo hiểm thiết bị điện tử có đa ra điều
kiện hoàn trả tiền trên cơ sở giá trị thay thế mới. Điều này đã đặt ngời đợc bảo
hiểm vào một vị trí sẵn có nguồn tiền đầy đủ để thay thế ngay lập tức và không
có sự khấu trừ thông thờng theo điều kiện mới thay cũ" .
5
Ba là, Bảo hiểm thiết bị điện tử mở rộng cả với thiệt hại mọi lĩnh vực phần
mềm và sự ứng dụng của nó. Ngày nay ,dữ liệu gốc và dữ liệu giao dịch đợc lu
trữ vào máy tính là nguồn thông tin phổ biến của mỗi công ty do đó cả phần
mềm và dữ liệu là những tài sản rất có giá trị đối với mọi doanh nghiệp. Sự tồn
tại và tính chính xác của chúng bị đe doạ bởi rất nhiều rủi và hiểm hoạ đa dạng
khi so sánh với chính thiết bị đó .
Các hoạt động có thể bị gián đoạn cho tới khi việc phục hồi đầy đủ thông
tin đợc tiến hành.
Bốn là, để chiều theo ý khách hàng, bảo hiểm thiết bị điện tử có thể thay
đổi phù hợp với từng nhu cầu thông qua các bản sửa đổi bổ xung và cơ cấu định
giá rủi ro.
2. Lịch sử phát triển bảo hiểm thiết bị điện tử
a) Khái quát về lịch sử bảo hiểm kĩ thuật
So với các loại hình bảo hiểm khác nh: Bảo hiểm hàng hải ,bảo hiểm
cháy thì bảo hiểm kĩ thuật ra đời chậm hơn. Có thể nói rằng: Bảo hiểm kĩ
thuật ra đời cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và
chính sự phát triển của khoa học kĩ thuật là động lực thúc đẩy sự lớn mạnh
không ngừng của lĩnh vực bảo hiểm này. Ta có thể đa ra một vàI số liệu để so
sánh nh sau:
- Bảo hiểm cháy ra đời từ năm 1667
- Bảo hiểm hàng hải ra đời vào năm1687
- Đơn bảo hiểm kĩ thuật đầu tiên xuất hiện vào năm 1859
Đó là đơn bảo hiểm về máy móc và năm 1859 xuất hiện đơn bảo hiểm đầu
tiên cho nồi hơi.
Tuy sinh sau đẻ muộn hơn so với các loại hình bảo hiểm khác, nhng với sự
phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong thế kỷ 20 này, bảo
hiểm kĩ thuật cũng đã tiến đợc những bớc dài quan trọng và trở thành một trong
những loại hình bảo hiểm quan trọng nhất hiện nay. Trong năm 1972, tổng số
6
phí BHKT tại CHLB Đức chỉ đạt 567 triệu DM, nhng năm 1981 đã tăng lên tới
1294 triệu DM
BHKT hiện nay đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh
tế, khoa học trên toàn thế giới, từ việc bảo hiểm các máy móc trong các xí
nghiệp sản xuất ,các dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí nghiệp cho
tới việc bảo hiểm cho công trình xây lắp khổng lồ, các công tá lắp ráp máy bay,
tàu biển cỡ lớn và cho cả con tàu vũ trụ công ty Munich Re, một công ty tái
bảo hiểm đứng đầu thế giới,là một trong những công ty đã sáng lập và phổ biến
rộng rãi loại hình bảo hiểm này cùng với các công ty khác trên thị trờng bảo
hiểm Lon don -trung tâm bảo hiểm thế giới.
b) Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm thiết bị điện tử là một nghiệp vụ bảo hiểm tuy ra đời muộn hơn
so với các loại hình bảo hiểm khác nhng đã phát triển rất nhanh và chiếm một tỷ
lệ lớn trong doanh thu phí bảo hiểm kĩ thuật. Gọi là ra đời muộn nhng nhìn lại
lịch sử phát triển của loại hình bảo hiểm này, chúng ta thấy nó cũng đã có trên
70 năm phát triển.
Từ những năm 20 của thế kỉ này đã xuất hiện những hợp đồng bảo hiểm
thiết bị điện tử nh là những phần bổ xung cho các hợp đồng thuê mớn và bảo d-
ỡng thiết bị .Vào năm 1921 công ty chuyên về bảo hiểm thiết bị điện tử đầu tiên
trên thế giới đã đợc thành lập .
Với nguồn gốc của nó trong những năm 1920 ở Đức, bảo hiểm điện áp
thấp, nh tên gọi của nó sau đó đợc bắt đầu nh một loại hình bảo hiểm chuyên
biệt cho thiết bị điện thoại, chủ yếu là để bảo vệ các công ty thuê bao điện thoại
chống lại ảnh hởng về mặt tài chính có tính chất hậu quả của tổn thất hay h
hỏng thiết bị.
Trong những năm 30, phạm vi vủa những thiết bị đợc bảo hiểm đợc mở
rộng bao gồm các hệ thống loa chuyên dùng, hệ thống tín hiệu ánh sáng và hệ
thống báo cháy cũng nh các thiết bị viễn thông khác, tiếp đến là xuất hiện của
thế hệ máy tính điện tử .
7
Công nghệ máy tính hiện đại đã phát triển và đợc hoàn chỉnh bởi
KONZADZNSE tai Đức vào năm 1941. Trong cùng thời gian đó ở Mỹ ,hình
thành chuỗi máy tính điều khiển tự động, bớc tiếp theo là sử dụng các ống điện
tử cho việc tính toán. Máy tính lớn nhất ENIAC là một hệ thống khổng lồ với
hơn 18000 ống điện tử, 1500 thiết bị ngoại vi khác và có mức tiêu thụ trên
150KW. Sau đó là một chơng trình ghi nhớ đợc phát hiện bởi nhà toán học John
Newman trong năm 1948.
Cho đến năm 1950, có sự thay thế các ống điện tử bằng transito và diot. Từ
trớc đến năm 1960 vi mạch điện tử mở đờng cho cách mạng công nghiệp lần
thứ 3"
Tiếp đến năm 1970: những yếu tố rủi ro mới xuất hiện đòi hỏi phải có những
điều kiện bảo hiểm mới dẫn đến sự ra đời đơn bảo hiểm thiết bị điện tử (EEI).
Năm 1980 EEI trở thành hợp đồng bảo hiểm đợc yêu cầu nhiều nhất trong
lĩnh vực bảo hiểm kĩ thuật.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sự phát triển nhanh chóng của ngành công
nghiệp điện tử trong thế kỉ 20 cùng với sự xâm nhập có nhiều đổi mới của loại
hình bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra loại hình bảo hiểm chuyên dụng này có
tầm quan trọng hiện nay của thế giới bảo hiểm. Ngày nay nhiều doanh nghiệp
không thể cạnh tranh khi thiếu vô số các loại công nghệ mà nghành điện tử
cung cấp và trong trờng hợp tổn thất hay h hỏng thiết bị điện tử của mình nhiều
công ty có thể không có khả năng tồn tại lâu dài. Tình hình này đã có lợi cho sự
phát triển của loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử trong quá khứ và sẽ phát triển
liên tục trong nhiều năm tới .
Hiện nay theo ớc tính thì tại thị trờng bảo hiểm đức, một thị trờng đợc coi
là phát triển nhất vê bảo hiểm kĩ thuật nói chung và bảo hiểm thiết bị điện tử nói
riêng. Năm 1992 ở đức ,bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra doanh thu phí bảo
hiểm vợt hơn 450.000.000 U S D chiếm gần 33% tổng doanh thu phí bảo hiểm
kĩ thuật .
8
ở Việt nam, bảo hiểm thiết bị điện tử đến thời điểm này có thể coi là một
trong những sản phẩm mới nhất đợc tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Baoviet)
nghiên cứu triển khai bắt đầu vào tháng 10 năm 1996
3. Một số điều kiện thuận lợi của Việt nam trong việc hình thành và
phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử
Để hình thành và phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử không thể
đơn thuần áp dụng một cách máy móc, một sự tiếp thu thiếu chọn lọc từ nhiều
nớc trên thế giới mà ngoài tính lí thuyết đầy thuyết phục thì xuất phát điểm thứ
hai đó là tình hình thực tế, nó có phù hợp có khả thi hay không. Cũng một
nghiệp vụ bảo hiểm nhng chỉ có thể thành công ở nớc này nhng lại hoàn toàn
không triển khai đợc ở nớc khác, điều này cũng chính là do điều kiện nội tại của
bản thân mỗi nớc, có đặc điểm và u thế riêng .Các điều kiện đó chính là: điều
kiện về kinh tế, điều kiện về dân số và điều kiện về môi trờng pháp lí. ở Việt
nam các điều kiện đó nh sau :
a,Điều kiện về kinh tế
Kinh tế là một trong những biểu thức quan trọng nhất ảnh hởng trực tiếp
đến quá trình phát triển nghiệp vụ này. Khi một nền kinh tế nghèo nàn thì điều
kiện đầu t cho cơ sở vật chất sẽ không đợc trang bị hiện đại do đó sẽ không có
bảo hiểm thiết bị điện tử. Nhng thực tế là ở Việt nam kinh tế cha phải là phát
triển song những gì mà nền kinh tế đã đạt đợc nh hiện nay quả là một điều kiện
hết sức thuận lợi cho nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử phát triển.
Sau khi có chính sách đổi mới về kinh tế, mở cửa ra thị trờng thế giới thì
thị trờng việt nam về công nghệ thông tin đã đợc khởi sắc từ đầu những năm 90.
Bớc khẳng định cho sự phát triển thị trờng này là tác động vĩ mô của nhà nớc về
chính sách công nghệ thông tin. Ngày 7 tháng 4 năm 1993 chính phủ ban hành
Nghị định 49/CP xác định chính sách, quan điểm và mục tiêu của việc phát
triển công nghệ thông tin đến năm 2000 .
Các công ty máy tính tầm cỡ thế giới bắt đầu bớc vào thị trờng Việt Nam
nh Compaq, IBM, ACER
Một yếu tố hết sức thuận lợi nữa là khi nền kinh tế Việt nam có mức độ
tăng trởng cao và ổn định thì đi đôi với nó là yêu cầu phục vụ về thông tin, phục
vụ về sức khoẻ cho ngời dân, phục vụ sinh hoạt giải trí hết sức đợc quan tâm.
Đó là các nghành nh: truyền hình,thiết bị phục vụ y tế, các trung tâm điện tử,
viện nghiên cứu bắt buộc phải có các thiết bị điện tử có giá trị lớn nhập từ nớc
9
ngoài về. Do đó muốn bảo đảm cho chúng trong điều kiện hết sức phức tạp ở
Việt nam, các cơ quan nh truyền hình bệnh viện, bu điện, phải tham gia nghiệp
vụ bảo hiểm thiết bị điện tử.
Bảng 1:Minh hoạ về tốc độ tăng trởng GDP của Việt nam trong thời gian 1994-1998
Năm 1994 1995 1996 1997 1998
Tốc độ tăng trởng(%) 8,8 9,5 9,3 9,0 6,1
Môi trờng kinh tế nói chung đang tạo điều kiện thuận lợi cho những nớc
kém phát triển nh Việt nam những cơ hội thuận lợi để mau chóng hội nhập vào
mạng lới thông tin quốc tế . Tính toàn cầu hoá của mạng lới thông tin quốc tế
biến bất cứ một quốc gia nào không phải là chiều đi hay chiều đến thì cũng trở
thành nơi quá cảnh của các luồng thông tin và do đó việc nâng cao tính đồng bộ
của hệ thống thông tin toàn cầu trở thành yêu cầu khách quan . Với một đất nớc
hơn 70 triệu dân, mặt bằng thông tin còn nhiều trống vắng nhng lại có tốc độ
tăng trởng kinh tế cao, rõ ràng thị trờng công nghệ thông tin Việt nam có sức
hút lớn đối với các nhà đầu t nớc ngoài trong lĩnh vực này . Trong những năm
gần đây, dới tác động của chính sách đổi mới, tốc độ tăng trởng kinh tế cao đã
mở ra những nhu cầu to lớnvề thông tin trong hoạt động kinh doanh và mức
sống của dân c đợc nâng lên đã kéo theo những nhu cầu mới trong giao tiếp và
trao đổi thông tin không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong đời sống
tình cảm tinh thần và nâng cao kiến thức. Nh vậy, tăng trởng kinh tế và nâng
cao mức sống đang và sẽ mở rộng thị trờng công nghệ thông tin ngày càng lớn
hơn . Đồng thời chính sách mở cửa và quá độ sang kinh tế thị trờng còn hình
thành một khuôn khổ thể chế mới cho các quan hệ hợp tác và đầu t quốc tế phát
triển hơn nữa, đặc biệt là thời kì sau khi quan hệ giữa Việt nam và Mỹ đợc bình
thờng hoá . Trong lúc đó, việc Việt nam trở thành thành viên chính thức của
ASEAN, quan hệ kinh tế Việt nam với Nhật bản, với các nớc EU và các quốc
gia khác trên thế giới đang tiến triển tốt, đã giúp cho thị trờng công nghệ thông
tin có điều kiện không hạn chế trong việc tìm kiếm đối tác liên doanh đáp ứng
kịp thời đòi hỏi của tình hình mới.
b, Điều kiện về dân số :
Dân số là một trong những vấn đề quan trọng, là cơ sở để công ty PTI dự
đoán tiềm năng trong tơng lai, những lỗ hổng của thị trờng mà công ty cha khai
10
thác đợc. Do đó nghiên cứu dân số để tìm ra đợc thực tế của nó trên các mặt này
sẽ là một trong những điều kiện tiên quyết giúp công ty thành công trên con đ-
ờng kinh doanh bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ này nói riêng.
Bảng 2 :Công nghệ thông tin và dân số các nớc
Stt Quốc gia Dân số (triệu ngời) Số máy tính/1000ngời
1 Việt nam 72 0,5
2 Trung quốc 1178 1,00
3
ấn độ
903 1,00
4 Philipin 68 4,00
5 Thái lan 59 9,00
6 Hàn quốc 45 37,00
7 Đài loan 21 74,00
8 Nhật 125 97,00
9 Hồng kông 6 101,00
10 Singapo 3 125,00
11 New Zealand 3 147,00
12
úc
18 192,00
13 Mỹ 258 287,00
Nguồn :PC WoRLD 12/1995
Từ bảng trên cho ta thấy mức cầu của công nghệ thông tin một số nớc trên
thế giới. Qua bảng này ta thấy số máy vi tính /1000ngời dân của Việt nam là rất
thấp, chứng tỏ rằng Việt nam còn là một thị trờng công nghệ thông tin tiềm
năng lớn. Do đó bảo hiểm trong lĩnh vực này có nhiều cơ hội để phát triển và
đạt kết quả khả quan trong tơng lai.
c,Điều kiện môi tr ờng pháp lí :
Chúng ta không thể phủ nhận đợc tầm quan trọng của môi trờng luật pháp
đối với nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử . Một môi trờng luật bảo hiểm thông
thoáng ra đời sớm sẽ có nhiều u thế đối với các công ty bảo hiểm. ở Việt nam
bớc đầu đã có đợc u thế đó :
11
+ Từ cuối năm 1993 chính phủ Việt nam ban hành nghị định 100/CP định
hớng phát triển thị trờng bảo hiểm Việt nam với việc cho phép các thành phần
kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm kể cả thành phần kinh tế t
nhân và nớc ngoài. Cho phép các loại hình bảo hiểm tồn tại và phát triển bao
gồm công ty bảo hiểm gốc, công ty chuyên tái bảo hiểm kể cả mạng lới trung
gian bảo hiểm (môi giới và đại lí )
Một môi trờng nh vậy sẽ tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm nói chung và
bảo hiểm thiết bị điện tử nói riêng tồn tại và phát triển một cách ổn định và
vững chắc .
+ Bộ tài chính đã ban hành các văn bản dới luật nhằm hớng dẫn thực hiện
nghị định 100/CP (thông t 46):qui định chế độ quản lí tài chính đối với doanh
nghiệp bảo hiểm (thông t 45):qui định chế độ hoa hồng bảo hiểm (thông t 76 và
02 )qui định tái bảo hiểm bắt buộc (qui định 1235)hớng dẫn bảo hiểm các công
trình xây dựng theo nghị định 117/CP(thông t 105)
+ Luật bảo hiểm đang đợc nghiên cứu và soạn thảo
Các văn bản pháp qui khác liên quan đến hoạt động bảo hiểm đang đợc
soạn thảo ,hoàn chỉnh sửa đổi bổ xung nh :chế độ kế toán áp dụng cho các
doanh nghiệp bảo hiểm ,luật đầu t nớc ngoài tại Việt nam
Tất cả những tình hình trên thể hiện một môi trờng pháp lí tơng đối ổn
định và đang đợc hoàn thiện theo một định hớng phù hợp xu thế chung của thế
giới.
B- Nội dung chủ yếu của nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử
I- Đối tợng và phạm vi bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị
điện tử
1- Đối tợng bảo hiểm
Trong bảo hiểm thiết bị điện tử đối tợng bảo hiểm là các loại máy móc
thiết bị điện tử (tức là những máy móc thiết bị có lắp cac mạch và các linh kiện
điện tử )dùng trong các ngành các lĩnh vực khác nhau nh bu điện ,viễn thông,
tin học, y tế, điện ảnh, phát thanh truyền hình ,hàng hải ,hàng không, khí tợng
khoa học kĩ thuật vv
12
2-Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm thiết bị điện tử đợc chia ra làm 3 phần. Đó là bảo hiểm
vật chất đối với các thiết bị điện tử, bảo hiểm cho phơng tiện lu trữ dữ liệu bên
ngoài và bảo hiểm chi phí gia tăng. Ngời tham gia bảo hiểm có thể tham gia
một hoặc cả 3 phần này và khi đó mức phí bảo hiểm và quyền lợi của ngời đợc
bảo hiểm cũng phụ thuộc tơng ứng vào việc lựa chọn các phạm vi bảo hiểm này.
Phần I-Tổn thất vật chất đối với thiết bị
Công ty PTI sẽ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm những thiệt hại vật chất
bất ngờ không lờng trớc xảy ra đối với thiết bị điện tử do các nguyên nhân nh:
cháy nổ, sét đánh trực tiếp hoặc gián tiếp, đoản mạch, nớc, sơ xuất của ngời sử
dụng và các sự cố ngẫu nhiên khác không bị loại trừ theo các điều kiện của đơn
bảo hiểm .
Ngoài ra, nếu các thiết bị điện tử đã đợc công ty PTI bảo hiểm theo phần I
nói trên ngời đợc bảo hiểm có thể mua bảo hiểm thêm cho các phần II và III nh
đề cập dới đây.
Phần II:Phơng tiện lu trữ dữ liệu bên ngoài
Công ty PTI sẽ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm những chi phí để sửa
chữa hoặc thay thế các phơng tiện lu trữ dữ liệu bên ngoài trong trờng hợp
chúng bị tổn thất do các rủi ro đợc bảo hiểm nh qui ddịnh ở phần I gây ra và các
chi phí để khôi phục lại những thông tin đã mất .Phần II chỉ có hiệu lực khi ngời
đợc bảo hiểm tham gia cả phần I của đơn bảo hiểm này
Phần III-Chi phí gia tăng
Nếu hệ thống xử lí dữ liệu điện tử (EDP) bị tổn thất vật chất thuộc pham vi
bảo hiểm, công ty PTI sẽ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm các chi phí cho việc
tạm thời thuê mớn các thiết bị thay thế cũng nh các chi phí về nhân công và các
chi phí gia tăng khác theo qui định của Đơn bảo hiểm nhằm đảm bảo cho các
hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của ngời đợc bảo hiểm không bị gián
đoạn khi tổn thất xảy ra.
13
II-Rủi ro bảo hiểm và những điểm loại trừ
1-Rủi ro bảo hiểm
Có thể nói rủi ro bảo hiểm là một trong những khái niệm cơ bản cùng với
"bảo hiểm", "đối tợng bảo hiểm". Rủi ro bảo hiểm là yếu tố cấu thành phạm vi
bảo hiểm, là tiêu chuẩn để xác định một sự cố có phải là sự cố bảo hiểm hay
không. Và do đó, rủi ro bảo hiểm là khái niệm chi phối mạnh mẽ kết cục xử lí
một khiếu nại bảo hiểm, một vấn đề tài chính -pháp lí tập trung và phức tạp nhất
trong lĩnh vực bảo hiểm .
Thiết bị bảo hiểm phải chịu rất nhiều yếu tố rủi ro có thể dẫn đến tổn thất.
Một số rủi ro chính là :các rủi rỏ về kĩ thuật nh: Cháy, nớc, động đất, bão, sét
đánh.
Các yếu tố môi trờng nh :sự thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm, khói bụi Tăng
điện áp đột ngột ,chập mạch điện, hỏng hóc cơ học, lỗi do bất cẩn, cẩu thả của
những ngời vận hành, phá ngầm trộm cắp .
Tất cả các rủi ro thờng hay xảy ra đối với thiết bị điện tử kể trên đều đợc
bảo hiểm theo Đơn bảo hiểm thiết bị điện tử của PTI .Đơn bảo hiểm thiết bị
điện tử là dạng đơn bảo hiểm mọi rủi do, chỉ không bảo hiểm những nội dung
đợc ghi trong phần các điểm loại trừ Nh vậy, có thể thấy phạm vi bảo hiểm
của đơn bảo hiểm này là rất rộng so với các loại đơn bảo hiểm khác có thể bảo
hiểm cho loại hình tài sản này, ví dụ nh đơn bảo hiểm cháy ,nổ, sét đánh (trực
tiếp) và một và rủi ro khác không điển hình đối với các thiết bị điện tử (nh rủi
ro do máy bay và các phơng tiện hàng không khác rơi vào ; gây rối, bạo loạn,
đình công, giông bão Nhng hầu hết những rủi ro đợc bảo hiểm theo đơn bảo
hiểm cháy không phải là rủi ro điển hình cuả thiết bị điện tử.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét