đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
Qua bảng trên ta thấy doanh thu của công ty tăng mạnh cụ thể năm 2007
tăng 106,8 % so với năm 2006, đồng thời thu nhập của cán bộ công nhân viên
cũng tăng theo , cụ thể thu nhập của CBCNV trong công ty năm sau cao hơn
năm trớc ( 2006 là 2,2 triệu đ/ngời/tháng , năm 2007 là 2,8 triệu đ/ngời /tháng ,
tăng : 127,3 %).
Doanh thu tăng nh vậy là do sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn
thể cán bộ , công nhân viên trong công ty , với mức lơng nh vậy đã tạo sự phấn
khởi và sự hăng hái thi đua lao động sản xuất của cán bộ , công nhân viên.
1.1.3. Ngành nghề kinh doanh của công ty:
Công ty cổ phần xây dựng Hà Thanh đợc thành lập trong sự cạnh tranh
của nền kinh tế thị trờng, với nhiệm vụ và yêu cầu thách thức mới của xã hội
của ngành nghề kinh doanh của công ty ngày càng đợc mở rộng. Các ngành
nghề kinh doanh chủ yếu gồm:
+ Nhận thi công xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, thuỷ lợi,
công nghiệp; cấp thoát nớc( Công trình sử lý nớc thải công nghiệp, công cộng,
đô thị); đờng điện trung, hạ thế và lắp đặt trạm biến áp đến 1800 KVA; công
trình công cộng( Sân vờn, vờn hoa, công viên )
+ Chuẩn bị mặt bằng công trình;
+ Khoan , khai thác nớc ngầm;
+ Trang trí nội, ngoại thất công trình;
+ Kinh doanh vận tải hàng hoá đờng bộ.
1.1.4. Đặc điểm của quy trình sản xuất thi công xây lắp của Công ty
Là công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nên điều kiện tổ
chức sản xuất cũng nh sản phẩm của Công ty có nhiều khác biệt so với các
ngành khác. sản phẩm chủ yếu của Công ty là sản phẩm thi công các công trình
kết cấu hạ tầng. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của Công ty là thi công
công trình giao thông đờng bộ và một số công trình có giá trị nhỏ khác.
Đối với việc thi công đờng giao thông, Công ty đều phải tuân theo quy
trình công nghệ sau:
Quy trình công nghệ của công ty
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
5
Dọn dẹp mặt
bằng
Thi công
phần thô
Hoàn thiện
công trình
Thi công cống
Tạo cảnh quan môi trường sơn kẻ
mặt đường, chiếu sáng
Đắp bao
Đào lắp thông thường
Tạo cảnh quan môi trường sơn kẻ
mặt đường, chiếu sáng
Kết cấu mặt đường
Làm nền móng, dưng cốt pha, bê
tông cốt
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và phấn
cấp quản lý tài chính của Công ty.
1.2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của
Công ty.
Bộ máy quản lý của các doanh nghiệp nói chung của công ty cổ phần Hà
Thanh nói riêng giữ vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến thất bại hay tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mỗi
ngành nghề sản xuất khác nhau, thị trờng khác nhau thì phải tổ chức bộ máy
cũng phải khác nhau. Là doanh nghiệp t nhân, bộ máy quản lý của công ty đợc
tổ chức theo mô hình trực tuyến tham mu, theo cơ cấu của công ty cổ phần, có
sự hoạt động của tổ chức công đoàn. Việc quản lý công ty do Hội đồng quản trị
của công ty trực tiếp điều hành, bao gồm các phòng ban và các tổ đội sản xuất.
1.2.2. Phân cấp quản lý tài chính của Công ty.
- Đại hội đồng cổ đông: Bao gồm tất cả các cổ đông có quyền dự họp và
biểu quyết theo quy định trong điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty , là cơ
quan quyết định cao nhất của Công ty . Gồm: Đại hội đồng cổ đông thành lập,
đại hội đồng cổ đông thờng niên, đại hội đồng cổ đông bất thờng.
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
6
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty , quyết định mọi vấn đề
liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm
quyền của đại hội đồng cổ đông.
- Giám đốc: Có chức năng điều hành hoạt động của công ty một cách
thống nhất. Giám đốc là ngời đại diện pháp nhân của công ty trong mọi giao
dịch kinh doanh do hội đồng quản trị bổ nhiệm.
- Ban kiểm soát: Là ngời thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động kinh
doanh quản trị điều hành của công ty. Ban kiểm soát gồm 3 thành viên do đại
hội đồng cổ đông bầu ra, bãi miễn với đa số tính theo số lợng cổ phần bằng thể
thức trực tiếp và bỏ phiếu kín.
* Các phòng ban chức năng gồm:
- Phòng kế toán: Giúp giám đốc thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê
điều lệ tổ chức kế toán nhà Nớc và công tác quản lý tài chính ở công ty, chịu
trách nhiệm trớc giám đốc công ty, cấp trên, Nhà Nớc về công tác tài chính kế
toán của đơn vị.
- Phòng kinh tế kỹ thuật: Giúp giám đốc công ty công tác lập kế hoạch
và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh công tác kỹ thuật, công tác định h-
ớng sản xuất và tham mu về phơng pháp tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Phòng vật t cơ giới: Giúp giám đốc quản lý toàn bộ xe, máy, thiết bị và
vật t nhiên liệu của đơn vị, việc mua sắm và trao đổi vật t phụ tùng phục vụ cho
sản xuất kinh doanh.
- Phòng tổ chức hành chính: Giúp giám đốc quản lý lao động điều hành
nhân lực nội bộ, bố trí cán bộ và công nhân thi công các công trình. Thực hiện
công tác giám sát tiền lơng, tiền thởng. Liên hệ với cơ quan bảo hiểm làm thủ
tục giải quyết chế độ chính sách và những chế độ xã hội khác theo quy định ban
hành.
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
7
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
- Phòng đầu t thị trờng : Tham mu cho Giám đốc công ty trong lĩnh vực
nghiên cứu thị trờng, đảm trách toàn bộ công tác kỹ thuật thi công và tìm kiếm
tiếp thị đấu thầu công trình.
- Các đội sản xuất bao gồm :
+ Đội thi công tổng hợp số 1.
+ Xí nghiệp Sơn la.
+ Xí nghiệp PLâyku.
+ Đội tổng hợp số 3.
+ Đội tổng hợp số 4.
Mô hình bộ máy quản lý của công ty
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
8
Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị
Phòng
tổ chức
hành
chính
Giám đốc
Phòng
đầu tư
thị trư
ờng
Phòng
kế toán
Phòng
kinh tế
kỹ thuật
Phòng
QLCG
Đội thi
công
tổng 1
Xí
nghiệp
Sơn La
Xí
nghiệp
Plâyku
Đội tổng
hợp số 3
Đội tổng
hợp số 4
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp :
1.3.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp ảnh hởng đến
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm :
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất độc lập, giữ vai trò quan trọng trong
nền kinh tế, có chức năng tái tạo và trang bị tài sản cố định cho nền kinh tế
quốc dân, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công cuộc
công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc.
So với các ngành khác, xây dựng cơ bản là ngành sản xuất đặc thù với
những đặc điểm kinh tế rất riêng, chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế
toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
nói riêng. Điều này càng thể hiện rõ qua đặc trng về sản phẩm xây lắp và quá
trình tạo ra sản phẩm đó:
Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình, vật kiến trúc,
có quy mô lớn. Do vậy, việc tổ chức quản lý nhất thiết phải có thiết kế, dự toán
và thi công. Trong suốt quá trình xây lắp giá dự toán trở thành thớc đo hợp lý để
hạch toán các khoản chi phí và thanh quyết toán các công trình .
Mỗi đối tợng đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, kết cấu hình thức xây dựng thích
hợp đợc xây dựng cụ thể trên từng thiết kế dự toán đợc duyệt. Do tính chất đơn
lẻ nên chi phí bỏ ra để thi công và xây lắp các công trình có nội dung cơ cấu
không đồng nhất nh sản phẩm công nghiệp. Từ đặc điểm này, kế toán phải tính
đến việc hạch toán chi phí, tính giá thành và tính kết quả thi công cho từng loại
sản phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình, hạng mục công trình, từng nhóm
sản phẩm xây lắp nếu chúng đợc xây dựng theo cùng một thiết kế mẫu và trên
một cùng một địa điểm nhất định).
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
9
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
Mỗi công trình xây dựng gắn liền với vị trí địa lý nhất định, nó đợc cố
định tại nơi sản xuất (thi công) còn các điều kiện sản xuất khác nhau nh : Lao
động, vật t, thiết bị luôn phải di chuyển theo mặt bằng và vị trí thi công. Do đó
sẽ phát sinh một số chi phí cần thiết khách quan nh. Chi phí điều động nhân
công, điều động máy thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm phục vụ
công nhân và thi công kế toán phải phản ánh chính xác các chi phí này và tổ
chức phân bổ hợp lý. Hơn nữa, mặt bằng thi công thờng nằm rải rác khắp nơi và
cách xa trụ sở đơn vị nên tồn tại một khoảng cách lớn giữa nơi trực tiếp phát
sinh chi phí và nơi hạch toán chi phí gây khó khăn cho công tác kế toán xây lắp
nếu không quản lý chặt chẽ dẫn tới sơ hở, lãng phí lớn.
Quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng lại tiến hành ngoài trời, chịu ảnh
hởng của nhân tố khách quan nh thời tiết, khí hậu nên có thể gặp nhiều rủi ro
tạo nên những thiệt hại bất ngờ nh thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản
xuất. Những thiệt hại này cần đợc tổ chức theo dõi chặt chẽ và phải có phơng
pháp hạch toán phù hợp với những nguyên nhân gây ra.
Phơng thức tiêu thụ sản phẩm cũng rất đặc biệt. Sản phẩm xây dựng đợc
đánh giá và xác định là tiêu thụ trớc khi tiến hành thi công xây lắp, do đó sản
phẩm xây lắp mang tính chất tiêu thụ trớc nên tính chất hàng hoá của nó thể
hiện không rõ.
Từ những đặc điểm trên đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu
cầu chung về chức năng nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa
phải đảm bảo phù hợp với đặc tính riêng của doanh nghiệp xây lắp. Từ đó cung
cấp số liệu chính xác, kịp thời đánh giá đúng tình hình kế hoạch sản xuất kinh
doanh, tham mu và cố vấn cho lãnh đạo trong việc tổ chức quản lý để đạt hiệu
quả cao trong sản xuất kinh doanh.
1.3.2. Sự cần thiết và nhiệm vụ kế toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản:
1.3.2.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
10
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
Hoạt động sản xuất của con ngời là để tạo ra sản phẩm vật chất - một
yếu tố khách quan để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngời. Khi
tiến hành các hoạt động sản xuất con ngời phải quan tâm tới hiệu quả của hoạt
động mà hiệu quả của hoạt động là sự so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả
mang lại. Chính vì vậy, trong quá trình sản xuất nhất thiết phải quan tâm đến
việc quản lý chi phí.
Trong quản lý, ngời ta sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhng kế toán
luôn đợc coi là công cụ quản lý có hiệu quả nhất. Tổ chức công tác kế toán chi
phí sản xuất, đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi cấu thành trong giá
thành sản phẩm, lợng giá trị trong các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản
phẩm. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, chi phí sản xuất và gía thành sản
phẩm là vấn đề trọng tâm mà các doanh nghiệp quan tâm, nó quyết định sự
thắng thế trong cạnh tranh là tăng chất lợng công trình và hạ giá thành sản
phẩm.
Để đạt đợc mục tiêu hàng đầu là thu đợc lợi nhuận, các doanh nghiệp cần
phải tăng cờng công tác quản lý kinh tế mà trớc hết là quản lý chi phí sản xuất,
giá thành sẩn phẩm.
Trong đó trọng tâm là công tác hạch toán chi phí sản xuất. Kế toán tập
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ngày càng có vai trò quan trọng, ý
nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp.
1.3.2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp
kế toán phải đáp ứng những nhiệm vụ sau:
-Xác định đúng đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng giá
thành sản phẩm xây lắp.
-Tổ chức kế toán chi phí xây lắp theo đúng đối tợng và phơng pháp đã đ-
ợc xác định trên sổ sách kế toán.
-Xác định đúng chi phí xây lắp dở dang làm căn cứ để tính giá thành.
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
11
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
-Thực hiện tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ một
cách đầy đủ chính xác.
-Phân tích tình hình thực hiện định mức chi phí và giá thành xây lắp để
có quyết định trớc mắt và lâu dài phù hợp.
1.4. Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
1.4.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.
1.4.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp lớn hay
nhỏ muốn sản xuất kinh doanh đều phải bỏ ra những chi phí nhất định. Chi phí
sản xuất xây lắp phát sinh từ hoạt động xây lắp. Hoạt động xây lắp cần phải có
vật t, lao động, máy móc, công cụ, dụng cụ (đây chính là t liệu lao động) đối t-
ợng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình sử dụng ba yếu tố
đó dẫn đến các hao phí tơng ứng. Các hao phí về đối tợng lao động , t liệu lao
động hình thành nên hao phí lao động vật hoá, hao phí tiền lơng, tiền công hình
thành nên hao phí lao động sống. Trong nền sản xuất hàng hoá, các hao phí trên
đợc biểu hiện bằng tiền gọi là chi phí sản xuất.
Vậy chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hoạt động lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà các
doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất
định.
Ngoài ra, chi phí sản xuất còn bao gồm một số khoản mà thực chất là
một phần giá trị mới sáng tạo ra (VD: các khoản trích theo lơng bảo hiểm xã
hội , bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn; các loại thuế không đợc hoàn trả nh
thuế giá trị gia tăng không đợc khấu trừ, thuế tài nguyên ).
1.4.1.2. Phân loại chi phí sản xuất :
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
12
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
Trong xây dựng cơ bản, việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ dựa vào
các số liệu tổng hợp về chi phí sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của
từng loại chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời điểm
nhất định. Do vậy, phân loại chi phí sản xuất là yêu cầu tất yếu cho công tác
quản lý và hạch toán ở doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói
riêng. Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối tợng cung cấp thông tin và góc độ xem xét
chi phí mà chi phí sản xuất đợc sắp xếp, phân loại theo cách thức khác nhau.
Thông thờng, trong các doanh nghiệp xây lắp,chi phí sản xuất thờng đợc
phân loại theo các tiêu thức sau:
- Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này, các chi phí có nội dung, tính chất kinh tế giống
nhau đợc sắp xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong
lĩnh vực nào. Theo cách này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đợc
chia thành 5 yếu tố:
+Chi phí nguyên vật liệu: Gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản.
Chú ý, các yếu tố này phải đợc loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập kho,
phế liệu thu hồi và không bao gồm các thiết bị do chủ đầu t bàn giao.
+ Chi phí nhân công: Gồm toàn bộ tiền lơng, tiền công phải trả và các
khoản trích theo lơng tính vào chi phí của công nhân viên(công nhân sản xuất
trực tiếp và nhân viên quản lý phục vụ ở các đội xây dựng)
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Gồm toàn bộ số khấu hao các tài
sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất và quản lý sản xuất nh các loại máy
thi công (máy xúc, máy ủi, máy trộn bê tông, máy hàn ), nhà xởng, ô tô
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền trả về các loại dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài phục vụ sản xuất, quản lý sản xuất: Tiền nớc, điện điện thoại,
văn phòng phẩm, xăng dầu
+ Chi phí bằng tiền khác: Là các chi phí bằng tiền không thuộc các yếu
tố chi phí trên mà doanh nghiêp đã chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
13
đại học kinh tế quốc dân Chuyên
đề tốt nghiệp
Việc phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế giúp nhà
quản lý biết đợc kết cấu, tỉ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra
trong quá trình sản xuất kinh doanh để lập đợc báo cáo chi phí sản xuất theo
yếu tố của bản Thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ yêu cầu thông tin giá
thành sản phẩm và quản trị doanh nghiệp. Hơn nữa, cách phân loại này còn giúp
doanh nghiệp phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi
phí cho kỳ sau.
- Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí sản
xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi một khoản mục chi phí
chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và cùng công dụng, không phân
biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nào. Vì vậy, cách phân loại này còn gọi là
phân loại chi phí theo khoản mục. Toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ đợc chia
làm các khoản mục chi phí sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra (vật liệu
chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân
chuyển ) tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc
hoàn thành khối lợng xây lắp. Chi phí này không bao gồm các thiết bị do chủ
đầu t ban bàn giao, không bao gồm chi phí về mặt vật t phục vụ máy thi công
( xăng, dầu )
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lơng, tiền công phải trả
cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lợng công tác
xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật
liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn
hiện trờng thi công, không phân biệt công nhân trong danh sách hay công nhân
thuê ngoài.
Sinh viên: Phạm Văn Chung Lớp KT K37 - Phú Thọ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét