PH ẦN NỘI DUNG
Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA.
1.1. TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG
QUÁ TRÌNH CNH, HĐH.
1.1.1. Khu công nghiệp và đặc điểm phát triển các KCN Việt Nam.
1.1.1.1. Khái niệm khu công nghiệp .
Trước hết, cần có sự khái quát về lịch sử hình thành và phát triển các
KCN vì “Lịch sử từ đâu thì tư duy lô gíc cũng bắt đầu từ đó”. KCN đã có một
quá trình hình thành và phát triển hơn 100 năm nay. Anh là nước CN đầu tiên
và KCN đầu tiên được thành lập năm 1896 ở Manchester và sau đó là vùng
CN Chicago (Mỹ), KCN Napoli (ý) vào những năm đầu thập kỷ 40 của thế
kỷ trước. Đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các vùng CN và các KCN
phát triển nhanh chóng và rộng khắp các nước CN như là một hiện tượng lan
toả, tác động và ảnh hưởng. Vào thời kỳ này, Mỹ có 452 vùng CN và gần
1.000 KCN, Pháp có 230 vùng CN, Canada có 21 vùng CN. Tiếp theo các
nước CN đi trước, vào năm 60, 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các KCN và
KCX hình thành và phát triển nhanh chóng ở các nước CNH thế hệ sau như:
Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan… Cũng trong thời kỳ
này, ở các nước XHCN trước đây, Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc đang tiến hành
xây dựng các xí nghiệp liên hợp, các CCN lớn, các trung tâm CN tập trung.
Mặc dù có thể dưới những tên gọi khác nhau gắn với tính đặc thù của ngành
sản xuất, nhưng chúng đều có những tính chất, đặc trưng chung của KCN.
Trên các sách báo, ở trong các từ điển, cho đến nay đã có sự thống nhất về
5
các khái niệm: Xí nghiệp liên hợp, cụm công nghiệp, trung tâm công nghiệp.
Nhưng khái niệm về KCN còn đang gây nhiều tranh luận, chưa có sự thống
nhất và còn những quan niệm khác nhau về KCN. Các nhà nghiên cứu cho
rằng, đó cũng là điều dễ hiểu, vì trong nhận thức biện chứng, sự vật đang vận
động và do đó khái niệm không thể là bất biến. Nhận thức về KCN và KCX
có những quan niệm khác nhau. Có thể khái quát thành những loại quan niệm
sau về KCN và KCX:
Thứ nhất: KCN là thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh,
được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn
hảo, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên
lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư…
Quan niệm trên về KCN là của các nhà quản lý Thái Lan và của một số
các nhà kinh tế học các nước CN thế hệ thứ hai ở Đông Nam Á như Malaysia,
Philipine… Nếu hiểu KCN đồng nhất với thàng phố CN trên giác độ quy
hoạch tổng thể một không gian kinh tế với những điều kiện cần thiết cho các
sinh hoạt của cộng đồng, thì khái niệm KCN chưa phản ánh nội dung kinh tế,
với những mối liên hệ bên trong cùng với sự vận động và mục đích hoạt động
của KCN. Tất nhiên, không thể phủ nhận đây là cách tiếp cận KCN từ giác độ
quy hoạch xây dựng KCN và tổ chức đời sống xã hội, trong đó chúng cần
được kế thừa.
Thứ hai: Từ một cách tiếp cận khác, Hiệp hội KCX thế giới (WEPZA)
định nghĩa: KCX là khu vực tự do, do chính phủ xây dựng để xúc tiến các
mục tiêu chính sách được áp dụng thí điểm đột phá. Khác với chính sách áp
dụng cho khu nội địa, phần lớn các chính sách áp dụng cho KCX là cởi mở
hơn.
6
Theo cách hiểu này về KCX, một mặt nó là khu vực tự do kinh tế tức là
phản ánh tính chất hoạt động kinh tế, mặt khác cũng xác định rõ chủ thể và
mục tiêu xây dựng KCX là gắn liền với các quan hệ kinh tế đối ngoại. Song,
định nghĩa trên về KCX chưa phản ánh đầy đủ mặt bản chất của KCX, những
mối liên hệ kinh tế bên trong và tính quy luật vận động của nó.
Thứ ba: Tổ chức phát triển CN Liên Hiệp quốc (UNIDO) cho rằng,
KCX là khu vực SXCN, giới hạn ở hành chính, về địa lý, được hưởng chế độ
thuế quan cho phép tự do nhập trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích sản
xuất sản phẩm xuất khẩu, chế độ thuế quan được ban hành, cùng với những
quy định về luật pháp ưu đãi, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.
Tại Việt Nam, Khu công nghiệp được đề cập đến khi miến Bắc xây
dựng khu gang thép Thái Nguyên còn ở miền Nam xây dựng KCN Biên Hoà.
Theo Quy chế KCN, KCX, KCNC (ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP
ngày 24/4/1997 của Chính phủ), "KCN" là khu tập trung các DN công nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ
hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có
thể có doanh nghiệp chế xuất.
Qua những quan niệm của các nhà nghiên cứu và các tổ chức KT - XH
khi nghiên cứu về KCN, cùng với hoạt động thực tiễn tại các KCN Nghệ An,
tác giả rút khái niệm tổng quát chung nhất về KCN như sau:
KCN được hiểu là hình thức thực hiện quá trình CNH, HĐH. Đó là một
tổ chức không gian kinh tế - xã hội được xác định bởi những giới hạn nhất
định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã
hội; có cơ chế chính sách và phương thức quản lý riêng nhằm tạo ra lợi thế
thu hút các DN sản xuất, kinh doanh và thực hiện các dịch vụ CN.
7
1.1.1.2. Phân loại các khu công nghiệp.
Tùy theo góc độ tiếp cận và dựa vào các tiêu thức khác nhau trong việc
phân tích, đánh giá về KCN sẽ có một số cách phân loại khác nhau. Cụ thể có
một số cách phân loại sau đây:
- Dựa vào tính chất ngành nghề chia thành: KCN chuyên ngành, KCN đa
ngành, KCN sinh thái.
+ KCN chuyên ngành: Hình thành do phân công chuyên môn hóa, bao
gồm các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất ra một hoặc một số loại sản
phẩm. KCN chuyên ngành hoạt động trong một số ngành như: Cơ khí, hoá
chất, vật liệu xây dựng.
+ KCN đa ngành: Gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau có
mối liên hệ với nhau. Loại hình này cho phép khai thác, sử dụng có hiệu quả
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ
+ KCN sinh thái: Là loại hình cộng sinh công nghiệp, tạo sự hài hoà giữa
sản xuất – cuộc sống và sự thân thiện với môi trường. Trong đó có sự lựa
chọn xí nghiệp của nhiều ngành công nghiệp có mối liên hệ hỗ trợ tương tác
với nhau, tạo ra sự cân bằng môi trường và phát triển bền vững.
- Căn cứ vào qui mô: KCN chia thành KCN qui mô lớn, KCN qui mô
vừa và KCN qui mô nhỏ
- Dựa vào đặc thù của từng đối tượng quản lý KCN lại được phân thành :
KCN tập trung, KCN chế xuất, KCN công nghệ cao.
- Phân theo cấp quản lý tương ứng với 3 cấp quản lý nhà nước có các
loại KCN: KCN do Chính phủ thành lập, KCN do tỉnh, thành phố thành lập,
cụm CN do huyện thị thành lập.
8
1.1.1.3 . Đặc điểm phát triển khu công nghiệp Việt Nam.
Một là, về công tác quy hoạch:
Trong thời gian qua sự phát triển KCN hầu như đều do các địa phương
đua nhau xây dựng KCN với những chức năng tương tự giống nhau. Vì vậy
các KCN phát triển riêng lẻ, phải đầu tư cho tất cả các hạng mục công trình
(kể cả cụm dân cư). Tình hình đó đem lại thực trạng rất nhiều KCN không
hoạt động hay hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó xuất hiện tình trạng phát
triển KCN quá nóng ở các địa phương có nhiều tiềm năng (như các vùng kinh
tế trọng điểm, đặc biệt là Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam). Điều đó phản
ánh trình độ và tầm nhìn của cả Trung ương và địa phương chưa phù hợp.
Quy hoạch phát triển KCN thường chậm đồng bộ với quy hoạch phát
triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, dẫn tới ảnh hưởng
đến tính bền vững trong phát triển; chưa chú trọng gắn việc xây dựng quy
hoạch chi tiết từng KCN với quy hoạch nhà ở, công trình công cộng phục vụ
đời sống người lao động làm việc trong KCN.
Công tác chuẩn bị cho sự ra đời của các KCN bộc lộ nhiều yếu kém, thể
hiện trên các phương diện: thiếu cán bộ quản lý có năng lực, thiếu đội ngũ lao
động lành nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh trong KCN, thiếu sự
chuẩn bị về nội dung mời gọi các nhà đầu tư.
Hai là, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng:
Một số KCN triển khai chậm, thu hút đầu tư thấp do công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều kho khăn như: KCN Nam Thăng
Long, KCN Sài Đồng A (Hà Nội), KCN Đình Vũ (Hải Phòng), KCN Bắc Phú
Cát (Hà Tây), KCN Nam Cấm (Nghệ An), KCN Cát Lái IV (thành phố Hồ
Chí Minh). Tại một số địa phương khác, trong quá trình bồi thường giải
phóng mặt bằng, thu hồi đất để xây dựng KCN, do sự chậm trễ trong việc phổ
9
biến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tới người dân, dẫn đến nhiều khiếu
kiện, tranh chấp về đất đai ảnh hưởng tới tiến độ bồi thường giải phóng mặt
bằng và tiến độ chung của dự án.
Về công tác tái định cư và tình hình đời sống người dân sau khi bị thu
hồi đất tại khu vực quy hoạch phát triển KCN còn gặp nhiều khó khăn. Người
dân sau thu hồi đất thường gặp phải tình trạng thiếu hoặc là không có đất sản
xuất, cuộc sống không ổn định.
Ba là, vấn đề lao động trong Khu công nghiệp:
Trong những năm qua, các KCN trên cả nước thu hút được lượng lao
động hàng năm khoảng trên 7 vạn lao động, tuy nhiên lao động có trình độ đại
học và trên đại học còn chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 4-5% trong tổng số lao động
trong các KCN, kỹ thuật viên chiếm 4-5%, công nhân kỹ thuật đã qua đào tạo
hơn 30% và còn lại hơn 60% là lao động giản đơn.
Việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp khu công nghiệp đang
gặp mâu thuẫn, đó là thiếu lao động kỹ thuật, có tay nghề trong khi số lao
động cần tạo công ăn việc làm còn rất dư thừa. Để giải quyết tình trạng này,
các chủ doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động ngoại tỉnh, tăng chi phí đào
tạo. Đây là yếu tố vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa nảy sinh nhiều vấn
đề phức tạp.
Hiện nay các KCN trên cả nước thu hút được hơn 860.000 lao động trực
tiếp, trong đó gần 40% là lao động ngoại tỉnh. Tại hầu hết các KCN, lao động
ngoại tỉnh thường phải sống và làm việc trong điều kiện rất khó khăn. Họ phải
thuê nhà ở khu vực xung quanh KCN để cư trú với điều kiện sống tạm bợ; rất
ít doanh nghiệp tham gia xây dựng nhà ở cho công nhân. Các đại phương có
nhiều khu công nghiệp cũng chỉ đảm bảo về nhà ở cho số lượng công nhân rất
thấp: khoảng 6,5 %-15% trong tổng số công nhân làm việc trong các khu
công nghiệp.
10
Việc thực hiện các chính sách, pháp luật về lao động, trong các doanh
nghiệp KCN nhất là các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, chưa tuân thủ các quy
định của pháp luật. Một số doanh nghiệp xử lý kỹ luật, sa thải công nhân một
cách tuỳ tiện, trái pháp luật. Nhiều doanh nghiệp chưa ký kết thoả ước lao
động tập thể, hay hợp đồng lao động và chưa thực hiện đóng bảo hiểm xã hội
cho người lao động.
Chính sách tiền lương trả cho người lao động Việt Nam làm việc trong
các doanh nghiệp có vốn ĐTNN chậm thay đổi và rất lạc hậu so với biến
động của giá cả thị trường và tỷ giá hối đoái.
Do các vấn đề tiền lương, đời sống lao động chưa được giải quyết thoả
đáng, nên trong thời gian vừa qua đã xảy ra các tranh chấp lao dộng. Đặc biệt
trong những tháng cuối năm 2005 và đầu năm 2006, tình trạng đình công xảy
ra liên tiếp với số lượng lớn công nhân.
Bốn là, vấn đề môi trường trong Khu công nghiệp:
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trong KCN mặc dù đã
được chú trọng hơn nhưng đa số các KCN trong cả nước còn chưa được cải
thiện nhiều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy
định. Nhiều KCN chưa xây dựng nơi tập trung và xử lý rác thải chỉ thực hiện
trong phạm vi từng nhà máy. Những nhà máy sản xuất bao bì, hoá chất, nhựa,
thường có những chất khó phân huỷ, gây độc hại cho môi trường nước mặt,
nước ngầm và đất. Ô nhiễm về nước thải CN càng trở nên nghiêm trọng. Hiện
chỉ có 33 KCN đã có công trình xử lý nước thải tập trung, 10 KCN đang xây
dựng, còn lại các KCN khác đều thải ra sông, biển đã gây ô nhiểm nghiêm
trọng môi trường xung quanh, nhất là những KCN tập trung các ngành CN
dệt, thuộc da, hoá chất, có lượng nước thải thải ra với khối lượng lớn và có
tính độc hại cao.
11
1.1.2. Vai trò của khu công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH
Sự ra đời của các KCN gắn liền với đường lối đổi mới, chính sách mở
cửa do Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng. Nghị quyết Hội nghị
giữa nhiệm kỳ khoá VII năm 1994 đã đề ra yêu cầu về “Quy hoạch các vùng,
trước hết là các địa bàn trọng điểm, các KCX, khu kinh tế đặc biệt, KCN tập
trung”. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 cũng đã
xác định rõ “Hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCX, KCNC), tạo
địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới. Phát triển
mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp,
cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý
ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen
lẫn với khu dân cư". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VIII cũng xác định phương hướng trong thời gian tới là ”Phát
triển từng bước và nâng cao hiệu quả các KCN”. Để thực hiện chiến lược, qui
hoạch phát triển và phân bố công nghiệp, Nhà nước chủ trương tập trung phát
triển vào các KCN theo qui hoạch xác định.
Thực tế, trong hơn 15 năm qua kể từ ngày nước ta có KCN đầu tiên đến
nay, các KCN đã thể hiện vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều đó thể hiện:
Trước hết là, tranh thủ thu hút được lượng vốn đầu tư lớn từ bên ngoài
cho CNH,HĐH.
Việc xây dựng các KCN nhằm phát huy hiệu quả của sự tập trung nguồn
lực cho sản xuất. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư. Đầu tư nước ngoài
vào các KCN cho đến nay chiếm khoảng 27,6% tổng lượng vốn đầu tư nước
ngoài vào nền kinh tế và khoảng 61,4% vào phát triển công nghiệp. Hầu hết,
các dự án đầu tư vào các KCN triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với ngoài
KCN. Tính đến nay, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp KCN đạt trên
12
53% vốn đầu tư đăng ký. Thời gian xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư vào
KCN tương đối ngắn ( khoảng 1 - 2 năm, cá biệt có dự án chỉ 6 tháng sau khi
cấp giấy phép đầu tư đã đi vào sản xuất kinh doanh).
Thứ hai là, tranh thủ được công nghệ hiện đại, kinh nghiệm và phương
pháp quản lý tiên tiến của các nước.
KCN là nơi tập trung hoá sản xuất cao, ở đó tiếp nhận các phương pháp
quản lý hiện đại vận hành trên các dây chuyền công nghiệp hiện đai của các
đối tác trực tiếp nước ngoài và các liên doanh. Nếu cùng xây dựng tại đây, các
doanh nghiệp Việt Nam có nhiều điều kiện tiếp thu, học hỏi phương thức tổ
chức quản lý sản xuất, giúp cho việc xây dựng cơ chế riêng hỗ trợ hoạt động
của doanh nghiệp, đồng thời giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thuận tiện
hơn trong quá trình theo dõi giám sát, quản lý hoạt động của các doanh
nghiệp. Một trong những mục tiêu quan trọng của việc hình thành các KCN
và các KCX là sự tiếp nhận chuyển giao công nghệ trong đó có công nghệ về
quản lý, kinh nghiệm về điều hành. Sự chuyển giao công nghệ đã đạt được
những thành công trong một số lĩnh vự nhất định.
Trong tổng số 5056 dự án đầu tư phát triển công nghiệp trong các KCN
đến thời điểm tháng 12 năm 2006 có tới 2433 dự án đầu tư nước ngoài. Các
dự án đầu tư nước ngoài nhìn chung có công nghệ tương đối hiện đại, sản
phẩm có chất lượng tốt và cạnh tranh được cả trên thị trường trong nước và
thị trường nước ngoài.
Các dự án đầu tư nước ngoài tại các KCN thực sự là một trong những
kênh chuyển giao công nghệ một cách nhanh chóng. Các dự án này sử dụng
một số lượng đáng kể lao động trong nước. Qua thực tiễn hoạt động trong các
doanh nghiệp KCN lực lượng lao động được đào tạo và tiếp cận với công
nghệ tương đối hiện đại và được nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
13
Thứ ba là, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ trong nước và tiếp
cận với khoa học công nghệ của thế giới.
KCN, KCX, KCNC là vườn ươm công nghệ, nơi có cơ chế hoạt động
hấp dẫn các nhà khoa học đến làm việc nghiên cứu, thí nghiệm. Đây là nơi
triển khai các dự án, những phát minh sáng chế trong công nghiệp trước khi
đưa vào sản xuất. Đó là nơi nối nhà khoa học với doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp. Với những chính sách ưu đãi tốt, hoàn toàn có khả năng thu hút các
ngành công nghệ mũi nhọn như điện tử, sinh học vật liệu mới. Đây là khu thu
hút các lao động khoa học, nguồn nhân lực đầu ra của các viện nghiên cứu.
Do đó, KCN, KCX, KCNC là nơi các doanh nghiệp trong nước có điều kiện
tiếp nhận các thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới, để
vận dụng vào sản xuất của chính doanh nghiệp mình, thúc đẩy nhanh hơn quá
trình thực hiện công nghiêp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ tư là, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện
đại, hợp lý; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, tăng trưởng
kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị,
tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
chế biến phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Đồng thời KCN cũng góp
phần giải quyết việc làm, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề, thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu hẹp chênh lệch giữa các vùng của đất
nước. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các KCN cũng đạt ra nhiều vấn đề
kinh tế- xã hội, môi trường cần quan tâm xử lý để tiếp tục phát triển.
Sự phát triển nhanh, có chất lượng của các KCN có tác động rất tích cực
đối với sự chuyển dịch cơ cấu của một tỉnh, một vùng và của cả nước. Từ một
nước nông nghiệp đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá
nhu cầu vịêc làm rất lớn. Phát triển công nghiệp nói chung và các KCN nói
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét