Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
Tài chính trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trường, tài chính cũng chịu sự chi phối của các
quy luật của thị trường và có liên hệ chặt chẽ với thị trường tài chính.
Giá cả cũng là một phạm trù liên quan đến phân phối dưới hình thức giá trị.
Nhưng sự phân phối dưới hình thức giá trị thơng qua giá cả được tiến hành
thơng qua sự chênh lệch giữa giá trị và gái cả trong trao đổi hàng hố. Khi trao
đổi khơng ngang giá thì xảy ra sự chuyển dịch giá trị từ chủ thể này sang chủ thể
khác nhưng gắn liền với hoạt động trao đổi. Còn tài chính là phạm trù phân phối
phản ánh sự chuyển dịch giá trị – sự vận động độc lập tương đối của giá trị –
qua việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ (kể cả thực hiện việc đó thơng qua
thị trường tài chính).
Tiền lương cũng là một phạm trù phân phối. Ở nước ta, tiền lương là một
lượng tiền tệ được trả cho người lao động để bù đắp lại hao phí lao động đã bỏ
ra, được tính tương đương với giá trị tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất sức lao
động đã hao phí.
Tiền lương là một hình thức phân phối gắn liền với q trình lao động theo
ngun tắc phân phối theo lao động. Tiền lương muốn được thực hiện, tức là trả
lương, phải thơng qua tài chính – qua sự vận động độc lập của giá trị với sự hình
thành quỹ tiền lương trong các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội hay cơ quan
nhà nước. Tiền lương đã được trả cho người lao động với biểu hiện là một số
tiền nhất định cũng là một bộ phận của nguồn tài chính hình thành nên ngân
sách gia đình, tài chính dân cư. Vì thế tiền lương và tài chính là hai phạm trù gắn
bó chặt chẽ với nhau nhưng có sự khác nhau. Trong lĩnh vực bù đắp sức lao
động, tài chính là phương tiện để thực hiện ngun tắc phân phối theo lao động.
Bản chất của tài chính còn được thể hiện rõ hơn qua các chức năng của nó.
III. Chức năng của tài chính
Nói đến chức năng của tài chính là nói đến khả năng khách quan phát huy
tác dụng xã hội của nó. Trong đời sống xã hội, tài chính vốn có hai chức năng –
phân phối và giám đốc.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1. Chức năng phân phối của tài chính
Nhờ vào chức năng phân phối mà các nguồn lực đại diện cho những bộ
phận của cải xã hội được đưa vào những mục đích sử dụng khác nhau, đảm bảo
những nhu cầu khác nhau và những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội.
Đối tượng phân phối ở đây là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là các
nguồn tài chính, là tiền tệ đang vận động một cách độc lập với tư cách phương
tiện thanh tốn và phương tiện cất trữ trong q trình tạo lập và sử dụng các quỹ
tiền tệ. Chủ thể phân phối bao gồm: nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia định hay cá
nhân dân cư…
Việc phân phối các nguồn tài chính bị chi phối bởi quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng của các chủ thể đối với các nguồn tài chính trong lĩnh vực kinh
tế, hoặc bởi các quan hệ xã hội như quyền lực chính trị của nhà nước, quan hệ
xã hội trong các tổ chức xã hội, trong cộng đồng dân tộc và quốc tế.
Kết quả của q trình phân phối bằng việc sử dụng cơng cụ tài chính là sự
hình thành và sử dụng những thế năng về sức mua nhất định dưới dạng các quỹ
tiền tệ dành cho một mục đích nhất định – tích luỹ hoặc tiêu dùng ở các chủ thể
trong xã hội.
Phân phối của tài chính mang đặc điểm chủ yếu sau:
Một là, phân phối tài chính ln ln gắn liền với sự hình thành và sử dụng
các quỹ tiền tệ nhất định.
Hai là, phân phối tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá
trị, nó khơng kèm theo sự thay đổi hình thái giá trị. Thơng qua chức năng phân
phối của tài chính, các quỹ tiền tệ nhất định được hình thành hoặc sử dụng,
nhưng chính trong các q trình đó, bản chất của tài chính – phân phối dưới hình
thức giá trị – vẫn khơng thay đổi. Trong mối quan hệ kế tiếp giữa lĩnh vực phân
phối và trao đổi hay phân phối và tiêu dùng trong q trình tái sản xuất xã hội,
sự phân phối diễn ra ở chính điểm tiếp giáp của các lĩnh vực đó. Đó là khi việc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thanh tốn tiền mua, bán hàng hố hay dịch vụ được thực hiện và việc đó biểu lộ
việc sử dụng hay hình thành các quỹ tiền tệ khác nhau.
Ba là, phân phối của tài chính bao hàm cả q trình phân phối lần đầu (giữa
những người tạo ra sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân) và q trình phân phối
lại, trong đó bao trùm rộng lớn có tính chất đặc trưng là phân phối lại.
Phân phối lần đầu là sự phân phối được tiến hành trong lĩnh vực sản xuất
cho những chủ thể tham gia vào q trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực
hiện các dịch vụ. Phân phối lần đầu được thực hiện trước hết và chủ yếu trong
các khâu cơ sở của hệ thơng tài chính. Trong phân phối lần đầu, giá trị sản phẩm
xã hội trong khu vực sản xuất sẽ hình thành các bộ phận của các quỹ tiền tệ như
sau: Một phần để bù đắp chi phí vật chất đã tiêu hao trong q trình sản xuất.
Phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và quỹ bù đắp vốn lưu động
đã ứng ra. Một phần để trả lương cho người lao động. Một phần góp vào hình
thành các quỹ bảo hiểm. Một phần là thu nhập cho các chủ sở hữu về vốn vay
hay nguồn tài ngun.
Như vậy, qua phân phối lần đầu sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
dưới hình thức giá trị chỉ mới hình thành nên những phần thu nhập cơ bản. Dừng
lại ở đó chưa thể đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của tồn xã hội. Do đó nảy sinh
nhu cầu khách quan của xã hội đối với phân phối lại.
Phân phối lại là tiếp tục phân phối những thu nhập cơ bản, sử dụng những
quỹ tiền tệ chứa đựng những nguồn lực tài chính đã được hình hành trong phân
phối lần đầu ra phạm vi xã hội rộng lớn hơn hoặc theo những chi tiết cụ thể hơn
trong mục đích của các quỹ tiền tệ. Sự chun mơn hố và phân cơng lao động
xã hội trong khu vực sản xuất vật chất và sự tồn tại và phát triển của khu vực
khơng sản xuất vật chất đã ràng buộc quy mơ rộng lớn của q trình phân phối
lại của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Bản thân q trình sử dụng các quỹ tiền
tệ đã đặc trưng hồn tồn là q trình phân phối lại,. Vì thế tính chất phân phối
lại là tích chất chủ yếu bao chùm của chức năng phân phối của tài chính.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2. Chức năng giám đốc của tài chính
Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm cơng cụ kiểm tra ,
giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trị và phương
tiện thanh tốn của tiền tệ. Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong q trình thực
hiện chức năng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính
cần thiết, quy mơ của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc
phân phối qua các quỹ tiền tệ.
Chủ thể của giám đốc cũng là các chủ thể phân phối. Đối tượng kiểm tra là
các q trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, các q trình vân động của các
nguồn tài chính. Kết quả của kiểm tra là phát hiện và giúp cho việc hiệu chỉnh
các q trình vận động của các nguồn tài chính, q trình phân phối của cải dưới
hình thức giá trị theo tính mục tiêu được đặt ra theo u cầu hiệu quả của việc sử
dụng các quỹ tiền tệ.
Chức năng giám dốc của tài chính ln gắn liền với chức năng phân phối.
Ngay trong q trình phân phối bằng việc sử dụng tài chính đã ln có sự cần
thiết và khả năng kiểm tra sát sao các q trình đó.
Chức năng giám đốc của tài chính có những đặc điểm sau:
Một là, giám đốc tài chính như một chức năng của tài chính, khơng đồng
nhất với mọi khả năng giám đốc bằng đồng tiền khác. Giám đốc tài chính là khả
năng giám đốc khi sử dụng tài chính như một cơng cụ phân phối.
Hai là, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự vận động tương đối độc lập
của các nguồn tài chính ln là điều kiện tiền đề cho các hoạt động kinh tế xã
hội. Do đó, giám đốc tài chính là một khả năng tính tốn tồn diện, thường
xun, liên tục, rộng rãi, kịp thời trong khi tài chính được con người sử dụng
như một cơng cụ, biện pháp kinh tế.
Hai chức năng kể trên của tài chính gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau.
Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước,
để thực hiện đầy đủ chức năng của tài chính thì cần thiết phải thiết lập một mặt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
bằng giá thống nhất, hệ thống báo biểu khoa học và một hệ thống pháp luật
thanh tra hồn chỉnh.
IV. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
1. Vì sao Việt Nam lựa chọn mơ hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển
nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước tới nay nó tồn tại và phát triển chủ
yếu dưới CNTB, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của CNTB. CNTB
đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu
phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó
thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị
trường TBCN đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các
nước tư bản phát triển. Tuy nhiên, kinh tế thị trường TBCN khơng phải là vạn
năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất
của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của CNTB càng bộc lộ sâu
sắc, khơng giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất cơng và bất
ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Hơn
thế nữa, trong điều kiện tồn cầu hố hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém
phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm –
ngoại vi”, Có thể nói, nền kinh tế thị trường TBCN tồn cầu ngay nay là sự
thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đồn xun quốc gia đối với đa
số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước
nghèo.
Chính vì thế mà, như C. Mác đã phân tích và dự báo, CNTB tất yếu sẽ phải
nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân
đạo hơn. CNTB mặ dù đã và đang tự điều chỉnh, tự thích nghi bằng cách phát
triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thị trường xã hội”, tạo ra
“chủ nghĩa tư bản xã hội” “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “nhà nước phúc lợi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chung”…, tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước và cũng phải chăm
lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó,
CNTB khơng thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được
phần nào mâu thuẫn mà thơi. Nền kinh tế thị trường TBCN hiện đại đang ngày
càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hố để chuyển sang giai đoạn hậu
cơng nhiệp, thao xu hướng xã hội hố. Đây là tất yếu khách quan, là quy luật
phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt
khốt khơng thể dừng lại ở kinh tế thị trường TBCN.
Mơ hình CNXH kiểu Xơ-Viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế
muốn sớm khắc phục những khuyết tật của CNTB, muốn nhanh chóng xây dựng
một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh hơn, hiện đại
hơn CNTB. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt 70 năm tồn tại,
CNXH thực hiện ở Liên Xơ đã đại được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn
bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân Liên Xơ. Nhưng có lẽ là do nơn
nóng, làm trái quy luật (muốn xố bỏ ngay kinh tế hàng hố, áp dụng ngay cơ
chế kinh tế phi thị trường), khơng năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết
cho nên rốt cuộc đã khơng thành cơng.
Thực ra khi mới vận dụng học thuyết Mác vào xây dựng CNXH ở nước
Nga sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lê-nin cúng đã từng chủ trương khơng áp
dụng mơ hình kinh tế thị trường mà thực hiện “chính sách cộng sản thời chiến”.
Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn , Người đã phát hiện ra sai lầm, khắc phục
nóng vội bằng cách đưa ra thực hiện “chính sách kinh tế mới” (NEP) mà nội
dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế hàng hố , chấp nhận ở
mức độ nhất định cơ chế thị trường. Theo Lê-nin, để xây dựng CNXH ở một
nước còn tương đối lạc hậu về kinh tế như nước Nga, cần phải sử dụng quan hệ
hàng hố - tiền tệ và phát triển kinh tế hàng hố nhiều thành phần, đặc biệt là sử
dụng CNTB Nhà nước để phát triển lực lượng sản xuất. Tuy chỉ thực hiện trong
thời gian ngắn nhưng NEP đã đem lại những kết quả tích cực cho nước Nga: hồi
phục và phát triển nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, nhiều ngành kinh tế bắt đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hoạt động năng động, nhộn nhịp hơn. Tiếc rằng, tư tưởng của Lê-nin về xây
dựng CHXH với chính sách NEP đã khơng được tiếp tực thực hiện sau khi
người qua đời. Sự thành cơng và phát triển mạnh mẽ suốt một thời gian dài của
Liên Xơ trong cơng cuộc cơng nghiệp hố đất nước bằng mơ hình kinh tế dựa
trên chế độ cơng hữu về tư liệu sản xuất, kế hoạch hố tập trung cao độ, phân
phối thu nhập mang tính bình qn, kinh tế hàng hố, kinh tế thị trường bị loại
bỏ đã có sức hấp dẫn lớn đối với nhân loại và làm cho giới lý luận kinh tế các
nước XHCN và các nước đang phát triển tuyệt đối hố, biến thành cơng thức để
áp dụng cho tất cả các nước đi theo con đường XHCN.
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, những hạn chế khuyết tật của mơ
hình kinh tế Xơ-viết bộc lộ ra rất rõ cộng với sự yếu kém trong cơng tác lãnh
đạo, quản lý lúc bấy giờ làm cho cơng cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xơ và
Đơng Âu rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Một số người lãnh đạo chủ chốt
của Đảng và nhà nước Liên Xơ lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng cơng cuộc
cải cách, cải tổ, nhưng với một “tư duy chính trị mới”, họ đã phạm sai lầm
nghiêm trọng cực đoan, phiến diện (ở đây chưa nói tới sự phản bội lý tưởng
XHCN của họ và sự phá hoại thâm hiểm của các thế lực thù địch), dẫn tới sự tan
rã của Liên Xơvà sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới. Sự sụp đổ của Liên
Xơ và các nước XHCN khác ở Đơng Âu vào cuối những năm 80, đầu những
năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõ những khuyết tật của mơ hình kinh tế cứng
nhắc phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đó khơng phải là ngun nhân tất
yếu dẫn đến sự sụp đổ.
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn
thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên CNXH lầ mục tiêu lý tưởng của
những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng
của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên CNXH bằng cách nào? Đó là một câu
hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật khơng đơn giản. Suốt một thời gian
dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mơ hình CNXH kiểu Xơ-
viết, mơ hình kinh tế kế hoạch hố tập trung mang tính bao cấp. Mơ hình này đã
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được u cầu của thời kỳ
đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mơ hình này bộc lộ những khuyết điểm;
và trong cơng tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà ngun nhân sâu
xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và
hành động đơn giản, nóng vội, khơng tơn trọng quy luật khách quan, nhận thức
về CNXH khơng đúng với thực tiễn Việt Nam.
Trên cơ sơ nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi
lên CNXH ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (12/1986) đã
đề ra đường lối đổi mới tồn diện đất nướcnhằm thực hiện có hiệu quả hơn cơng
cuộc xây dựng CNXH. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường,
phương pháp xây dựng CNXH, đặc biệt là quan niệm cơng nghiệp hố XHCN
trong thời kỳ q độ, về kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất
hàng hố và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, và
khẳng định chuyển hẳn sang hoạch tốn kinh doanh. Đại hội chủ trương phát
triển nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh
phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo tồn
diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại
hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của
Đảng Cộng Sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Đó là kết quả của cả một q trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư
tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và cơng sức của tồn Đảng, tồn dân trong
nhiều năm.
Hội nghị Trung ương 6 (3/1989), khố VI, phát triển thêm một bước, đưa
ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hố có kế hoạch gồm nhiều thành phần
đi lên CNXH, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược
lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH”.
Đến Đại hội VII(6/1991), Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ
trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên
CNXH của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ q độ đi lên
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CNXH của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần
theo định hướng XNCH, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước”. Đại hội VIII của Đảng (6/1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng:
“Sản xuất hàng hố khơng đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền
văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho cơng cc xây dựng CNXH
và cả khi CNXH đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế
hàng hố, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”. Phải đến
Đại hội IX của Đảng (4/2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị
trường định hướng XHCN”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN là đường lối chiến lược nhất qn, là mơ hình kinh tế tổng
qt trong suốt thời kỳ q độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây là kết quả sau
nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về
tư duy lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
2.Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam
Lựa Chọn mơ hình kinh tế thị trường định hướng XHCN khơng phải là sự
gán ghép chủ quan giữa “kinh tế thị trường” và “CNXH”, mà là sự nắm bắt và
vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày
nay. Đảng Cộng Sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của
thời đại và sự khái qt, đúc rút kinh nghiệm Phát triển kinh tế thị trường thế
giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam và ở Trung Quốc để
đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm sử
dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước q độ lên CNXH. Đây
là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường.
Cũng có thể nói kinh tế thị trường là “cái phổ biến”, còn kinh tế thị trường định
hướng XHCN là “cái đặc thù” của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm
cụ thể của Việt Nam.
Nói kinh tế thị trường XHCN có nghĩa đây khơng phải là kinh tế thị trường
tự do theo kiểu TBCN, cũng khơng phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
trung quan liêu; và cũng chưa hồn tồn là kinh tế thị trường XHCN, bởi vì như
đã nói ở trên, Việt Nam đang ở trong thời kỳ q độ lên CNXH, vừa có vừa
chưa có đầy đủ các yếu tố của CNXH.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự tiếp thu
có chọn lọc thành tựu của văm minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của
kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất, xã hội hố lao động,
cải tiến kỹ thuật – cơng nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của
cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải
có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường ,
như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân hố
giàu nghèo q đáng, ít quan tâm đến các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa
chọn tự giác con đường và mơ hình phát triển trên cơ sở qn triệt lý luận Mác –
Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam .
Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ rõ: kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức vừa tn theo những quy luật của
kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở được dẫn dắt, chi phối bởi các ngun tắc
và bản chất của CNXH, thể hiện ở cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân
phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là nền kinh tế
hàng hố nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước nhăm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội cơng bằng, dân chủ, văn
minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển lực lượng
sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, nâng cao đời
sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đặígn liền với xây dựng quan
hệ sản xuất mới, tiên tiến.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà
nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành lực lượng vững chắc.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét