Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
phù hợp với những khám phá tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đối tượng địa lí luôn có
quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển. Nó tồn tại trong một tổng hợp thể địa lí cụ thể
và có mối tương quan với các yếu tố xung quanh. Nó có thể tác động qua lại với nhau
theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Do đó, để nghiên cứu các đối tượng địa lí một cách
rõ ràng và chính xác, nhằm giải quyết tốt các vấn đề của đề tài này, ta cần dựa trên
những quan điểm sau:
6.1. Quan điểm hệ thống
Theo quan điểm “hệ thống”, địa lí kinh tế học nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ sản
xuất, một trong các mối quan hệ tác động với môi trường xung quanh. Vì vậy khi
nghiên cứu vấn đề này, Tài nguyên biển Việt Nam được xem là một hệ thống kinh tế -
xã hội thống nhất. Tài nguyên biển Việt Nam được xem xét đánh giá trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động hài hòa với các yếu tố môi trường khác. Mối
quan hệ đó sẽ mang lại ý nghĩa tích cực hay tiêu cực.
6.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Địa lí kinh tế - xã hội là một khoa học tổng hợp nghiên cứu không gian lãnh thổ
kinh tế - xã hội liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Dựa trên quan điểm này, chúng
ta sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh của các đối tượng nghiên cứu và các yếu tố xung
quanh, thấy rõ mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa chúng. Thông qua quan
điểm tổng hợp lãnh thổ nét đặc trưng tiêu biểu của “Tài nguyên biển Việt Nam và vấn
đề Phát triển bền vững” sẽ đựợc nêu bật. Chúng ta sẽ xem xét nó trong một chỉnh thể
chung, giải quyết mối quan hệ giữa tiềm năng, sự phát triển với nâng cao chất lượng
cuộc sống và bảo vệ môi trường biển. Đồng thời tìm ra những mặt tối ưu, những mặt
hạn chế, để định ra những giải pháp cụ thể để “Phát triển bền vững” kinh tế biển nước
nhà.
6.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Dù bất cứ một đối tượng địa lí nào cũng có nguồn gốc phát sinh, quá trình tồn tại
và phát triển. Sự phát triển kinh tế nói chung không phải là yếu tố ổn định mà là yếu tố
vận động có mối quan hệ phù hợp. Các biến động đều xảy ra trong những điều kiện địa
lí nhất định và với những xu hướng nhất định. Xu hướng phát triển của chúng là đi từ
quá khứ đến hiện tại và hướng đến tương lai. Với quan điểm lịch sử - viễn cảnh ta sẽ
nhìn thấy đối tượng trong quá khứ, liên hệ đến hiện tại và sau đó phát họa bức tranh
toàn cảnh cho sự phát triển trong tương lai. Với “Tài nguyên biển Việt Nam” quá khứ
đến hiện tại đã được khai thác như thế nào để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Từ đó, chúng ta sẽ có những định hướng như thế nào cho khai thác và bảo
vệ “Tài nguyên biển”, nhằm hướng tới sự “Phát triển bền vững” trong tương lai.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 5 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Khi thực hiện đề tài này tôi đã thu thập
nhiều tài liệu tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau như: Sách, báo, internet… Đồng thời
xử lí các nguồn tài liệu để lựa chọn những thông tin phù hợp nhất.
- Phương pháp thống kê: Qua các nguồn số liệu, các bảng số liệu, xây dựng thành
bảng thống kê để minh hoạ cho bài viết thêm chi tiết.
- Phương pháp phân tích chứng minh: Từ những vấn đề đặt ra trong đề tài. Tôi đã
phân tích rõ ràng và đưa ra những dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho bài viết.
- Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Đây một phương pháp đặt trưng của địa lí học.
Việc sử dụng các bản đồ - biểu đồ sẽ cụ thể hoá và hình tượng hoá để có thể so sánh
chính xác các vấn đề của đề tài này.
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 6 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. TÀI NGUYÊN
1.1.1. Khái niệm
Tài nguyên là các dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình hình thành và
phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và con người. Các dạng vật chất này cung
cấp - nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của con
người.
1.1.2. Phân loại Tài nguyên
Hiện nay, nhiều tác giả đưa ra những tiêu chuẩn phân loại Tài nguyên khác nhau,
hay nói cách khác, nếu ta có một tập hợp các tiêu chuẩn phân loại, ta sẽ có một bảng
phân loại Tài nguyên tương ứng. Theo sự nghiên cứu và tổng hợp của các nhà nghiên
cứu của Viện khoa học và kỹ thuật Viêt Nam, Tài nguyên được phân loại như sau:
1.1.2.1. Phân loại theo nguồn gốc
Chia làm 2 loại:
- Tài nguyên thiên nhiên: Là các dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình
hình thành và phát triển của tự nhiên và sinh vật. Các dạng vật chất này cung cấp
nguyên - nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển của con người.
- Tài nguyên nhân tạo: Là các loại Tài nguyên do lao động của con người tạo ra:
Nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, đô thị, nông thôn và các của cải, vật chất khác.
1.1.2.2. Phân loại theo Môi trường thành phần: Được gọi là “Tài nguyên môi
trường”, gồm các loại:
- Tài nguyên môi trường đất. Trong đó, lại chia ra:
+ Tài nguyên đất nông nghiệp
+ Tài nguyên đất rừng
+ Tài nguyên đất đô thị
+ Tài nguyên đất hiếm
+ Tài nguyên đất cho công nghiệp: Bao gồm đất làm sành sứ, gốm sứ, đất làm
gạch, ngói, đất sét trộn làm xi mặng …
- Tài nguyên môi trường nước. Trong đó:
+ Tài nguyên nước mặt
+ Tài nguyên nước trong đất: Bao gồm Tài nguyên nước thổ nhưỡng; Tài nguyên
nước ngầm.
- Tài nguyên môi trường không khí:
+ Tài nguyên không gian
+ Tài nguyên ngoài trái đất như mặt trăng, các hành tinh …
- Tài nguyên sinh vật:
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 7 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
+ Tài nguyên sinh vật: Bao gồm Tài nguyên thực vật; Tài nguyên động vật; Tài
nguyên vi sinh vật; Tài nguyên hệ sinh thái cảnh quan.
- Tài nguyên khoáng sản:
+ Tài nguyên khoáng sản kim loại như: Các mỏ sắt, chì, đồng …
+ Tài nguyên khoáng sản phi kim loại như: Dầu mỏ, khí đốt, than đá, mỏ đá vôi,
đá Granit …
- Tài nguyên năng lượng:
+ Tài nguyên năng lượng địa nhiệt
+ Tài nguyên năng lượng gió
+ Tài nguyên năng lượng mặt trời
+ Tài nguyên năng lượng sóng biển
+ Tài nguyên năng lượng địa áp
1.1.2.3. Phân loại theo khả năng phục hồi của Tài nguyên
- Tài nguyên có khả năng phục hồi (Tài nguyên có thể tái tạo): Là các Tài nguyên
mà thiên nhiên có thể tạo ra liên tục và được con người sử dụng lâu dài như: Rừng, các
loại thuỷ hải sản ở sông hồ, biển, độ phì của đất, nước ngọt… Các Tài nguyên có thể tái
tạo đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống của sinh vật vì chúng là nguồn cung cấp
thức ăn liên tục cho sinh vật và cho các nhu cầu cần thiết khác. Đây là các Tài nguyên
không giới hạn.
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại Tài nguyên Môi trường theo khả năng phục hồi
Nguồn: Tài nguyên môi trường và Phát triển bền vững - NXB KH &KT (2006)
- Tài nguyên không có khả năng phục hồi: Gồm các khoáng vật (C, Si, Pb,…) hay
nguyên - nhiên vật liệu (than, dầu mỏ, gas tự nhiên…) được tạo thành trong suốt quá
trình hình thành và phát triển của vỏ Trái Đất. Các Tài nguyên này có một khối lượng
nhất định và hao hụt dần sau khi được khai thác để phục vụ cho sự phát triển kinh tế,
khoa học, kỹ thuật của xã hội loài người. Những Tài nguyên này có giới hạn về khối
lượng.
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 8 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
TNMT có khả năng
phục hồi
TÀI NGUYÊN
MÔI TRƯỜNG
Sinh vật Rừng NướcĐất
TNMT không có khả
năng phục hồi
Đất
chết
K. sản
kim loại
K.sản phi
kim loại
Nhiên liệu
hoá thạch
gas
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
Trong suốt quá trình sống, con người đã quá lạm dụng đến vị trí độc tôn của mình
để can thiệp vào giới tự nhiên, bắt tự nhiên phải quy phục cho những hành động khai
phá của mình. Do đó, trong một số trường hợp, Tài nguyên có khả năng phục hồi sẽ
biến thành Tài nguyên không có khả năng phục hồi. Ví dụ: Đất là Tài nguyên có khả
năng phục hồi nhưng một khi nó đã bị “Đá ong quá”, “Laterite hoá”, “Phèn hoá”… thì
nó sẽ trở thành “Đất chết” và người ta xem đó là Tài nguyên không có khả năng phục
hồi. Vì vậy, có thể nói khái niệm “Tài nguyên có thể phục hồi” và “Tài nguyên không
thể phục hồi” ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối mà thôi.
1.1.2.4. Phân loại theo sự tồn tại
- Tài nguyên hữu hình: Là dạng Tài nguyên hiện diện trong thực tế mà con người
có thể đo lường, ước tính về trữ lượng cũng như tiềm năng khai thác, sử dụng với nhiều
mục đích khác nhau trong cuộc sống. Ví dụ: Tài nguyên khoáng sản, Tài nguyên
nước…; Tài nguyên hữu hình bao gồm: Tất cả các Tài nguyên môi trường như ta kể trên
và bao gồm cả Tài nguyên con người (Tài nguyên nhân lực).
+ Bản thân Tài nguyên hữu hình cũng có sự phân loại tương đối. Bởi vì, sự tồn
tại của dạng Tài nguyên hữu hình này có thể là đầu vào cho dạng Tài nguyên khác. Ví
dụ: Tài nguyên năng lượng, Tài nguyên nước… Là Tài nguyên đầu vào cho Tài nguyên
động vật và Tài nguyên nhân lực (Tài nguyên sức lao động). Xa hơn nữa, con người lại
là Tài nguyên sử dụng mọi dạng Tài nguyên khác.
+ Sự biến đổi của Tài nguyên hữu hình có thể trông thấy và dự đoán được. Ví dụ:
Quan sát về thực trạng phát triển rừng thế giới từ 300 năm nay ta thấy, diện tích che phủ
bề mặt lục địa đã suy giảm một cách đáng kể (từ 47% xuống còn 27%).
+ Tài nguyên hữu hình là nguồn gốc của mọi Tài nguyên vô hình. Mặc dù, các
nguồn Tài nguyên vô hình có sức mạnh khủng khiếp đối với Tài nguyên hữu hình, nhưng
nó không thể không tồn tại trên Tài nguyên hữu hình được. Ví dụ: Có sự tồn tại của con
người mới có sự tồn tại của trí tuệ, văn hoá, sức lao động… Tuy nhiên, sự tồn tại của con
người cũng phụ thuộc sự tồn tại của các nguồn Tài nguyên khác. Do đó, sự tồn tại của Tài
nguyên hữu hình có ý nghĩa quyết định lên sự tồn tại của Tài nguyên vô hình.
- Tài nguyên vô hình: Dạng Tài nguyên mà con người sử dụng cũng mang lại hiệu
quả thực tế cao nhưng nó tồn tại ở dạng “Không trông thấy”.Có nghĩa là, trữ lượng của
dạng Tài nguyên này là bao nhiêu, ở mức độ nào thì con người chưa thể xác định được
mà chỉ thấy được hiệu quả to lớn do dạng Tài nguyên này đem lại mà thôi. Ví dụ: Tài
nguyên trí tuệ, Tài nguyên văn hoá, Tài nguyên sức lao động …
+ Tài nguyên trí tuệ (Tài nguyên chất xám): Con người là một động vật bậc cao,
mọi hành động, mọi cư xử … đều chịu sự chi phối của não bộ, hay nói đúng hơn, hành
vi của con người có được chính là nhờ vào khả năng nhận thức. Tài nguyên trí tuệ là
một dạng Tài nguyên như vậy. Từ khả năng nhận thức mà con người có xu hướng hoạt
động và làm thay đổi các dạng Tài nguyên trong tự nhiên.
Nhận thức là một Tài nguyên của mọi Tài nguyên. Thật vậy, khi xã hội loài người
còn chưa phát triển thì thiên nhiên vẫn còn giữ nguyên bản sắc của nó. Tuy nhiên, kể từ
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 9 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
khi con người biết nhận thức về vị trí độc tôn của mình thì tất cả các loại Tài nguyên
thiên nhiên đều bị khai thác. Con người đã biến đổi tất cả các Tài nguyên khác theo ý
muốn riêng của bản thân mình. Nguồn tài nguyên trí tuệ quyết định đến chiều hướng
biến đổi của các nguồn Tài nguyên khác. Với ý niệm này, con người có hai cách nhận
thức để xử sự với các nguồn Tài nguyên không thuộc Tài nguyên trí tuệ:
Dùng nguồn Tài nguyên trí tuệ để kìm hãm, phá hoại, và gây suy thoái các nguồn
Tài nguyên khác.
Dùng Tài nguyên trí tuệ để bảo vệ các nguồn Tài nguyên khác. Với chủ ý này,
con người đã tạo ra các loại vật chất tổng hợp, trí tuệ nhân tạo… Đây là nhận thức hiệu
quả mà con người có thể thực hiện, nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận tối đa với chi phí tối
thiểu.
Tuy nhiên, khả năng nhận thức của con người cũng hạn chế. Do đó, hành vi của
con người không phải lúc nào cũng đạt đến sự tối ưu. Vì vậy, năng lực quyết định của
trí tuệ lên Tài nguyên thiên nhiên xảy ra không phải lúc nào cũng như mong muốn. Con
người càng văn minh càng tiến cận đến sự tối ưu hoá.
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại Tài nguyên theo sự hiện hữu
Nguồn: Tài nguyên môi trường và Phát triển bền vững - NXB KH &KT (2006)
+ Tài nguyên văn hoá: Con người chịu tác động của nền văn hoá nơi họ sinh
sống. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con người đều có những quan điểm, nền tảng giá trị,
niềm tin và những hành vi mong đợi… Từ đó, nguồn Tài nguyên văn hoá được xem như
là tất cả những gì làm cho con người thích ứng với môi trường về mặt tinh thần. Nguồn
Tài nguyên văn hoá bị chi phối bởi các yếu tố:
Hành vi của từng cá nhân trong xã hội: Khi từng cá nhân có những cách xử sự
khác nhau lên môi trường sống cũng như lên các nguồn Tài nguyên thiên nhiên khác thì
các cá nhân khác cũng có xu hướng đồng nhất hoá cách xử sự của mình.
Các chuẩn mực: Hành vi của từng cá nhân đối với Môi trường sống của họ có bị
kiểm soát bởi chuẩn mực nào không? Ví dụ: Quốc gia này cho rằng phá rừng là có hại,
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 10 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
TN hữu hình
TÀI NGUYÊN
….
Đất NướcKhoáng chất
TN vô hình
…
TN
sức
lao
động
TN
văn
hoá
TN
Trì
tuệ
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
do đó họ ngăn cấm phá rừng; Tuy nhiên, Quốc gia khác lại cho rằng phá rừng, lấy đất
canh tác, du canh du cư… là một tập tục và cần được duy trì.
Các giá trị khác: Chẳng hạn như sự ủng hộ hay chống đối về cách xử sự của con
người với giới tự nhiên…
Triết lý về niềm tin, tín ngưỡng, cách thức xử sự…
+ Nguồn Tài nguyên sức lao động: Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng “Lao
động là nguồn gốc tạo ra mọi của cải vật chất”. Quả thật, con người khi mới sinh ra,
chính bản thân họ chưa thể hoàn chỉnh được. Do vậy, họ cần phải có những nhu cầu để
tự hoàn thiện bản thân mình. Muốn vậy, họ phải tác động vào giới tự nhiên, bắt tự nhiên
phải cung cấp cho họ những gì họ muốn. Chính lao động đã làm cho con người sống
gần gũi với tự nhiên hơn (sự gắn liền này có thể mang lại lợi ích và cũng có thể gây tác
hại đến tự nhiên). Tuy nhiên, sự liên kết này không tự bản thân nó có được mà phải nhờ
vào sức lao động. Rõ rang, sức lao động cũng chính là một dạng Tài nguyên vô cùng có
giá trị.
1.1.3. Đánh giá Tài nguyên
Người ta có thể đánh giá Tài nguyên theo nhiều cách khác nhau, với những mục
đích khác nhau.
- Giá trị của Tài nguyên được đánh giá cao hay thấp, tốt hay không thật tốt phụ
thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật của thời đại và trình độ nhận thức của từng đối
tượng khác nhau. Vì vậy, cùng một loại Tài nguyên nhưng ở thời nguyên thuỷ được
xem là không cần, không quý, và thậm chí là không có giá trị. Nhưng nếu đến thời đại
chúng ta, khi khoa học kỹ thuật phát triển thì nó trở nên vô cùng có giá trị, thậm chí rất
quý và hiếm. Ví dụ như mỏ Uranium, vào thời nguyên thuỷ người ta chưa biết nó là gì
nên nó không có giá trị gì cả. Nhưng ngày nay, nó là một khoáng sản nguyên liệu rất cần
thiết cho các nhà máy điện nguyên tử, thì nó trở nên rất quý giá; Trong lĩnh vực “Tài
nguyên Môi trường”, một số chất thải ở một xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật thấp
thì có thể bị loại bỏ hoàn toàn, nhưng trong một xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật
cao, nó lại là nguyên liệu quý giá cho một chu trình sản xuất mới. Ví dụ: Giấy viết xong
như trước đã bỏ nhưng khi có công nghệ tái chế giấy ra đời thì giấy lại trở thành nguồn
nguyên liệu cho công nghệ tái chế giấy hay bìa carton.
- Về mặt kinh tế, người ta cần dựa vào giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá trao đổi
để đánh giá một loại Tài nguyên nào đó.
Đối với Tài nguyên khoáng sản, người ta đánh giá không những dựa vào giá trị
kinh tế mà còn dựa vào hàm lượng và trữ lượng của khoáng sản đó. Từ đó, người ta chia
giá trị Tài nguyên khoáng sản thành:
+ Tài nguyên có giá trị kinh tế cao, Tài nguyên có giá trị kinh tế trung bình, Tài
nguyên có giá trị kinh tế thấp.
+ Tài nguyên quý, không hiếm, như: Tài nguyên không khí, Tài nguyên mỏ vàng,
Tài nguyên văn hoá, Tài nguyên trí tuệ…
+ Tài nguyên hiếm, giá trị không cao lắm, như: Đất hiếm
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 11 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
+ Tài nguyên quý - hiếm: Thông thường, khi một Tài nguyên hiếm thường đồng
thời là Tài nguyên quý. Ví dụ: Một số động vật quý hiếm như: Tê giác, Sao la, Gấu
trúc…
+ Tài nguyên có giá trị trao đổi và Tài nguyên không có giá trị trao đổi. Ví dụ:
Vàng bạc có giá trị trao đổi nhưng Tài nguyên bầu trời, Tài nguyên văn hoá… không có
giá trị trao đổi.
- Giá trị của Tài nguyên còn được hiểu theo nghĩa Tài nguyên của ai? Và Tài
nguyên cho ai?
+ Tài nguyên có thể là của một cá nhân và giá trị của nó trước hết là do người sử
dụng xác định, vì không ai khác ngoài người sử dụng có thể hiểu rõ và có thể đánh giá
đúng thực chất về giá trị của Tài nguyên đó.
+ Tài nguyên có thể là một quần thể, một tập thể người nhất định nào đó mà chỉ
với họ giá trị của Tài nguyên mới được xác định chính xác. Loại này thường là Tài
nguyên tinh thần hoặc là Tài nguyên vật chất đặc biệt.
+ Tài nguyên của toàn thể cộng đồng thế giới: Ví dụ: Bầu trời khí quyển không là
của riêng một ai. Vì vậy, ai làm suy thoái và ô nhiễm Tài nguyên này có nghĩa là làm
suy thoái giá trị Tài nguyên của toàn thể nhân loại.
1.2. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.2.1. Khái niệm
Khái niệm “Phát triển bền vững” ra đời rất muộn màng, lần đầu tiên xuất hiện vào
năm 1987 trong báo “Tương lai của chúng ta” của uỷ ban Môi trường và phát triển của
ngân hàng Thế giới (WB). Do đó, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thống nhất
và hoàn chỉnh. Một số khái niệm khoa học Môi trường về “Phát triển bền vững”:
- Tại hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững (2002) tổ chức tại Johannesbug
đã xác định:
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí hài hoà
giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và
môi trường.
- Theo tác giả Tatyna P. Soubbotina (không chỉ là tăng trưởng):
“Phát triển bền vững” cũng có thể được gọi bằng một cách khác là phát triển bình
đẳng và cân đối, có nghĩa là để duy trì sự phát triển mãi mãi, cần cân bằng giữa lợi ích
của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, và thực hiện điều này
trên cả ba lĩnh vực quan trọng có mối liên hệ qua lại với nhau về kinh tế, xã hội và môi
trường.
- Hiên nay, khái niệm về “Phát triển bền vững” của Word Bank được sử dụng
rộng rãi hơn cả:
“Phát triển bền vững là một quá trình phát triển đáp ứng được những nhu cầu
của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ sau”
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 12 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
Hình 1.3: Tam giác Phát triển bền vững
Nguồn: www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=94182
1.2.2. Cơ sở của Phát triển bền vững
Giảm đến mức thấp nhất việc khánh kiệt Tài nguyên môi trường: Đất, nước ngọt,
các thuỷ vực, khoáng sản… Đảm bảo sử dụng lâu dài các dạng Tài nguyên không tái tạo
lại được bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hơn hoặc thay thế chúng.
Bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn tính di truyền của các loại động vật, thực
vật nuôi trồng cũng như hoang dã. Đảm bảo việc sử dụng lâu bền bằng cách quản lý
phương thức và mức độ sử dụng, làm cho các nguồn Tài nguyên vẫn còn có khả năng
hồi phục.
Hình 1.4: Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường để Phát triển bền vững
Nguồn: www.saga.vn/view.aspx?id=7064
Duy trì các hệ sinh thái thiết yếu, đảm bảo cho cuộc sống cộng đồng và nên nhớ
rằng sức chịu đựng của các hệ sinh thái trên Trái Đất là có hạn.
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 13 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề Phát triển bền vững
Nếu có điều kiện thì duy trì các hệ sinh thái tự nhiên. Hoạt động trong khả năng
chịu đựng của Trái Đất. Phục hồi lại Môi trường đã bị suy thoái, giữ gìn sự cân bằng các
hệ sinh thái.
1.2.3. Các chỉ tiêu phát triển bền vững
Để so sánh, nhận xét, đánh giá mức độ Phát triển bền vững có thể sử dụng một số
chỉ tiêu mang tính định lượng.
Có thể phân thành hai nhóm chỉ tiêu:
1.2.3.1. Chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống: Đó là các chỉ tiêu phát triển con
người (HDI), bao gồm:
- Thu nhập quốc dân tính theo đầu người, biểu thị bằng các chỉ số GDP
- Tuổi thọ bình quân đối với nam giới và nữ giới.
- Học vấn biểu thị bằng tỉ lệ mù chữ, tỉ lệ người có trình độ trung học, Đại học
và trên Đại học.
- Tự do trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
- Chất lượng môi trường, mức độ ô nhiễm nặng, vừa và không ô nhiễm.
Hình 1.5: Tất cả chúng ta cùng chung sức để thực hiện chỉ tiêu Phát triển bền vững
Nguồn: www.phattrienbenvung.co.nr/
1.2.3.2. Chỉ tiêu về tính bền vững sinh thái: Một xã hội được coi là bền vững sinh
thái khi:
GVHD: THS.GVC. LÊ ĐÌNH QUẾ - 14 - SVTH: QUAN VĂN ÚT
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét