vào hoạt động điều tra khám phá các vụ án trộm cắp tài sản của người nước
ngoài trên đòa bàn thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu; trong 5
năm, từ năm 2001 đến năm 2006.
5- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của chủ nghóa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam về an ninh, trật tự và các Nghò quyết, Chỉ thò của
lực lượng CAND.
- Phương pháp cụ thể:
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể như:
+ Nghiên cứu tài liệu.
+ Điều tra khảo sát thực tiễn.
+ Điều tra xã hội học.
+ Tọa đàm, hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia.
+ Tổng kết kinh nghiệm.
6- Yếu tố mới của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên ở nước ta đã nghiên cứu
một cách toàn diện và có hệ thống về thực trạng quan hệ phối hợp giữa các
lực lượng nghiệp vụ Công an nhân dân tham gia vào hoạt động điều tra
khám phá các vụ án trộm cắp tài sản của người nước ngoài trên đòa bàn
thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu, đồng thời đề ra được những
giải pháp khoa học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra khám phá
các vụ án trộm cắp tài sản của người nước ngoài trên đòa bàn thành phố
Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu.
7- Ý nghóa khoa học và ý nghóa thực tiễn của luận văn
Ý nghóa khoa học của đề tài luận văn: Kết quả nghiên cứu của luận
văn góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận về quan hệ phối hợp
5
giữa các lực lượng nghiệp vụ Công an nhân dân tham gia vào hoạt động điều
tra khám phá các vụ án trộm cắp tài sản của người nước ngoài.
Ý nghóa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn phục vụ cho việc
nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của người nước ngoài trên đòa bàn
thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu. Luận văn còn được sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong
các trường CAND.
8- Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được cấu trúc 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Nhận thức chung về quan hệ phối hợp giữa các lực lượng
nghiệp vụ CAND trong hoạt động điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của
người nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng quan hệ phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ
CAND trong hoạt động điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của người nước
ngoài trên đòa bàn thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa các lực
lượng nghiệp vụ CAND trong hoạt động điều tra các vụ án trộm cắp tài sản
của người nước ngoài trên đòa bàn thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ròa - Vũng
Tàu.
6
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUAN HỆ PHỐI HP GIỮA CÁC
LỰC LƯNG NGHIỆP VỤ CAND TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, những dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản và
những vấn đề cần chứng minh trong hoạt động điều tra các vụ án trộm
cắp tài sản
1.1.1 Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
1.1.1.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, trước hết
cần nhận thức đúng về các loại tội phạm đó được pháp luật quy đònh như thế
nào. Chính vì vậy, trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp
thì vấn đề đầu tiên là phải xác đònh rõ khái niệm cũng như những dấu hiệu
pháp lý của tội phạm này. Bởi vì, chỉ trên cơ sở nhận thức đúng và đầy đủ về
tội trộm cắp tài sản mới có thể đề ra được các phương hướng, giải pháp cụ
thể để đấu tranh, phòng chống. Trong hoạt động điều tra tội phạm, để giải
quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác thì một trong những yêu cầu
quan trọng đặt ra đó là phải hiểu rõ về bản chất của hành vi phạm tội, cũng
như những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm đó. Thực tiễn ở nước
ta hiện nay càng khẳng đònh ý nghóa, tầm quan trọng và sự cấp thiết phải làm
sáng tỏ những nội dung trên. Vậy, tội trộm cắp tài sản được pháp luật Việt
Nam quy đònh như thế nào? Trước đây, khi chưa có Bộ luật hình sự, hành vi
trộm cắp tài sản được quy đònh tại Pháp lệnh trừng trò các tội xâm phạm tài
sản xã hội chủ nghóa và xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21 tháng
10 năm 1970. Chẳng hạn như: hành vi trộm cắp tài sản riêng của công dân
được Pháp lệnh quy đònh như sau: “Kẻ nào trộm cắp tài sản của công dân thì
bò phạt tù…”. Tuy nhiên, việc quy đònh về hành vi trộm cắp tài sản: như thế
7
nào là trộm cắp? Việc mô tả hành vi khách quan chưa được nêu ra, chưa
phân biệt rõ ràng hành vi trộm cắp với những hành vi xâm phạm sở hữu
khác… tại Pháp lệnh này chưa được quy đònh cụ thể hành vi.
Đến năm 1985
1
, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta ra đời. Tội phạm
trộm cắp tài sản được quy đònh tại hai điều ở hai chương khác nhau, đó là:
- Điều 132, chương IV (Các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghóa)
Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghóa, tại khoản 1 quy đònh: “Người nào trộm
cắp tài sản xã hội chủ nghóa thì bò phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm
hoặc bò phạt tù từ sáu tháng đến năm năm…”.
2
- Điều 155, chương VI (Các tội xâm phạm sở hữu tài sản của công dân)
Tội trộm cắp tài sản của công dân, Khoản 1 quy đònh: “Người nào trộm cắp
tài sản của người khác thì bò phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc
bò phạt tù từ ba tháng đến ba năm…”.
3
Mặc dù đã được pháp điển hóa thành các điều trong Bộ luật hình sự,
nhưng đối với tội trộm cắp tài sản thì quy đònh nêu trên vẫn mang tính kế
thừa, rập khuôn của Pháp lệnh trừng trò các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghóa và tài sản riêng của công dân, mà chưa có sự thay đổi về chất để làm
nổi bật dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp, đó là chưa mô tả như thế nào là
hành vi trộm cắp tài sản, và cũng chưa đònh lượng được giá trò tài sản bò
chiếm đoạt là bao nhiêu thì bò coi là tội phạm; cơ sở để xử lý hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mặt khác, việc quy đònh trong cùng một Bộ luật hình sự hai hành vi về
hình thức giống nhau (khác ở việc xâm phạm vào hai hình thức sở hữu khác
nhau) ở hai điều và hai chương khác nhau là không hợp lý. Mặt khác, thực
hiện đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế thò trường, nhiều thành phần
1
Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta, được Quốc Hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/1986.
2
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam năm 1985.
3
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985.
8
theo đònh hướng xã hội chủ nghóa, và các thành phần kinh tế bình đẳng trước
pháp luật. Chính vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 đã kế thừa và phát triển
cũng như xóa bỏ những bất hợp lý trong quy đònh Bộ luật hình sự năm 1985.
Tổng hợp chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghóa và chương
VI: Các tội xâm phạm sở hữu tài sản của công dân với hai hình thức sở hữu
khác nhau thành chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu, cùng với nó là việc
bỏ hai tội danh: Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghóa (Điều 132 BLHS năm
1985) và Tội trộm cắp tài sản của công dân (Điều 155 BLHS năm 1985), quy
đònh tội danh: Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS năm 1999).
Nghiên cứu, tham khảo quy đònh về tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật
hình sự một số nước, cho thấy:
- Bộ luật hình sự của Cộng hòa Liên bang Nga năm 1996, Điều 158
quy đònh: “Trộm cắp là bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác”
4
. Quy đònh
như vậy, tuy đã mô tả được hành vi đó là bí mật chiếm đoạt tài sản của người
khác, nhưng ở đây lại không “đònh lượng” mức, giá trò tài sản cụ thể bò
chiếm đoạt là bao nhiêu thì bò coi là tội phạm.
- Điều 264 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
năm 1997 quy đònh: “Người nào có hành vi trộm cắp tài sản của công dân với
mức độ tương đối lớn hoặc trộm cắp nhiều lần thì bò phạt tù từ 3 năm đến 10
năm và bò phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng quá lớn hoặc có những tình
tiết đặc biệt nghiêm trọng khác thì bò phạt tù từ 10 năm trở lên hoặc tù chung
thân và bò phạt tiền hoặc tòch thu tài sản…”
5
. Điều luật chỉ nêu tên hành vi mà
không mô tả hành vi, như thế nào là hành vi trộm cắp, hành vi trộm cắp khác
với hành vi cướp, cưỡng đoạt như thế nào không được quy đònh rõ, chính vì
vậy việc áp dụng trong thực tế sẽ gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, việc quy
đònh số lượng tài sản “tương đối lớn” không “đònh lượng” giá trò tài sản
4
“Luật hình sự một số nước trên thế giới” Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, Hà nội 1998 – tr 91.
5
“Luật hình sự một số nước trên thế giới” Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, Hà nội 1998 – tr 14.
9
chiếm đoạt cụ thể, dễ dẫn đến việc áp dụng một cách tùy tiện. Cho nên,
cũng như trong Bộ luật hình sự của Cộng hòa Liên bang Nga, nó đã không
phân biệt rạch ròi được giữa hành vi vi phạm hành chính và hành vi phạm
tội.
- Điều 378 Bộ luật hình sự của Malaysia quy đònh: “Người nào nhằm
mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác mà lấy đi tài sản đó thì bò xử là
phạm tội trộm cắp”
6
. Điều luật này cũng có một số hạn chế đó là: việc quy
đònh “lấy đi tài sản” không mô tả hành vi khách quan một cách cụ thể, không
thể hiện rõ là lén lút, bí mật hay là công khai nên không phân biệt được hành
vi trộm cắp với các hành vi chiếm đoạt tài sản khác. Đồng thời Điều luật
cũng không đònh lượng mức độ thiệt hại về tài sản để xử lý về hình sự nên
việc áp dụng điều luật còn nhiều hạn chế.
Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X ngày 21 tháng 12 năm 1999 đã thông
qua Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghóa Việt Nam. Tại Điều
138 – Bộ luật hình sự năm 1999 quy đònh Tội trộm cắp tài sản như sau:
“Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trò từ năm trăm nghìn
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bò xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bò kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi
phạm, thì bò phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bò phạt tù từ 6 tháng
đến 3 năm”
7
.
Ở đây, tội trộm cắp tài sản đã được quy đònh một cách cụ thể và chi
tiết hơn đó là đã đưa ra được điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng
thời cũng đã đònh lượng được giá trò tài sản bò chiếm đoạt: quy đònh cụ thể giá
6
“Luật hình sự một số nước trên thế giới” Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, Hà nội 1998 – tr 32.
7
Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, NXB Chính trò Quốc gia, Hà Nội. Quốc hội nước
Cộng hoà XHCN Việt Nam (1997) – tr 95.
10
trò tài sản bò chiếm đoạt là tình tiết đònh tội. Tạo điều kiện thuận lợi cho các
cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, vẫn chỉ nêu hành vi trộm cắp tài sản mà chưa mô tả cụ thể
hành vi. Trong Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, phần các tội phạm, trộm
cắp được hiểu là “lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản
lý”
8
. Trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội, trộm cắp tài sản cũng được hiểu là “lén lút chiếm đoạt tài sản đang có
người quản lý”
9
. Theo chúng tôi, “tài sản đang do người khác quản lý” và
“tài sản đang có người quản lý” chỉ là hai cách nói khác nhau của cùng một
nội hàm. Giáo trình luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Học viện
Cảnh sát nhân dân cho rằng: “Trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của
người chủ tài sản hoặc người được giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng
thủ đoạn lén lút”
10
. Việc quy đònh như vậy là không cần thiết vì “chiếm đoạt
tài sản của người chủ tài sản hoặc người được giao trực tiếp quản lý tài sản”
có thể hiểu như tương tự đối với các tội xâm phạm sở hữu khác, chính là
chiếm đoạt tài sản của người khác. Bên cạnh đó việc xác đònh “có thể bằng
thủ đoạn lén lút” sẽ dẫn đến có thể hiểu “lén lút” chỉ là một trong các thủ
đoạn được thực hiện. Vậy, nếu hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện
công khai, thì người thực hiện hành vi đó có phạm tội trộm cắp hay không?
Trên thực tế vẫn có những trường hợp không lén lút, bí mật với người khác
(lén lút, bí mật đối với chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản) nhưng làm cho
người khác tưởng rằng đó là tài sản của người đó. Vì vậy, dễ làm người đọc
khó phân biệt hành vi trộm cắp tài sản với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài
sản .v.v…
8
Bình luận khoa học BLHS, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Chính trò Quốc gia, Hà Nội
năm 1993 – tr 178.
9
Giáo trình – Luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội năm 1994 –
tr 214.
10
Giáo trình – Luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội năm 1994 - tr
179.
11
Như vậy, căn cứ vào lý luận cũng như thực tiễn điều tra giải quyết loại
án này từ trước đến nay và căn cứ vào quy đònh của Bộ luật hình sự 1999,
theo chúng tôi: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài
sản của người khác có giá trò từ năm trăm nghìn đồng trở lên hoặc dưới năm
trăn nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bò xử phạt hành
chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bò kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa
được xoá án tích mà còn vi phạm.
1.1.1.2 Những dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản, trộm cắp tài
sản của người nước ngoài
Nhận thức về cấu thành tội phạm có ý nghóa quan trọng bởi vì các dấu
hiệu pháp lý được quy đònh trong cấu thành tội phạm có tính chất đặc trưng,
điển hình. Là cơ sở phân biệt giữa tội phạm này và tội phạm khác, cơ sở xác
đònh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng
thời còn là cơ sở để xác đònh trách nhiệm hình sự và đònh tội danh. Trong
hoạt động điều tra, để trả lời các câu hỏi: Có tội phạm xẩy ra hay không? Tội
phạm gì? Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? cần phải nắm vững
những dấu hiệu pháp lý được pháp luật quy đònh. Với ý nghóa đó, cần phải
tìm hiểu các yếu tố cấu thành của tội phạm trộm cắp tài sản.
Theo Điều 138 - Bộ luật hình sự năm 1999 của nước CHXHCN Việt
Nam, các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản là:
Khách thể của tội trộm cắp tài sản:
Tội trộm cắp tài sản được quy đònh tại Điều 138, Chương XIV Bộ luật
hình sự năm 1999 – Các tội xâm phạm sở hữu, đây là hành vi phạm tội xâm
phạm vào quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ là quyền sở hữu. Đó là quan
hệ xã hội mà trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và đònh đoạt tài sản của
chủ sở hữu được tôn trọng và bảo vệ. Cụ thể là, quan hệ sở hữu chính là
khách thể của tội trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi xâm phạm quan hệ sở hữu,
12
gây thiệt hại về tài sản đối với chủ sở hữu là hành vi xâm phạm các quyền
chiếm hữu, sử dụng và đònh đoạt tài sản.
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản đó là tài sản của người
khác. Khái niệm về tài sản bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trò giá được
bằng tiền như: cổ phiếu, công trái, séc, sổ tiết kiệm… Tài sản có thể thuộc
quyền sở hữu của công dân Việt Nam, của người nước ngoài, của các cơ
quan, tổ chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam, các công ty liên doanh,
của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng như của các nước khác tại
Việt Nam đều được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ.
Tội phạm trộm cắp tài sản mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người
nước ngoài, người Việt Nam đònh cư ở nước ngoài về nước, tài sản các công
ty liên doanh quốc tế, các cơ quan tổ chức các nước, quốc tế… được xếp vào
nhóm tội phạm trộm cắp tài sản của người nước ngoài (chỉ có ý nghóa về mặt
nghiệp vụ trong đấu tranh, điều tra khám phá).
Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản:
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội
phạm. Đối với tội trộm cắp tài sản, đây là tội có cấu thành vật chất nên mặt
khách quan của tội phạm bao gồm: dấu hiệu về hành vi, dấu hiệu hậu quả,
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và các dấu hiệu khách quan
khác như: thời gian, đòa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội…, cụ thể:
- Về hành vi khách quan, tội phạm được thực hiện bởi hành vi lén lút, bí
mật chiếm đoạt tài sản của người khác. Một hành vi chiếm đoạt được coi là
lén lút, bí mật nếu được thực hiện bằng những hình thức mà những hình thức
đó có khả năng làm cho chủ tài sản hoặc người đang quản lý tài sản không
biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra. Sự “lén lút, bí mật” này
chỉ cần đối với người chủ sở hữu tài sản hoặc người đang quản lý đối với tài
sản đó, mà không cần “lén lút, bí mật” đối với những người khác. Tuy nhiên,
13
đa số tội phạm trộm cắp tài sản, ý thức chủ quan của người phạm tội cũng
vẫn là lén lút, bí mật che giấu hành vi đối với chủ sở hữu, người trực tiếp
quản lý tài sản và những người khác; ý thức che giấu này có thể là:
+ Che giấu toàn bộ hành vi phạm tội.
+ Chỉ che giấu một phần của toàn bộ hành vi phạm tội: ví dụ để đột
nhập vào nhà, tiếp cận tài sản đối tượng đóng giả Thợ điện đi kiểm tra, bảo
trỳ- như vậy, hành vi đột nhập được ngụy trang, đối tượng công khai vào nhà.
Nhưng khi phát hiện chủ nhà có tài sản quý, sơ hở thì bí mật chiếm đoạt.
- Về hậu quả tác hại: Khác với các quy đònh trướng đây: tội trộm cắp tài
sản XHCN, tội trộm cắp tài sản công dân được quy đònh trong Bộ luật hình sự
1985; tội trộm cắp tài sản tại Điều 138 của Bộ luật hình sự 1999 đã “đònh
lượng” giá trò tài sản bò chiếm đoạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật
hình sự, chỉ coi là phạm tội trộm cắp tài sản trong những trường hợp sau:
+ Tài sản bò chiếm đoạt có giá trò từ năm trăm nghìn đồng trở lên.
+ Tài sản bò chiếm đoạt có giá trò dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây
hậu quả nghiêm trọng; hoặc đã bò xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bò kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi
phạm.
Ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tòch số
02/2001/TTLT–TANDTC–VKSNDTC–BCA–BTP, hướng dẫn một số quy
đònh tại Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm
1999, là một trong những cơ sở pháp lý để xác đònh giá trò tài sản bò chiếm
đoạt.
Theo mục II của Thông tư nói trên, giá trò tài sản bò chiếm đoạt được xác
đònh theo giá thò trường của tài sản đó tại đòa phương vào thời điểm tài sản bò
chiếm đoạt. Trong trường hợp tài sản thực tế bò chiếm đoạt dưới năm trăm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét