CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ
I. Một số nét về thị trường Hoa Kỳ.
1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ.
Trước hết, Hoa Kỳ là một thị trường xuất nhập khẩu khổng lồ, với sức mua lớn, đa dạng về thu nhập, đa
dạng về chủng loại và nhu cầu hàng hóa. Mặt hàng xuất khẩu chính của Hoa Kỳ chủ yếu là sản phẩm chế tạo
như máy móc văn phòng, thiết bị viễn thông, thép và sản phẩm thép, ô tô và phụ tùng ô tô, hóa chất…, sản
phẩm nhập khẩu chính của Hoa Kỳ là thực phẩm, quặng các loại, kim loại màu, nhiên liệu chủ yếu là dầu
mỏ, hàng dệt và may mặc, giày dép. Ngoài ra còn là những sản phẩm chế tạo như thiết bị điện tử, ô tô, phụ
tùng ô tô, thiết bị điện, hóa chất…
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ chiếm 50% GDP thế giới, 1/3 buôn bán quốc tế. Tỷ trọng của nền
kinh tế Hoa Kỳ trong nền kinh tế thế giới tuy giảm song hiện nay vẫn giữ ở mức 22% GDP thế giới (năm
2000 GDP của Hoa Kỳ đạt gần 8000 tỷ USD).
Với diện tích khoảng 9,4 triệu km
2
và dân số trên 263,43 triệu người, Hoa Kỳ thực sự trở thành một
cường quốc kinh tế với sức mua lớn nhất thế giới. Các “con Rồng” châu Á đã phát triển nhanh nhờ vào việc
chiếm lĩnh được thị phần khá lớn tại thị trường này.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm của Hoa Kỳ chiếm khoảng 14% kim ngạch xuất nhập khẩu toàn thế
giới: Hoa Kỳ là nước xuất khẩu thủy sản lớn thứ 2 trên thế giới, xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới và hàng
nông sản Hoa Kỳ chiếm trên 21% khối lượng buôn bán hàng nông sản chung của thế giới. Đồng thời, Hoa
Kỳ là nước nhập khẩu thủy sản và dệt may lớn nhất thế giới. Điều này có thể khẳng định rằng tất cả các quốc
gia trên thế giới đều mong muốn thiết lập quan hệ thương mại với Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ là một thị trường có
sức mua lớn và một nền tảng khoa học công nghệ cao.
Hoa Kỳ là một quốc gia chi phối gần như tuyệt đối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc tế như Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)… bởi Hoa Kỳ có tiềm lực
tài chính đóng góp nhiều và theo đó quyền phủ quyết áp đảo trong các tổ chức này rất lớn. Bên cạnh đó đồng
USD có vai trò thống trị thế giới. Với 24 nước gắn trực tiếp đồng tiền của họ vào đồng USD, trên 55 nước “neo
giá” vào đồng USD để thị trường tự do ổn định tỷ giá, các nước còn lại ở nhiều mức độ khác nhau vẫn sử dụng hệ
thống dựa vào chỉ tiêu biến động của đồng USD để tính toán giá trị đồng tiền của mình. Và đặc biệt với một thị
trường chứng khoán chi phối hàng năm khoảng 8000 tỷ USD (trong khi đo các thị trường chứng khoán Nhật chỉ
vào khoảng 3800 tỷ USD, thị trường EU khoảng 4000 tỷ USD), mọi sự biến động của đồng USD và hệ thống tài
chính Hoa Kỳ đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của nền tài chính quốc tế.
Hiện nay, Hoa Kỳ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, chiếm 13,5% thị trường xuất khẩu thế giới. Mặc dù là
nước công nghiệp mạnh nhất thế giới với nền công nghiệp điện tử, tin học - viễn thông phát triển mạnh,
nhưng trong năm 1998, Hoa Kỳ vẫn là nước xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ hai thế giới, xuất khẩu gạo thứ 3 thế
giới và hàng nông sản Hoa Kỳ chiếm 21% khối lượng buôn bán hàng nông sản chung của thế giới (năm 1996
chiếm 16,7%). Giá trị hàng nông nghiệp xuất khẩu năm 1998 của Hoa Kỳ đạt 65 tỷ USD.
Trên thị trường thế giới, sản phẩm của Hoa Kỳ đứng đầu danh sách 10 nước có sức cạnh tranh nhất thế giới.
Nhập khẩu của Hoa Kỳ cũng chiếm thị phần lớn trên thế giới, 15% tổng kim ngạch nhập khẩu của thế
giới (1998). Cho đến năm 1998, Hoa Kỳ vẫn là nước nhập khẩu thuỷ sản và dệt may lớn nhất thế giới. Tuy mức
thâm hụt thương mại vẫn còn rất lớn, nhưng hiện nay Hoa Kỳ đã có những biến đổi lớn trong cơ cấu thị trường
thương mại. Giảm dần mức thâm hụt truyền thống trong thương mại với Nhật (1998 chỉ còn 3,96 tỷ USD so với
mức 4,34 tỷ USD năm 1997); thiết lập một khu vực đối trọng với EU và Nhật Bản là NAFTA và trong tương lai
sẽ tiến tới khu vực tự do Châu Mỹ (FTAA: Free Trade Area of America ).
Từ một nền kinh tế như vậy, các chiến lược kinh tế thương mại của Hoa Kỳ bao giờ cũng được đặt trong
các chương trình điều chỉnh tổng thể nhằm làm thích ứng, thậm chí làm thay đổi các xu thế phát triển của thế
giới. Với tiềm năng to lớn và những ưu thế nêu trên, trong những thập kỷ tới, Hoa Kỳ vẫn là cường quốc kinh tế
số một của thế giới, và đặc biệt đóng vai trò chi phối đối với nền kinh tế và thương mại trong khu vực cũng như
trên toàn cầu.
2. Một số đặc điểm kinh doanh và thói quen tiêu dùng của người Mỹ
Nhiều tư liệu lịch sử còn ghi nhận lại rằng vào đầu thế kỉ 19, lục địa Bắc Mỹ mà sau này là Mỹ vẫn còn
nhiều vùng hoang vu, thưa thớt cư dân nhưng chỉ sau 50 năm và nhất là từ khi Hợp chủng quốc chính thức ra đời,
lượng người nhập cư vào Mỹ gia tăng rõ rệt. Trong thành phần cư dân mới có đủ loại người: người đi tìm vàng
hoặc đi tìm vùng đất có nhiều cơ may hơn, người trốn pháp luật truy tố, người đi giảng đạo, người đi buôn, người
đi làm thuê cho chủ… Dù thuộc thành phần nào đi chăng nữa, mong muốn chung của họ là xây dựng một cuộc
sống mới đầy đủ hơn, tốt đẹp hơn so với trước đây. Nói chung, trong tay họ không có bao nhiêu gia sản, nhiều
người chỉ có hai bàn tay trắng, thậm chí một câu tiếng Anh cũng không biết nhưng họ có ý chí, nghị lực và sức
lao động. Họ hiểu rõ rằng trên mảnh đất có nhiều ưu đãi của thiên nhiên nơi đây, nếu chịu khó lao động, cuộc
sống sung túc chẳng bao lâu sẽ đến. Quả thật, những người Mỹ thuộc thế hệ tiên phong (tính theo lịch sử Hợp
chủng quốc) là những người rất yêu lao động , sẵn sàng đổ mồ hôi để đổi lấy thành quả lao động của mình. Chính
vì vậy, họ luôn có ý thức và tham vọng cải tiến lao động để nhận được giá trị to lớn hơn. Họ rất chịu khó tìm tòi,
vận dụng các phương pháp lao động cho đạt kết quả tốt hơn, đỡ chi phí và khi cảm thấy không đạt được mục tiêu
đã đặt ra trong lĩnh vực này, họ táo bạo bắt tay vào công việc ở lĩnh vực khác để thử sức với số mệnh. Tóm lại,
họ là những con người năng động nhất, giàu nghị lực nhất, có óc tiến thủ nhất trong thời đại của họ.
Người Mỹ rất biết giá trị lao động của họ tạo ravà nó phải được lượng hóa bằng tiền. Làm ra tiền, kiếm
tiền là động lực thúc đẩy mọi người vận động nhanh hơn, căng thẳng hơn, cuồng nhiệt hơn so với xứ khác. Muốn
thu được tiền, kiếm được nhiều tiền, người ta phải ráo riết bươn chải, chạy đua với thời gian, với đối thủ cạnh
tranh để có hàng hóa và dịch vụ tốt hơn. Mặt khác, cần tỉnh táo để không phải chi phí quá mức từ nguyên liệu,
công sức tới tiền bạc. Các tính toán sòng phẳng đến chi li cho mọi việc bất kể đối với ai, từ người thân trong gia
đình tới bạn hữu đã tạo cho người Mỹ một đặc điểm riêng: đó là tính thực dụng.
Chính tính thực dụng đã sớm đẩy người Mỹ lao vào hoạt động dịch vụ.
Ngay từ cuối thế kỷ 19, khi nền công nghiệp non trẻ của Mỹ còn chưa đạt được
trình độ công nghệ để vượt qua được các nước tư bản lọc lõi, già dặn kinh
nghiệm như Anh, Pháp, Đức, các nhà sản xuất Mỹ đã tâm niệm rằng sản xuất ra
hàng hóa mới chỉ là một giai đoạn của quá trình kinh doanh, do đó muốn kinh
doanh thành công, phải chú ý làm tốt các khâu hỗ trợ cần thiết để hàng hóa đến
tay người tiêu thụ nhanh hơn, nhiều hơn. Muốn vậy phải biết chào hàng, săn đón
khách hàng, giúp đỡ khách hàng xử lý các trục trặc kỹ thuật có thể xảy ra, cung
cấp các phụ tùng thay thế hoặc trang bị phụ… Tóm lại, phải quan tâm chiều ý
khách hàng, coi “khách hàng là thượng đế”, phải luôn tâm niệm rằng ‘khách
hàng bao giờ cũng đúng”, có như vậy mới bán được hàng và mới thu được lợi
nhuận. Một khi khách hàng đã bước vào gian hàng, lập tức họ được săn đón, giới
thiệu hàng hóa mà chưa cần biết họ sẽ mua hay không. Dù khách hàng không
mua gì, nhân viên bán hàng vẫn luôn niềm nở và vui vẻ tạm biệt để hy vọng
khách hàng còn quay lại khi khác. Còn nếu khách có vẻ ưng ý một mặt hàng nào
đó, người bán hàng sẽ hồ hởi làm theo mọi yêu cầu của khách hàng vì họ đã
nhuần nhuyễn phương châm “một đơn hàng - một hợp đồng - một trách nhiệm”
từ đơn giản và rẻ tiền như hộp xi đánh giày tới phức tạp và đắt tiền như chiếc xe
hơi, khách hàng đều có cơ hội thử và được hướng dẫn sử dụng hết sức tận tình.
Ở vị trí người bán hàng, hoặc phải bán đủ định mức đã giao trong ngày, hoặc bán
được bao nhiêu thì hưởng hoa hồng bấy nhiêu nên những người bán hàng cố
gắng thuyết phục cho được khách hàng của mình. Người bán hàng Mỹ cũng hay
sử dụng những tiểu xảo như hàng còn rất nhiều nhưng nói chỉ còn một chiếc duy
nhất, khách thử hàng tuy không vừa lắm nhưng vẫn khen đẹp hết lời, hàng đang
ế ẩm nói hàng đang bán rất chạy… do đó người mua cũng phải cảnh giác với
những lời chào ngọt ngào, dù đã thử hàng rồi nhưng nếu không hài lòng thì
cương quyết chối từ.
Dịch vụ sau bán hàng ở Mỹ rất chu đáo. Ngay sau khi khách hàng lựa
chọn được món hàng ưng ý, họ sẽ được hướng dẫn sử dụng tận tình và sau đó,
hàng sẽ được bao gói cẩn thận, trang trí thêm nơ nếu khách muốn. Nếu khách
hàng không muốn lấy hàng ngay mà muốn được đem hàng đến tận nhà thì việc
đem hàng đến nhà, dù bằng đường bưu điện thì vẫn là bổn phận và nghĩa vụ của
người bán hàng. Người bán hàng sẵn sàng nhận lấy công việc đó mà thường
không đòi thêm phụ phí. Những năm gần đây, dịch vụ mua hàng qua điện thoại
và qua máy vi tính rất phát triển vì tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức
cho người tiêu dùng. Có thể những nội dung dịch vụ đó hiện nay đã trở thành
nếp chung của thế giới nhưng phải ghi nhận rằng người Mỹ đã thực hành chúng
sớm nhất, đồng thời nước Mỹ trong những thập niên gần đây phát triển với tốc
độ nhanh hơn hẳn các ngành sản xuất, vừa để đáp ứng nhu cầu trong nước vừa
xuất khẩu được bình quân mỗi năm gần 60 tỷ USD (đứng đầu thế giới) để đổi lại
lượng dịch vụ nhập khẩu từ các nước khác với giá trị tương đương.
Từ những đòi hỏi ngày càng khắt khe, khó tính của khách hàng, yêu cầu
dịch vụ quay lại tác động tới sản xuất khiến sản xuất phải đa dạng hơn. Các nhà
sản xuất Mỹ từ lâu quan niệm rằng khi sản phẩm của họ được bày bán trên thị
trường thì đó mới chỉ là một nửa nghĩa vụ đối với người tiêu dùng. Nửa còn lại
là tiếp tục điều chỉnh tính năng của sản phẩm, cung cấp thêm các trang bị phụ và
các phụ tùng thay thế, hướng dẫn sử dụng sản phẩm đạt được mức độ thuận tiện
nhất, an toàn nhất. Quan niệm này không chỉ cho phép nhà sản xuất thu được
doanh số cao nhờ kích thích được người tiêu dùng mua sản phẩm chính của họ,
mà còn thu thêm được số tiền không nhỏ, có khi bằng doanh thu sản phẩm chính,
do bán được nhiều sản phẩm phụ và làm dịch vụ sau bán hàng.
Người Mỹ ngày nay nói chung được nhìn nhận là cởi mở, thẳng thắn, khá nồng nhiệt và dễ dàng tạo lập quan
hệ bạn bè. Họ cũng rất có tinh thần tôn trọng pháp luật. Mọi mối quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với
chính quyền, công ty này với công ty khác nếu có trục trặc là rất có thể được xem xét, phán xử tại tòa án. Do
Mỹ có hệ thống luật rất ổn định và có tính chất toàn diện đối với các hoạt động kinh tế trong nước nên việc
kinh doanh buôn bán với Mỹ độ rủi ro biến động luật pháp là rất thấp. Ngoài ra, Mỹ là nước đi theo chế độ
cộng hòa đa nguyên, đa đảng. Tổng thống có vai trò rất lớn. Những đặc điểm này đòi hỏi nhà nước nói chung
và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng khi tham gia kinh doanh với các đối tác Mỹ phải tìm hiểu môi
trường kinh tế xã hội, chính trị, pháp luật của họ để hạn chế rủi ro trong kinh doanh.
3. Tiềm năng nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ.
Nghiên cứu các nước thâm nhập thị trường Hoa Kỳ trong thập kỷ 1991 - 2000 (khi xuất khẩu của Hoa Kỳ
trong thời kỳ này tăng từ 488 tỷ USD năm 1991 lên đến 913 tỷ USD năm 1999) ta thấy xuất khẩu của họ vào
thị trường Hoa Kỳ trong thời gian này tăng như sau:
Các nước ASEAN:
- Malaixia: từ 6 tỷ lên 19 tỷ USD, tức tăng 3 lần
- Thái Lan: từ 6 tỷ lên 13 tỷ USD, tức tăng 2 lần
- Phillippines: từ 3 tỷ lên 12 tỷ USD, tức tăng 4 lần
- Indonexia: từ 3 tỷ lên 8 tỷ USD, tức tăng gần 3 lần
- Singapore: từ 10 tỷ lên 18 tỷ USD, tức tăng gần 2 lần
Các nước trong khu vực cũng có tốc độ tăng tương tự như:
- Trung Quốc: từ 19 tỷ lên 71 tỷ USD, tức tăng hơn 3 lần
- Hàn Quốc: từ 17 tỷ lên 24 tỷ USD, tức tăng 1,4 lần
- Đài Loan: từ 23 tỷ lên 33 tỷ USD, tức tăng 1,5 lần
- EU: từ 93 tỷ lên 176 tỷ USD, tức tăng gần 2 lần
- Nhật Bản: từ 91 tỷ lên 122 tỷ USD, tức tăng 1,3 lần
(Nguồn: Bộ Thương mại – Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại)
Những mặt hàng mà Hoa Kỳ nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu là giày dép, may mặc, máy móc, điện tử, đồ gỗ,
đồ chơi, nông sản chế biến. Đây cũng chính là những mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh về thủ công và lao
động rẻ như giày dép, may mặc, thủ công mỹ nghệ truyền thống… Chúng ta cũng đã nghiên cứu để có thể
ngày càng phát triển được những mặt hàng này nhằm đáp ứng được một thị trường đầy tiềm năng nhưng
cũng đầy khó khăn và đòi hỏi cao như thị trường Hoa Kỳ.
II. Chính sách quản lý nhập khẩu của Hoa Kỳ.
1. Chính sách thuế quan.
1.1 Các phương pháp tính thuế theo quy định
a. Thuế quan tính theo phần trăm:
Hầu hết thuế quan của Hoa Kỳ là thuế theo trị giá - thuế được tính trên cơ sở phần trăm của trị giá hàng nhập
khẩu (ad valorem duty). Thuế theo trị giá của Hoa Kỳ bao gồm từ mức dưới 1% tới gần 90%. Mặt hàng giày
dép và dệt may nhập khẩu thường phải chịu thuế suất cao hơn. Hầu hết thuế theo trị giá là từ mức 2 đến 7%,
so với mức thuế trung bình toàn biểu là 4%
b. Thuế theo khối lượng:
Một số mặt hàng nhập khẩu, chủ yếu là nông sản và những mặt hàng chưa qua chế biến khác bị đánh thuế
theo khối lượng (weight duty rate), là thuế được thể hiện bằng một khoản phí cụ thể đánh vào một khối lượng
hàng hóa cụ thể
c. Thuế gộp:
Một số mặt hàng chịu thuế gộp (compound rate) tức là thuế suất gồm hai phần thuế theo trị giá và thuế đặc
định. Năm 1999, các loại thuế này áp dụng cho 12,9% số dòng thuế và chủ yếu đánh vào hàng nông sản thực
phẩm chế biến, giầy dép, thiết bị chính xác, hoá chất, hàng dệt. So với thuế tính theo phần trăm (ad valorem
duty) thuế gộp (compound rate) có tính bảo trợ cao hơn và gây nhiều khó khăn hơn cho các nhà xuất khẩu.
Nếu quy đổi tương đương mức thuế tính theo phần trăm thì mức độ bảo hộ của các thuế suất cụ thể này từ
40,6% tới 232,2%. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đều tính toán và công khai giá trị tương đương thuế quan phần trăm
đối với phần lớn các mức thuế cụ thể. Các mức giá trị tương đương này do cơ quan USITC tính và cung cấp
cho doanh nghiệp có nhu cầu.
1.2 Một số quy định khác
b a. Miễn thuế:
Năm 1999, 29,7% số dòng thuế của Hoa Kỳ (không kể mức thuế trong hạn ngạch thuế quan “In − Quota
tariff”) có mức thuế bằng 0%. Khi Hoa Kỳ thực hiện miễn thuế các sản phẩm công nghệ thông tin, theo hiệp
định Công nghệ thông tin (ITA) của WTO, thì sẽ có thêm 1,4% số dòng thuế có thuế suất bằng 0%.
b. Hạn ngạch thuế quan (tariff quota).
Thực hiện cam kết thuế hoá các biện pháp phi thuế của vòng đàm phán Urugoay. Hiện nay Hoa Kỳ áp dụng
hạn ngạch thuế quan đối với thịt bò, sản phẩm sữa, đường và một số sản phẩm lạc, đường, thuốc lá và bông.
Khoảng 198 dòng thuế chịu áp dụng biện pháp này.
Mức thuế trong hạn ngạch trung bình là 9,5% trong khi mức thuế ngoài hạn ngạch trung bình là 55,8%.
c. Thuế suất MFN.
Mức thuế suất trung bình hiện nay của Hoa Kỳ thuộc vào loại thấp nhất thế giới và đang có xu hướng
ngày càng giảm. Thuế suất áp dụng (applied tariff) trung bình của Hoa Kỳ đã giảm từ 6,4% năm 1996 xuống
5,7% năm 1999. Tuy nhiên mức thuế áp dụng đối với một số nhóm sản phẩm như động vật sống, thịt, thực phẩn
chế biến, nước giải khát, thuốc lá lại có xu hướng tăng trong giai đoạn 1996−1999. Nhìn chung mức thuế suất
trung bình áp dụng đối với hàng nông nghiệp là 10,7% cao gấp hai lần mức thuế áp dụng đối với hàng công
nghiệp (4,7%).
Bảng 1: Mức thuế MFN và thuế suất phổ thông của Hoa Kỳ đối với các nhóm hàng nhặp khẩu
STT
Mặt hàng
Thuế suất
MFN %
Thuế suất phổ thông
%
Mức chênh lệch
%
1 Gạo 1.7 6.5 4.8
2 Sản phẩm dệt 10.7 55.1 44.8
3 Sản phẩm may mặc 13.4 68.9 55.5
4 Hạt ngũ cốc 0.6 4.0 3.4
5 Rau quả hạt 5.4 20.8 15.4
6 Hạt có dầu 5.2 35.4 27.2
7 Sợi có nguồn gốc thực vật 0.3 1.6 1.3
8 Thịt gia súc (bò, ngựa) 3.4 23.9 20.5
9 Thiết bị điện tử 2.8 34.0 31.2
10 Hải sản 0.0 1.7 1.7
11 Dầu thực vật 3.7 12.8 9.1
12 Sản phẩm sữa 27.8 29.7 1.9
Nguồn: Emiko Fukase and Will Martin, the effect of the US’s Grantin MFN
status to Việt Nam, World Bank.
d. Thuế leo thang (tariff escalation).
Mức thuế áp dụng đối với sản phẩm hoàn chỉnh cao hơn chút ít đối với thuế suất áp dụng cho hàng sơ chế.
Tuy nhiên, giữa hàng sơ chế và nguyên liệu thì chênh lệch về thuế suất là khá lớn, kể cả đối với sản phẩm
nông nghiệp. Trong thời gian tới khi Hoa Kỳ tiếp tục cắt giảm thuế theo các cam kết trong WTO thì sự chênh
lệch này càng lớn. Đây là một trong những cách thức mà các nước phát triển thường áp dụng để khuyến
khích nhập nguyên liệu, hạn chế việc phát triển các ngành chế tạo có giá trị gia tăng cao ở các nước khác.
Mặc dù đã được nêu ra tại diễn đàn WTO, nhưng hiện chưa có cam kết cụ thể nào về vấn đề này.
e. Thuế ưu đãi.
Hoa Kỳ áp dụng thuế ưu đãi theo hai phương thức cơ bản: ưu đãi đơn phương và ưu đãi có đi có lại.
- Ưu đãi đơn phương : Hoa Kỳ dành ưu đãi thuế cho các nước được hưởng quy chế GSP và các nước thuộc
các chương trình CEBRA và ATPA.
- Ưu đãi có đi có lại: Hoa Kỳ áp dụng thuế ưu đãi cho Canada và Mexico theo hiệp định NAFTA và Israel
theo Hiệp định Thương mại tự do Hoa Kỳ - Israel.
Bảng 2: So sánh các mức thuế ưu đãi.
Nhóm nước đối tác
Tỷ trọng nhập khẩu
%
Thuế suất trung bình
đơn giản %
Thuế suất %
SP công nghiệp SP nông sản
Các nước được
hưởng MFN
57.5 5.7 4.7 10.7
Canada 19.2 0.8 0.0 5.0
Mehco 7.3 1.1 0.5 4.5
Israel 0.8 0.8 0.0 5.2
Các nước được
hưởng GSP
12.5 4.1 3.1 9.2
Nguồn: Trade policy Review of the US
2. Chính sách phi thuế quan
Hiện nay Hoa Kỳ đang áp dụng các biện pháp phi thuế quan chính là cấm nhập khẩu, giấy phép nhập
khẩu, hạn chế số lượng, quy chế về xuất xứ và các quy định về vệ sinh dịch tễ.
a. Cấm nhập khẩu: Các sản phẩm sau đây bị cấm nhập khẩu.
- Sản phẩm có xuất xứ từ Cuba, Iran, Irắc, CHDCNH Triều Tiên, Libya, Sudan, Haiti, trừ khi có yêu cầu của
Bộ tài chính.
- Kim cương Angola.
- Vũ khí, đạn dược.
- Động vật hoang dã bị cấm săn bắt tại các nước khác; động vật có xuất xứ tại những nước được Bộ nông
nghiệp Hoa Kỳ xác nhận là có bệnh dịch; loài rùa Đại Tây Dương.
- Các sản phẩm khiêu dâm, phi đạo đức, kích động chống chính phủ.
b. Giấy phép nhập khẩu.
Các sản phẩm sau đây phải có giấy phép nhập khẩu:
- Cây trồng và sản phẩm giống cây trồng.
- Động vật và sản phẩm động vật.
- Các sản phẩm chịu hạn ngạch thuế quan (ví dụ: đường, sản phẩm sữa ).
- Chất ức chế dùng trong dược phẩm.
- Khí tự nhiên.
- Cá và động vật sống ( kể cả các loài có nguy cơ tuyệt chủng)
- Nước giải khát trưng cất.
- Rượu vang và nước giải khát có mạch nha.
- Nước trưng cất vì mục đích công nghiệp (bao gồm cả cồn nhiên liệu).
- Vũ khí, đạn dược, chất nổ, thiết bị nguyên tử và nguyên liệu.
- Sản phẩm tạo ra phóng xạ.
- Lương thực, thuốc men, mỹ phẩm…
- Vật liệu sinh học hoặc vật sống thí nghiệm
- Các loại tiền tệ
c. Hạn chế số lượng.
Theo phần 22 luật điều chỉnh Nông nghiệp năm 1933, Tổng thống Hoa Kỳ có quyền áp dụng phí nhập khẩu
tới 50% hay áp dụng hạn chế số lượng nhằm làm giảm nhập khẩu tới mức 50% so với mức nhập khẩu trong
một thời gian nhất định. Các biện pháp này hiện nay chỉ áp dụng với các nước không phải thành viên WTO
d. Quy chế về xuất xứ
Tất cả các hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải ghi nhãn về nước xuất xứ bằng tiếng Anh một cách
rõ ràng, dễ nhận biết. Tuy nhiên nếu sản phẩm được nhập khẩu để tiếp tục chế biến một cách cơ bản tại Hoa Kỳ
thì không yêu cầu phải ghi nhãn xuất xứ. Một số sản phẩm như đồng hồ, sắt và ống thép, rượu vang và nước giải
khát có mạch nha phải tuân thủ các quy định đặc biệt về ghi nhận xuất xứ. Các sản phẩm có nhãn xuất xứ làm
người tiêu dùng hiểu sai về xuất xứ của sản phẩm hay các nhãn bị cấm theo quy định của luật về nhãn hiệu
thương mại sẽ bị tịch thu hoặc cấm nhập khẩu. Đối với sản phẩm dệt, may Hoa Kỳ có quy định về xuất xứ riêng.
e. Các tiêu chuẩn về vệ sinh dịch tễ.
Các tiêu chuẩn được xây dựng một cách tự nguyện. Thường các tiêu chuẩn do khu vực tư nhân xây dựng
không được chuyển thành tiêu chuẩn quốc gia mà chỉ được áp dụng giữa người mua và người bán. Viện tiêu
chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) là cơ quan nghiên cứu, tổng hợp và phối hợp các tiêu chuẩn được các đối tượng
khác nhau xây dựng lên. Các tiêu chuẩn có thể được dùng để xây dựng các quy định kỹ thuật khi cơ quan quản lý
thấy cần thiết. Cơ quan hải quan và các cơ quan liên quan đến từng nhóm sản phẩm sẽ chịu trách nhiệm thi hành
các tiêu chuẩn này tại cửa khẩu.
Việc tiến hành hợp chuẩn có thể được tiến hành bởi chính quyền liên bang, chính quyền bang, chính
quyền địa phương.
Đối với nông sản, các thông tin về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ do phòng an toàn thực phẩm và dịch vụ kỹ thuật
thuộc cơ quan dịch vụ nông nghiệp nước ngoài của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cung cấp.
Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) của Bộ dịch vụ y tế và nhân đạo là cơ quan chịu trách
nhiệm về tính an toàn của thực phẩm, ban hành các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm.
Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, diệt nấm
đối với thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác.
Ngoài ra, các quy định của Bộ Nông nghiệp sẽ do các cơ quan sau thi hành:
- Cơ quan kiểm định sức khỏe động thực vật (APHIS): đối với động thực vật.
- Cơ quan kiểm định an toàn thực phẩm (FSIS): đối với thịt lợn, trứng (trừ thịt ngựa, cừu, gia súc)
- Cơ quan quản lý kiểm định đóng gói và lưu kho hạt ngũ cốc (GIPSA).
- Cơ quan kiểm định hạt liên bang (FGIS)
- Cơ quan Marketing nông nghiệp (AMS)
- Cơ quan hải quan
Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có một số đạo luật buôn bán khác. Có 5 đạo luật chính làm nên các khung cơ bản
cho việc buôn bán xuất nhập ở Hoa Kỳ.
* Đạo luật thứ nhất là Luật thuế suất năm 1930. Còn gọi là Luật thuế
suất Smol-Hawley khét tiếng - đã nâng thuế suất lên những mức đáng sợ và đã bị
quy tội làm cho cuộc đại khủng hoảng trong những năm 1930 dài hơn và ác liệt
hơn nó vốn có. Các thuế suất nghiệt ngã đến nay đã được hạ xuống nhiều, nhưng
nhiều điều khoản trong đạo luật trên vẫn còn hiệu lực. Luật Smol-Hawley hiện
nay bao gồm cả việc tổ chức và hoạt động cả Uỷ ban Thương mại Quốc tế (ITC).
Luật này có các điều khoản đặt ra để ITC đối phó với các thực tiễn xấu trong
việc nhập khẩu vào Hoa Kỳ và bảo vệ các hàng hóa mang nhãn hiệu Hoa Kỳ
chống lại việc thu nhập hàng giả. Luật cũng bao gồm các quy định về thuế bù trừ
và thuế chống hàng thừa ế.
* Đạo luật chính tiếp theo là Luật buôn bán năm 1970. Luật này bao
gồm thẩm quyền thương lượng ký hiệp định với các nước khác, việc lập ra cơ
quan đại diện buôn bán Hoa Kỳ (hiện nay là Carla Hill ) và điều khoản định
hướng các hoạt động buôn bán, sự đền bù tổn thất cho các ngành công nghiệp
gây ra bởi sự cạnh tranh nhập khẩu. Các quy định đó còn liên quan tới việc thực
thi các quyền buôn bán của Hoa Kỳ theo các hiệp định buôn bán tại điều 301.
Luật này điều chỉnh quan hệ buôn bán với các nước có nền kinh tế phi thị trường
cùng với Điều 406 về các hành vi lũng đoạn thị trường. Điều luật này cũng bao
gồm hệ thống tổng quát về ưu tiên.
* Hiệp định buôn bán 1979 được thông qua trước hết nhằm thực hiện
một số bộ luật được thương lượng tại vòng đàm phán Tokyo của GATT. Nó gồm
các điều khoản về sự bảo trợ của chính phủ và chướng ngại kỹ thuật tổng buôn
bán, gồm các sửa đổi thuế bù trừ và thuế chống hàng thừa ế cũng như cách tính
trị giá của hải quan.
d. Luật về buôn bán và thuế suất 1984 nới rộng thẩm quyền thương
lượng và chuẩn bị cho một hiệp định với Israel.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét