Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép nước ta trong qúa trình hội nhập khu vực và quốc tế

Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Điều bất hợp lý là sản xuất phôi thép trong nớc mới chỉ đáp ứng đợc trên 10%
tổng công suất thiết kế của toàn ngành thép (3 triệu tấn/năm). Hiện trong nớc chỉ có
Tổng công ty Thép Việt Nam đầu t các cơ sở luyện tháp quy mô công nghiệp với công
suất 450.000-500.000 tấn phôi thép/năm, đáp ứng 50-55% nhu cầu cho các cơ sở cán
thép của Tổng công ty. Nhiều doanh nghiệp chỉ muốn đầu t vào lĩnh vực cán thép vì dễ
làm, thu hồi nhanh chứ không mấy ai đầu t sản xuất phôi thép.
2.1.2. Giá trần thép xây dựng đợc nới lỏng
Giá thép thành phẩm sản xuất trong nớc chủ yếu dựa vào giá nhập phôi thép (phôi
thép chiếm 90% giá thành). Cuối năm 2002 và đầu năm 2003, giá phôi thép nhập khẩu
tăng mạnh. Trong khi đó, Bộ Tài chính đã có quyết định tăng thuế nhập khẩu phôi thép
từ 7% lên 10% từ 1/1/2003 để hổ trợ sản xuất trong nớc, nên giá thành sản xuất thép
trong nớc đợc đội lên rất cao. Mặc dù ở trong điều kiện nh vậy, nhng cũng không có
chuyện các doanh nghiệp giảm nhập khẩu, giảm sản xuất, dẫn đến mất cân đối cung
cầu thị trờng. Trong 2 tháng đầu năm 2003, các doanh nghiệp liên doanh đã đa ra thị
trờng 115.000 tấn thép, tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái (96.000 tấn). Các doanh
nghiệp thuộc Tổng công ty thép Việt Nam đa ra tiêu thụ 112.000 tấn, tăng 45% so với
cùng kỳ năm ngoái (77.000 tấn). Tính chung của cả hai khối lợng thép đa ra thị trờng
tiêu thụ là tăng 30% so với cùng kỳ.
Trong thời gian qua, Chính phủ đã bỏ quy định giá trần đối với ngành thép, đây là
một sự can thiệp cần thiết để đảm bảo cho khả năng tồn tại của các doanh nghiệp. Điều
này dẫn đến việc các doanh nghiệp thép đồng loạt nâng giá bán sản phẩm để bù đắp
cho chi phí đầu vào, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất.
Khi Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế các sản phẩm sắt thép gia nhập AFTA, giá
nguyên liệu nhập vào thị trờng Việt Nam do lợi thế giá cả sẽ giảm nhng sản phẩm thép
của các nớc ASEAN sẽ thâm nhập vào thị trờng Việt Nam do lợi thế giá rẻ. Ngoài ra,
ngành thép cũng đang phải đối mặt với nạn thép giả, đội lốt thơng hiệu của một số
doanh nghiệp t nhân; phần lớn công nghệ trong ngành thép còn quá lạc hậu, chiếm tới
63% năng lực sản xuất.
6
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
2.1.3. Các dự án sản xuất phôi thép đang đợc đẩy nhanh.
Để giảm lợng thép nhập khẩu và tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, Tổng
công ty Thép Việt Nam đa ra các biện pháp: đầu từ trang bị lại dây chuyền công nghệ
của một số nhà máy cán thép hiện có theo hớng hiện đại; tăng năng lực sản xuất phôi
thép và cán thép để đáp ứng nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy cán thép. Cụ thể là
đầu t xây dựng mới các cơ sở sản xuất phôi thép, nâng năng lực sản xuất từ 390 nghìn
tấn năm 2002 lên 1,5 triệu tấn vào năm 2005
Về nguyên liệu, ngành thép sẽ đẩy mạnh sản xuất phôi trong nớc nhng do việc thu
mua sắt thép phế liệu khó khăn nên dự kiến sản xuất khoảng 500 nghìn tấn, tăng
16,3%; nhập khoảng 2,1 triệu tấn phôi thép, tăng 13,5% so với năm 2002.
Các dự án sản xuất phôi thép đợc tập trung đầu t gồm dự án nhà máy thép Cái Lân
ở Quảng Ninh, công suất 500.000 tấn phôi/năm dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2005,
dự án nhà máy thép Bà RịaVũng Tàu, dự kiến hoàn thành năm 2004 cùng với hai dự
án đầu t thêm dây chuyền sản xuất phôi thép của Nhà máy Gang thép Thái Nguyên và
Nhà máy Thép Miền Nam.
Ngành thép cũng sẽ tập trung khai thác các mỏ quặng, tận thu các nguồn sắt phế
liệu trong nớc, khai thác các nguồn nhập khẩu thép phế liệu ổn định để sản xuất phôi.
Một số mỏ quặng đợc tập trung khai thác là mỏ Quý Xa ở Lào Cai, mỏ Thạch Khê ở
Hà Tĩnh, mỏ Trại Cau, Tân Tiền ở Thái Nguyên, Phục Ninh ở Tuyên Quang, mở Ngờm
Cháng, Nà Rụa ở Cao Bằng.
Hiện nay, sản lợng phôi thép trong nớc mới chỉ đáp ứng đợc 30% nhu cầu cho sản
xuất thép cán, 70% còn lại vẫn phải nhập khẩu. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất
thép trong nớc đều nhập khẩu phoi thép về sản xuất thép cán. Rất ít doanh nghiệp đầu
t sản xuất phôi thép vì chi phí đầu t quá lớn. Để có một dây chuyền sản xuất 100.000
tấn phôi/năm, doanh nghiệp cần đầu t 300 triệu USD. Trong khi đó, chỉ cần có khoảng
200 tỷ đồng là doanh nghiệp đã có một nhà máy sản xuất thép cán công suất 200.000
tấn/năm.
7
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Việc đầu t sản xuất phôi thép cũng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam hạ giá
thành sản phẩm, bớt phụ thuộc vào nguồn cung cấp cũng nh giá cả từ thị trờng thế giới
và đặc biệt giúp các doanh nghiệp chủ động trong hội nhập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA).
Theo Bộ Công nghiệp, năm 2003, nhu cầu thép các loại dự báo khoảng trên 5
triệu tấn, tăng 12,4% so với năm 2002. Dự kiến sản xuất trong nớc khoảng 2,73 triệu
tấn (chủ yếu là thép xây dựng). Nhu cầu nhập khẩu các loại thép tấm, thép lá, thép chế
tạo vào khoảng 2,3 triệu tấn.
2.2. Những vấn đề tồn tại của ngành thép.
2.2.1. Cơ cấu ngành thép ngày càng mất cân đối trầm trọng.
Mất cân đối giữa các khâu sản xuất quan trọng nhất: luyện gang và luyện thép,
luyện thép và cán thép, luyện thép lò thổi và luyện thép lò điện
- Luyện gang và luyện thép
Hiện nay, nớc ta chỉ có nhà máy liên hiệp gang thép Thái Nguyên là sản xuất
gang.
ở đây gang sản xuất trong các lò cao có dụng tích 100 m
3
, loại lò các nớc trên thế
giới đã loại bỏ từ lâu. Sản lợng ớc khoảng 0,2 triệu tấn/năm đợc đa vào lò điện phối
liệu vớ thép phế để nấu thép.
Do các ngành công nghiệp, nhất là ngành cơ khí, cha phát triển mạnh nệ sự thiếu
hụt gang cha bức bách. Song, hiện nay, sự thiếu hụt này đã bắt đầu thể hiện ngày càng
rõ. Vì vậy, nhiều địa phơng nh: Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang đã và đang có các
kế hoạch phát triển lò cao dung tích 20-100 m
3
để sản xuất gang đúc sản phẩm và các
linh kiện. Sản lợng khoảng vài vạn tấn mỗi cơ số.
Sẽ rất thiếu sót và có hậu quả xấu nếu không đẩy mạnh khâu sản xuất ganh cân
đối với sản xuất thép, thông thờng tỷ lệ đó là 1:1- một tỷ lệ đảm bảo sản xuất thép theo
8
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
dây chuyền cộng nghệ truyền thống khép kín và đáp ứng nhu cầu gang cho sự phát
triển các ngành kinh tế quốc dân.
- Luyện thép và cán thép
Đầu những năm 90 Chính phủ nhấn mạnh việc phát triển hạ nguồn trên cơ sở
nhập phôi thép là hoàn toàn đúng đắn. Tuy thế, chính phủ cũng đã đặt rất đúng việc
cần phải phát triển mạnh thợng nguồn. Đáng tiếc là chủ trơng nà đã không đợc thực
hiện nghiêm túc. Từ đó, tạo ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các khâu luyện thép
và cán thép.
Hiện nay, công suất các nhà máy cán thép ở nớc ta đã đạt 4 triệu tấn/năm, song
công suất các nhà máy luyện thép lò điện mới chỉ đạt khoảng 0,4 triệu tấn/năm bằng
1/10 khả năng cán. Để đáp ứng nhu cầu thép sản phẩm, nớc ta hàng năm phải nhập
khẩu hàng triệu tấn phôi thép.
Việc nhập khẩu phôi thép tốn ngoại tệ, bị động, giá cả luôn giao động, chất lợng
khó đảm bảo, giá thành sản phẩm cao, tính cạnh tranh yếu.
Sự mất cân đối ngày càng khó khắc phục và ngày càng gây hậu quả xấu cho
ngành thép.
- Luyện thép lò điện và luyện thép lò thổi
Nh đã nói ở trên, tỷ lệ sản xuất thép lò điện ở các nớc trên thế giới, tuỳ từng quốc
gia, giao động trong phạm vi 30-40% tổng sản lợng thép luyện ra
ở những nớc có ngành công nghiệp phát triển, có nguồn điện phong phú, có
nguồn thép phế dồi dào, tỷ lệ thép lò điện thờng vợt quá tỷ lệ trên, còn lại là thép lò
thổi.
Lò điện thờng sử dụng sản xuất các loại thép và hợp kim cao cấp có những tính
năng đặc biệt hiệu quả kinh tế cao.
9
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
ở nớc ta nguồn điện với giá rẻ không phong phú, không có nhiều sắt thép phế,
việc sử dụng lò điện luyện thép với tỷ lệ 100% nh hiện nay và trong tơng lai là rất phi
lý, không kinh tế.
Lò điện phải luyện các mác thép và hợp kim cao cấp. Muốn vậy phải có thép phế
tốt, tức loại thép phế không chứa các tạp chất có hại, đặc biệt các loại tạp chất kim loại
màu, hàm lợng < 0,10%. Giá loại thép phế này có thể tới 150 USD/tấn (1996). các loại
thép phế khác cũng phải đảm bảo hàm lợng tạp chất < 0,15% thì mới có thể luyện thép
tốt. Giá loại thép phế này vào khoảng 120-130 USD/tấn (1996). Giá thép phế trên thế
giới ngày càng tăng.
Hiện trên thế giới còn một kho thép phế đồ sộ là những thiết bị quá hạn sử dụng
đợc thải ra, khoảng 700 triệu tấn, nhng do trong những thiết bị này có lẫn rất nhiều chi
tiết kim loại màu và nhiều loại thép có thành phần khách nhau, cha có công nghệ xử lý
nên còn cha đợc sử dụng.
Các loại thép phế nớc ta tự có và nhập về, đại bộ phận cha đợc phân loại, thuộc
loại tạp phí lù, có hàm lợng tạp chất cao, loại tạp chất gì, số lợng bao nhiêu đều
không rõ. Vì vậy, chỉ có thể dùng luyện thép cacbon xây dựng thông thờng. Không thể
nhặt các tạp chất trong lò thép ra nh nhặt các hạt sạn trong nồi cơm nh một số phát
biểu và muốn ngời khác cũng suy nghĩ nh mình.
Muốn phát triển thép lò điện đúng chức năng, phải hình thành một công nghệ
phân loại và xử lý thép phế, không thể làm tuỳ tiện nh hiện nay.
2.2.2. Chủng loại sản phẩm rất mất cân đối.
Các nhà máy luyện thép ít ỏi và các nhà máy cán thép đang trăm hoa đua nở ở
nớc ta chủ yếu luyện và cán các mác thép thờng dạng sợi tròn và vằn. Sản lợng các loại
thép này có thẻ tới 4 triệu tấn/năm trong khi lợng sử dụng chỉ khoảng 1/2
Hiện đang xây dựng một nhà cán tôn mỏng cống suất 0,3 triệu tấn/năm.
10
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Các chủng loại thép hình, thép tấm, thép ống, đều phải nhập khoảng vài triệu
tấn/năm
Đại bộ phận các loại thép hợp kim cũng phải nhập.
Tất nhiên không nớc nào sản xuất đủ mặt hàng, đủ chủng loại thép, đều có xuất
có nhập. Nhng tình trạng của nớc ta là nhập quá siêu.
Sở dĩ có sự mất cân đối này là do phát triển hạ nguồn quá mức.
May mà các ngành kinh tế quốc dân của nớc ta cha phát triển mạnh nhu càu đa
dạng về thép với khối lợng lớn, chất lợng cao cha bức bách nên còn có thể chóng đỡ đ-
ợc biện pháp nhập khẩu. Tuy nhiên, hậu quả của nhập khẩu đã quá rõ rệt: giá thành
xây dựng và chế tạo thiết bị đều cao so với mặt bằng ở các nớc có ngành luyện thép
phát triển. Nếu không kịp khắc phục, không những không hạ đợc giá thành mà còn
kìm hãm sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, đặc biệt ngành xây dựng và cơ khí.
2.2.3. Chất lợng thép đang là vấn đề bức xúc.
Trừ các cơ sở sản xuất thép ở các làng nghề cha lên tivi, cha có những bảng quảng
cáo. Trong khi đó các nhà máy luyên cán thép quốc doanh, liên doanh đều đã liên tục
xuất hiện trên tivi, các bảng quảng cáo lớn đủ màu sắc xuất hiện trên các xa lộ cao tốc,
ngã t, ngã năm các trục đờng chính với những lời nói, dòng chữ rằng thép các cơ sảo
này sản xuất ra đạt tiêu chuẩn quốc tế, là công nghệ tiến tiến hạng nhất của nớc này, n-
ớc kia
Trong cơ chế thị trờng marketing là điều tất nhiên, không ai quản lý. Song các hộ
sử dụng thì phải đi sâu tìm hiểu ngọn ngành.
Về các nhà máy lò điện luyện thép là thép phế tạp nham, cha đợc xử lý phân loại,
không nắm chắc đợc thành phần ban đầu, chỉ có 2 nhà máy có lò tinh luyên ngoài lò
đơn giản (lò LF), các lò này cũng cha vận hành tốt. Có nhà máy phân tích nhanh cho
biết kịp thời sự biến đổi thành phần thép để kịp khống chế
11
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Trong điều kiện dó, các nhà máy này phần lớn chỉ luyện các mác thép cacbon xây
dựng thông thờng và một số mác thép hợp kim thấp độ bền cao ở thang độ bền thấp.
Tất cả những mác thép này không có yêu cầu cao về cơ lý tính cũng nh hàm lợng tạp
chất, do dó có thể đạt đợc những quy định đặt ra. Trình độ quốc tế cũng chỉ ở mức này
thôi.
Về các nhà máy cán thép. Không luyện và đúc phôi thép. Toàn bộ phôi thép đều
phải nhập khẩu. Chất lợng sản phẩm thép cán phụ thuộc chủ yếu vào chất lợng phôi
nhập khẩu. Nếu nhập phải phôi thép chất lợng xấu, thành phần không đảm bảo, hàm l-
ợng tạp chất cao, cấu trúc thỏi đúc xấu thì máy cán có hiện đại mấy cũng chỉ cho sản
phẩm tồi.
Việc mua phôi thép với số lợng lớn rất khó kiểm tra đảm bảo chất lợng lớn rất
khó kiểm tra đảm bảo chất lợng phôi. Đã có cơ sở quốc doanh nhập phải những lô
hàng nghìn tấn phôi thép kém chất lợng vẫn cứ cán ra sản phẩm để bán.
Những nhà máy cán thép này cũng thờng chỉ nhập phôi thép xây dựng thông th-
ờng để cán vì làm nh vậy dễ dàng và có hiệu quả kinh tế. Những ngành sử dụng thép
cho các công trình quan trọng nên hết sức cảnh giác.
Về các làng nghề sản xuất thép. ở dây thép đợc luyện từ thép phế trong các lò
trung tấn quy mô vài trăm Kg/mẻ đến vài tấn/mẻ.
Đặc điểm của những loại lô này là dới tác dụng của dòng điện cảm ứng, khối thép
tự gia nhiệt đến nhiệt độ luyện thép. Có thể cho thêm các nguyên tố để điều chỉnh
thành phần, song nếu phải khử bỏ bớt các nguyên tố không cần thiết bằng phơng pháp
thông thờng là tạo xỉ ngay trong lò thì rất khó khăn. Vì vậy, chất lợng thép luyện ra
hoàn toàn phụ thuộc vào chất lợng thép phế. Nếu thép phế tốt có thể luyện đợc thép
tốt. Tuy nhiên, thép luyện ra từ các cơ sở này chất lợng thờng không cao, chủ yếu là do
việc đúc thỏi đợc tiến hành trong các khuôn hở nằm ngang. Cách đúc này làm cho phôi
thép kém chất lợng, mặt khác công nghệ cán thờng không hợp lý, do đó thép sản phẩm
chất lợng không cao, độ dai, dẻo đều thấp.
12
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Tóm lại, bức tranh toàn cục về chất lợng sản phẩm thép ở nớc ta không mấy sáng
sủa. Khu vực nào cũng đều tồn tại vấn đề, đều có gót chân Asin. Nhiều ý kiến phát
biểu cho rằng có tới 20% thép sử dụng vào các công tình quan trọng là thép kém chất
lợng và cho đó là thép cán ở làng nghề. E rằng thép kém chất lợng sử dụng vào các
công trình quan trọng còn nhiều hơn thế và cũng e rằng không phải chỉ là thép của các
làng nghề.
Việc nhận diện thép cán từ các làng nghề không khó khăn. Vì vậy, việc để lọt
thép làng nghề vào các công trình quan trọng phải tự trách mình.
2.2.4. Cha phát huy triệt để đặc điểm của nhà máy luyện kim liên hợp.
Trong dây chuyền các nhà máy của ngành luyện thép, nhà máy nào cũng có sản
phẩm chính, phụ; chất phế thải Sản phẩm phụ, chất phế thải ở nhà máy này lại là
nguyên liệu chính của nhà máy kia. Nếu sử dụng đợc triệt để thì giá thành sản phẩm
của từng phân xởng và giá thành cả nhà máy sẽ giảm rất nhiều.
Các nhà máy luyện thép của ta cha làm tốt đợc điều này. Lò cao luyện gang sản
xuất ra gang, còn có khí lò cao và xỉ, khí lò cao qua xử lý là một loại nguyên liệu tốt
có thể cung cấp cho xởng nồi hơi và các xởng lò nung Xỉ có thể chế tạo bông xốp
cách nhiệt hoặc làm gạch X ởng luyện than cốc từ than mở thực chất là một nhà máy
hoá học sản xuất ra than cốc, rất nhiều loại hoá chất và khí lò cốc, một loại nhiên liệu
giá trị cao. Hiện nay đều cha đợc sử dụng tốt nhất. Xởng luyện thép và cán thép sinh ra
rất nhiều thép đầu thừa đuôi thẹo cũng bán cho các hộ t doanh, họ sử dụng làm
nguyên liệu chế tạo các loại linh kiện máy và công cụ sản xuất
Ưu điểm của nhà máy liên hợp là sử dụng tổng hợp nguyên nhiên liệu cha đợc
chú ý khai thác triệt để. Nếu đợc kịp thời khắc phục tình trạng này thì giá thành sản
phẩm không thể thấp lãi ít, do đó lại cần u tiên này nọ hoặc xin đợc bảo hộ
2.2.5. Việc cải tiến công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới, sản xuất mác thép mới
còn nhiều bất cập.
13
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Ngành sản xuất gang thép hiện nay trên thế giới có rất nhiều biến đổi theo hớng
chuẩn bị thật kỹ nguyên liệu trớc khi đa vào lò; nhiều giai đoạn công nghệ không tiến
hành trong lò luyện chính mà đa ra thực hiện trong các thiết bị chuyên dụng nh các
loại lò tinh luyện; thay vì sản xuất thép thông thờng, nay sản xuất các mác thép hợp
kim chất lợng cao, dùng chất thay lợng do đó, đã đạt đ ợc những chỉ tiêu kinh tế, kỹ
thuật rất cao, hiệu quả kinh tế lớn, tăng công suất nhà máy mà không cần tăng thiết bị
chính.
Ngành luyện thép ở nớc ta cha hoà nhập vào xu hớng phát triển này, một mặt do
đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật còn yếu, song chính là do chọn con đờng phát triển
hạ nguồn, chọn dây chuyền công nghệ ngắn, vì vậy thiết bị, phôi thép, thép phế tất yếu
đều phải đi nhập, khiến cho ngành luyện thép hoàn toàn bị động, không có đất dụng
võ.
2.2.6. Sản xuất gang thép thuộc lĩnh vực ngoài quốc doanh cha đợc đẩy
mạnh.
Một số ý kiến muốn kiềm chế hoạt động sản xuất gang thép ngoài quốc doanh vì
cho rằng chất lợng sản phẩm không đảm bảo, gây ô nhiểm môi trờng.
Không thể làm nh thế, ngợc lại cần phải đẩy mạnh sản xuất thuộc lĩnh vực đầu t
kỹ thuật, cải tiến quản lý để sản phẩm có chất lợng tốt hơn.
Nh vậy, Nhà nớc có thể tập trung đầu t vào các dây chuyền mác thép chất lợng
cao, chủng loại phức tạp, đáp ứng nhu cầu trong nớc và xuất khẩu.
2.3. Thực trạng cạnh tranh.
Hiện nay, khả năng cạnh tranh của ngành Thép nớc ta là rất yếu ở cả 2 phơng diện
cạnh trạnh ngành và cạnh tranh sản phẩm. Điều đó, đợc thể hiện qua phân tích sau đây.
- Thứ nhất, về chi phí sản xuất. Qua số liệu từ Tổng công ty Thép Việt Nam
cho thấy, chi phí sản xuất một tấn thép cán ở Việt Nam là rất cao so với thế
giới (bảng 1).
14
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất cao là phần lớn các nhà máy ở
Việt Nam có các dây chuyền sản xuất với quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, phân tán.
Thực tế, cho thấy rằng, quy mô nhà máy lại ảnh hởng rất lớn đến chi phí sản xuất.
Công suất trung bình một nhà máy cán thép ở Việt Nam ớc tính chỉ khoảng 100 ngàn
tấn thép/năm là rất thấp so với quy mô của Đông Nam á (trung bình khoảng 500 ngàn
tấn/năm). Trong khi thực trạng ngành công nghiệp thép thế giới cho thấy, trong điều
kiện công nghệ sản xuất thép cha thật hiện đại, thì quy mô lớn có thể giảm đáng kể,
chi phí sản xuất nh ở Nga, Trung Quốc, Ucraina. Xét về khía cạnh công nghệ, hiện tại
ngành Thép ở Việt Nam cũng đang đứng trớc tình thế bất lợi. Công nghệ sản xuất thép
ở Việt Nam đợc các chuyên gia đánh giá là khá lạc hậu, bình quân khoảng 10 năm so
với thế giới. Qua khảo sát cho thấy trong ngành Thép Việt Nam hiện nay, công nghệ
tiên tiến chỉ chiếm 15% (tập trụng ở khu vực liên doanh với nớc ngoài), công nghệ
trung bình 10%, công nghệ lạc hậu 75%. Đặc biệt, một số doanh nghiệp thép, Nhà nớc
vẫn còn sử dụng công nghệ lạc hậu đến 30-40 năm. Đây cũng là một yếu tố cơ bản dẫn
đến giá thành sản xuất thép cao.
Bảng 1: Chỉ tiêu so sánh chi phí sản xuất của ngành Thép Việt Nam
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét