Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Bước đầu tìm hiểu về mô hình du lịch cộng đồng tại bản Sín Chải, Sapa.



4
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề:


GS Võ Q trong báo cáo “ Tăng cường sự tham gia của nhân
dân địa phương trong việc quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên” đã
kết luận: Ngun nhân cơ bản trong việc suy thối rừng và các TNTN
khác có liên quan là sự nghèo đói. Rừng và các TNTN như người ta
thường nói là “bát cơm manh áo” cho người nghèo. Cấm người nghèo
khơng được lấy “bát cơm manh áo” độc nhất đang ở trước mắt họ là việc
làm khó khăn, nếu ta khơng muốn nói là khơng thể được, thậm chí khơng
cho phép làm như vậy về phương diện nhân đạo. Cách bảo vệ thiết thực
nhất có thể làm được là tìm cách cung cấp cho người nghèo “bát cơm
manh áo” khác thay thế cho “ bát cơm manh áo” độc nhất của họ đang
dùng.
Ở nước ta, mức sống của nhân dân vùng đệm tại các VQG và các khu
bảo tồn vẫn còn rất thấp. Vậy phải làm sao để vừa bảo vệ được TNTN
vừa nâng cao được mức sống cho người dân?
Trong những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế ngày một phát triển,
nhu cầu đi du lịch, thư giãn, tham quan cũng ngày một tăng. Du lịch
đang phát triển nhanh chóng khơng chỉ riêng ở nước ta mà với quy mơ
tồn cầu. Nó được mệnh danh là ngành cơng nghiệp khơng khói. Theo xu
thế thân thiện hơn với mơi trường của tất cả các ngành kinh tế, trong
ngành du lịch đã xuất hiện các hình thức du lịch gắn với bảo vệ mơi
trường như du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Vì vậy, nghiên cứu sự
phát triển của các hình thức du lịch này là rất cần thiết.
Annlisa Koeman, IUCN Việt Nam trong báo cáo “ Du lịch bền vững
và du lịch sinh thái” có nói: Du lịch bền vững còn có ý nghĩa rộng lớn
hơn cả việc bảo vệ mơi trường, tức là nó xem xét một cách thỏa đáng các
yếu tố về con người, cộng đồng, văn hóa, phong tục tập qn, lối sống và
các hệ thống kinh tế xã hội địa phương.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


5
Xu thế hiện nay đang đặt ra cho chúng ta một vấn đề cấp bách là phải
tìm ra một hình thức du lịch bền vững, thực sự mang lại lợi ích cho con
người trong khi khơng gây tổn hại tới mơi trường mà họ sinh sống sau khi
người du lịch cuối cùng đã ra về.

2. Địa điểm nghiên cứu:

Chúng tơi chọn bản Sín Chải, xã San Sả Hồ, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
làm điểm bước đầu nghiên cứu mơ hình du lịch dựa vào cộng đồng. Sín
Chải nằm cách thi trấn Sapa 4km đường bộ. Đây là bản của người H’mong
đen với dân số khoảng 1400 người. Cư dân sống ở đây đã lâu với nền
kinh tế chủ yếu dựa vào nơng nghiệp (trồng lúa, ngơ, thảo quả ) và săn
bắn.

3. Phương pháp nghiên cứu:
3.1. Phỏng vấn :

Trong q trình đi thực tế, chúng tơi đã phỏng vấn các đối tượng có
liên quan. Đó là những người dân trực tiếp làm dịch vụ du lịch của bản,
cán bộ xã San Sả Hồ và nhân viên dự án “ Hỗ trợ phát triển du lịch bền
vững tại huyện Sapa” cùng với cán bộ của Trung tâm Thơng tin và dịch
vụ du lịch Sapa. Phương pháp này được chúng tơi tiến hành theo nhiều
hình thức khác nhau như phỏng vấn chính thức, bán chính thức và khơng
chính thức. Các thơng tin thu thập được xem xét dưới các góc độ khác
nhau.

3.2. Quan sát thực địa :

Chúng tơi đã đi thực tế tại Sapa và bản Sín Chải. Việc quan sát thực
tế giúp chúng tơi có cái nhìn chính xác hơn về vấn đề và loại trừ các thơng
tin nhiễu. Các hiện tượng quan sát được ghi đầy đủ và trung thực.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


6
3.3. Phương pháp tổng hợp tài liệu:

Các tài liệu được chúng tơi sử dụng là các báo cáo, tham luận,
nghiên cứu và các sách giới thiệu về du lịch ở Sapa. Phương pháp này
cung cấp cho chúng tơi nhiều thơng tin có liên quan tới lĩnh vực nghiên
cứu đặc biệt là du lịch cộng đồng. Trên cơ sở đó, chúng tơi đã xác định
được nội dung nghiên cứu một cách rõ ràng.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


7
PHẦN NỘI DUNG

I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
1. Khái niệm về du lịch cộng đồng:

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về du
lịch cộng đồng. Các khái niệm về du lịch cộng đồng nhấn mạnh vào những
điểm khác nhau tùy thuộc vào mỗi tác giả, dự án và địa điểm, nhưng các
vấn đề về tính bền vững và cộng đồng địa phương đều có xu hướng chiếm
vị trí trung tâm. Một số yếu tố dưới đây được đưa vào khái niệm du lịch
cộng đồng tại Việt Nam :

Tính bền vững:

Du lịch cộng đồng cần phải mang tính bền vững cả về khía cạnh văn
hóa lẫn mơi trường, nghĩa là phải bảo tồn được các tài ngun thiên nhiên
và nguồn lực xã hội cho mục đích sử dụng lâu dài. Du lịch cộng đồng phải
quan tâm đến những lợi ích trước mắt và lâu dài cùng những kết quả do
những thay đổi mà du lịch cộng đồng mang lại. Do vậy, tính bền vững
khơng chỉ là những việc làm thực tế như thu gom rác thải mà còn là thái độ
tích cực và nhận thức rõ ràng về các giá trị văn hóa và thiên nhiên của địa
phương.
Dựa vào cộng đồng:
+ Giao quyền: Cộng đồng địa phương được khuyến khích tham gia và
tốt nhất được đảm nhận trách nhiệm ra quyết định, thực thi, điều hành các
hoạt động và dự án du lịch.
+ Quyền sở hữu: Cần chú trọng tới nhận thức và thái độ của cộng đồng
về tài ngun văn hóa và thiên nhiên của địa phương. Cộng đồng nên nhìn
nhận mình là “ người trơng coi di sản ”.
+ Bảo tồn và bảo vệ tài ngun: Liên quan tới nhiều khía cạnh của tính
bền vững ( kinh tế, mơi trường, xã hội ).
+ Duy trì thu nhập: Việc chia sẻ lợi nhuận từ hoạt động du lịch nên dựa
trên sự đóng góp của cộng đồng đối với ngành du lịch. Hơn nữa, nên có
một sự phân chia cơng bằng ( khơng có độc quyền ) ngay trong cộng đồng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


8

Hợp tác chiến lược
: Để dẫn tới thành cơng, du lịch cộng đồng đòi hỏi
phải có sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ giữa các đối tác chiến lược.

2. Một số nghiên cứu về du lịch cộng đồng:


Ngày 15 - 16.11.1995 Ủy ban hội đồng du lịch Revelstoke của British
Colombia Canada đã tổ chức một hội thảo về kế hoạch hành động du lịch
cộng đồng và ra tun bố tầm nhìn Revelstoke: “Revelstoke sẽ đi đầu trong
việc đạt tới một cộng đồng bền vững bằng cách cân bằng giữa các giá trị
về mơi trường, kinh tế và xã hội.”
Trương Hồng Phương - cơng ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh trong
báo cáo “ Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc tổ chức các
hoạt động du lịch tại các khu BTTN Việt Nam “ có kết luận rằng: “đầu tư
cho giáo dục và nâng cao đời sống của cộng đồng là nền tảng cho các dự
án du lịch trong đó cộng đồng vừa là sản phẩm du lịch vừa là người trực
tiếp thực hiện dự án.”
Annalisa Koeman, IUCN Việt Nam trong báo cáo “Giới thiệu về du
lịch bền vững và những vấn đề có liên quan “ có kết luận: Một điều cốt lõi
là DLBV đòi hỏi phải thu xếp cho thỏa đáng các quan tâm nhằm cho phép
chấp nhận và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao quyền cho các dân tộc
địa phương để họ có thể kiểm sốt du lịch ở khu vực của mình và được
quyết định điều gì là có thể chấp nhận được và điều gì là khơng thể chấp
nhận được. Người dân địa phương phải được tiếp cận đầy đủ với các thơng
tin để:
• Đưa ra phán xét của họ về những mặt lợi và hại khi tham gia vào
phát triển du lịch.
• Cho phép phát triển du lịch ở làng, địa phương mình.
• Quyết định các hoạt động du lịch nào là có thể hay khơng thể chấp
nhận được liên quan đến văn hóa, mơi trường và cuộc sống thường ngày
của họ.
Shailendra Thakali - Viện miền núi Katmandu Nepan trong báo cáo “
Bảo tồn dựa trên cộng đồng và các sáng kiến du lịch. Kinh nghiệm và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


9
bài học của Nepan” có kết luận: Du lịch dựa vào cộng đồng là một cách
tiếp cận nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất cho người dân địa phương -
những người sử dụng du lịch như là một cơng cụ. Du khách phải trả tiền
khi họ đến thăm các khu vực và khoản tiền này sẽ được sử dụng để bảo vệ
di sản văn hóa và tự nhiên hoặc để giúp cho việc phát triển kinh tế xã hội.

3. Một số mơ hình du lịch cộng đồng:
3.1. Mơ hình du lịch cộng đồng tại thơn Pác Ngòi, VQG Ba
Bể:


Pác Ngòi là bản của người dân tộc Tày nằm trong vùng lõi của VQG
Ba Bể với tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn.
Mơ hình du lịch cộng đồng ở đây đảm bảo cho người dân tham gia
tích cực vào các hoạt động du lịch như: làm nhà nghỉ, hướng dẫn du lịch,
biểu diễn văn nghệ, tham gia các lễ hội truyền thống.
+ Các thành viên của cộng đồng tham gia tích cực vào các hoạt động
cộng đồng như lễ hội Lồng Tồng ( hội xuống đồng ). Vào dịp này, các nét
văn hóa truyền thống của địa phương được thể hiện; các mặt hàng thổ cẩm,
bánh trái và các đặc sản được bày bán cho du khách. Điều này sẽ mang lại
ấn tượng tốt đẹp và thu hút khách tới tham quan.
+ Một số gia đình có khung cửi có thể sản xuất hàng thủ cơng truyền
thống: dệt thổ cẩm, may túi xách, trang phục của người Tày để bán cho
du khách và bà con trong thơn sử dụng hàng ngày.
+ Những gia đình có thuyền máy thì tham gia vào hợp tác xã Dịch vụ -
vận chuyển - du lịch hồ Ba Bể để phục vụ người dân địa phương và khách
tham quan hồ Ba Bể.
Các gia đình thành viên khác trong thơn khơng có điều kiện hay vì lý
do nào đó mà khơng tham gia vào các hình thức trên có thể trồng cây ăn
quả, làm bánh đặc sản của địa phương hay chế biến thực phẩm. Ngồi ra,
họ có thể tham gia dọn vệ sinh mơi trường cơng cộng.
Nhưng trên hết, trong q trình quy hoạch các tuyến, điểm du lịch
người dân được tham gia đóng góp các ý kiến và cơng lao động. Vì thế vai
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


10
trò và trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ các sản phẩm du lịch được
nâng cao.

3.2. Mơ hình du lịch cộng đồng tại bản Khanh - VQG Cúc
Phương:

Bản Khanh là một bản của người Mường nằm bên bờ sơng Bươi
thuộc xã An Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Bản nằm trong phạm vi
VQG Cúc Phương, ở phía Tây Bắc của Vườn.
Bản có 23 hộ gia đình, trong đó có 3 hộ tham gia vào các hoạt động
du lịch. Các dịch vụ du lịch cộng đồng ở đây chủ yếu là nhà nghỉ, phục vụ
đồ ăn uống, biểu diễn văn nghệ. Một số ít dân làng tham gia vào cơng tác
an ninh. Thêm vào đó, các mặt hàng lưu niệm thổ cẩm và các sản vật địa
phương như mật ong, nhung hươu, mơ cũng được bán cho du khách.

3.3. Mơ hình du lịch cộng đồng tại khu du lịch Suối Voi -
Thừa Thiên Huế :

Suối Voi là một điểm du lịch ở xã Lộc Tiên, huyện Phú Lộc, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Loại hình du lịch Suối Voi được khởi xướng và quản lý bởi Hợp tác
xã Nơng nghiệp Suối Voi theo phương thức cổ phần. Hình thức này chưa
từng được nghe thấy ở Việt Nam trước kia, đòi hỏi hợp tác xã phải có thêm
chức năng quản lý du lịch. Các cổ đơng bầu ra Ban quản lý để điều hành
trực tiếp. Ban quản lý được chia thành 3 tiểu ban, mỗi tiểu ban đều có
nhiệm vụ cụ thể, gồm có tổ phụ trách thu gom rác, chống cháy rừng, bãi đỗ
xe, cung cấp dịch vụ và bán vé. Các thợ ảnh làm việc ở Suối Voi cũng được
tổ chức thành nhóm riêng.
Đã có 315/375 hộ gia đình trở thành cổ đơng, mặc dù khơng phải tất
cả các hộ gia đình đều só khả năng mua số lượng cổ phiếu như nhau. Có
khoảng 30 hộ gia đình tích cực tham gia vào cung cấp sản phẩm và các
dịch vụ du lịch.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


11
Hầu hết thu nhập ở Suối Voi là từ bán vé vào cửa, lệ phí đỗ xe, bán đồ
lưu niệm, cho th ghế ngồi và nhà nghỉ với tổng doanh thu hàng năm xấp
xỉ 750 triệu đồng. Cuối mùa du lịch, doanh thu này sẽ được chia như sau:
25% cho Ban quản lý, 10% cho chính quyền huyện dưới hình thức thuế,
5% thuế bổ sung được trả cho Ủy ban Nhân dân xã, 10% để bù đắp khấu
hao tài ngun, 5% dành cho phí giao dịch, 5% cho quỹ chung( dùng để
nâng cấp trường học địa phương), 40% còn lại được chia cho các cổ đơng.

II. Kết quả nghiên cứu:
1. Tài ngun du lịch:

Sapa đã nổi tiếng từ lâu với những tài ngun du lịch tự nhiên cũng như
văn hố rất đặc sắc. Sín Chải cùng các thơn bản khác thuộc khu vực này
cũng khơng là ngoại lệ.

1.1. Tài ngun du lịch tự nhiên:
1.1.1 Cảnh quan:

Sapa có độ cao từ 1000 m tới 3143 m. Nơi đây có đỉnh Phanxipang
được mệnh danh là “Nóc nhà của Đơng Dương”. Sín Chải thuộc quần thể
khu du lịch Sapa, nằm trọn vẹn trong VQG Hồng Liên.
Bản Sín Chải có cảnh quan rất đẹp, là sự kết hợp cái hùng vĩ của núi
rừng Tây Bắc bên cạnh vẻ n bình của một bản làng dân tộc.
Đến với Sín Chải ta có thể theo hai con đường: đi vòng qua bản Cát
Cát hoặc đi thẳng từ thị trấn.
Nếu du khách đi theo con đường thứ nhất - đường qua bản Cát Cát
thì du khách sẽ đi xun qua khu rừng ngun sinh của VQG Hồng Liên.
Con suối Vàng len lỏi trong rừng theo chân khách. Lúc thì nó biến mất, lúc
lại hiện ra hiền hòa với các bãi đá giữa thung lũng, lúc òa ra trắng xóa, lao
xuống một vách đá dựng đứng. Nếu du khách đến vào mùa mưa chắc
khơng khỏi trầm trồ mà ngắm nhìn dòng thác Cát Cát hùng vĩ nơi đây.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


12
Nếu đi thẳng từ thị trấn Sapa, du khách lại được ngắm nhìn một
khung cảnh hồn tồn khác. Đó là cảnh các thửa ruộng bậc thang của người
H’mong nối tiếp nhau trên các sườn đồi núi thấp. Đây đó tha thẩn vài chú
bò, chú dê đang gặm cỏ. Du khách cũng khơng khỏi trầm trồ với các cơng
trình đặc sắc như hệ thống dẫn nước cho tưới tiêu của người dân nơi đây.
Những ngơi nhà H’mong cheo leo bên sườn núi chắc chắn sẽ làm du khách
cảm thấy thú vị.

1.1.2. Khí hậu:


Khí hậu là thành phần quan trọng của mơi trường tự nhiên đối với
phát triển du lịch. Theo thống kê của trạm khí tượng thủy văn, nhiệt độ
trung bình năm tại Sapa là 15,9ºC, độ ẩm trung bình 85 - 88%. Khí hậu nơi
đây rất đặc biệt với cả 4 mùa chỉ trong một ngày. Sáng sớm và chiều muộn,
Sapa chìm trong sương. Buổi trưa trời hửng nắng, rất thích hợp với các
chuyến trekking, dã ngoại. Đến với Sapa vào mùa đơng, rất có thể bạn sẽ
được ngắm tuyết rơi ở một nước nhiệt đới - một nét đặc sắc chỉ riêng có ở
Sapa.

1.1.3. Sinh vật:

Sín Chải nằm trọn vẹn trong VQG Hồng Liên. Theo các nhà sinh
học, VQG Hồng Liên lưu giữ một kho tàng gen q hiếm thuộc loại bậc
nhất của nước ta.
Về thực vật đã thống kê được 2.346 lồi thực vật bậc cao có mạch,
thuộc 1.020 chi của 285 họ, trong 6 ngành thực vật. Hệ thực vật Hồng
Liên đa dạng về mặt tài ngun với nhiều cơng dụng. Theo thống kê sơ bộ
hiện có: 754 lồi làm thuốc; 458 lồi cho gỗ; 311 lồi làm bóng mát, cây
cảnh; 126 lồi làm rau ăn; 60 lồi lấy quả; 43 lồi cho nhựa mủ; 35 lồi cho
tanin; 41 lồi cho tinh dầu; 26 lồi cho nhựa dầu, sáp; cho vật liệu đan có
25 lồi; cho sợi, dây buộc có 23 lồi; làm phân xanh: 21 lồi; lấy củ: 17
lồi; lá lợp nhà: 10 lồi; cây cho màu nhuộm: 10 lồi; lấy bột: 9 lồi,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


13
Khu hệ động vật rừng Hồng Liên đã được nghiên cứu từ lâu và khá
kỹ càng. Đến nay đã thống kê được 555 lồi động vật có xương sống ở cạn
cho VQG và nhiều lồi khác cũng được ghi nhận lần đầu tiên cho Việt
Nam.
Hồng Liên có tới 5 lồi và lồi phụ Chim đặc hữu cho Việt Nam, và
khoảng 25 lồi khác đặc hữu cho vùng núi cao của Bắc Lào và Hồng Liên
Sơn.

1.2. Tài ngun du lịch nhân văn:

Với diện tích gần 68000 ha, tồn huyện Sapa có 18 đơn vị hành chính
trong đó có 17 xã vùng cao hồn tồn là người dân tộc thiểu số. Có 6 dân
tộc là H’mong (53% ), Dao đỏ ( 24% ), Tày ( 5% ), Giáy ( 2% ), còn lại là
Kinh, Phù Lá ( Xá Phó ). Nét đặc trưng ở Sapa là du khách có thể tiếp xúc
trực tiếp với đồng bào dân tộc ngay trên đường phố, trong khách sạn, trong
chợ hoặc tại các bản họ đang sinh sống.
Những người H’mong đầu tiên tới Sapa là vào đầu thế kỷ 18. Họ thuộc
một tộc người nhỏ - người H’mong đen. Cái tên H’mong đen có nguồn gốc
từ màu chàm sẫm nhuộm trên trang phục của họ.
Sín Chải là bản của người dân tộc H’mong đen với dân số khoảng
1400. Nền kinh tế của họ chủ yếu là dựa vào nơng nghiệp. Các đặc điểm về
thói quen ăn uống, sinh hoạt, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú,
xây dựng cũng như trang phục của họ là những điểm thu hút khách du lịch
mạnh mẽ.
Du khách cũng bị thu hút bởi tiếng kèn lá, tiếng hát của các chàng trai,
cơ gái H’mong trong mùa lễ hội. Người H’mong có hội Gầu Tào từ ngày 2
đến 5 tháng Giêng, tại khu đồi hay ruộng gần làng. Trong lễ hội, họ cầu
mệnh, sức khỏe, đơng con cái, làm ăn phát đạt, làm ăn thịnh vượng, thi bắn
súng, nỏ, múa võ, múa khèn Họ cũng có các tục lạ như tục cắm lá, cướp
vợ

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét