Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh quá trình thu hút và giải ngân nguồn ODA từ WB của việt nam

4. Nguồn và đối tượng của hỗ trợ phát triển chính thức .
4.1. Nguồn của ODA.
ODA được cung cấp trên cơ sở song phương và đa phương và nguồn phi
chính phủ:
4.1.1. Nguồn hỗ trợ song phương : Nguồn hỗ trợ này xuất phát từ chính
phủ này cho chính phủ khác, không thông qua tổ chức thứ ba. Hỗ trợ song
phương bao gồm cả viện trợ cho không, hợp tác kỹ thuật và cho vay không lãi
hoặc lãi suất thấp, được thể hiện dưới nhiều loại hình như hỗ trợ nhập khẩu,
hỗ trợ chương trình, hỗ trợ dự án.
Đối với các nước viện trợ nguồn hỗ trợ song phương đem lại cho họ
những điều kiện có lợi về kinh tế và chính trị như việc vươn ra để chiếm lĩnh
và mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên phong phú và nhân lực rồi rào từ
nước nhận viện trợ, tiêu thụ được hàng hoá thông qua các điều kiện ràng buộc
như buộc các nước nhận viện trợ phải mua hàng, thiết bị, công nghệ có khi
với giá cao hơn so với giá trên thị trường thế giới, ràng buộc về tỷ lệ tham
gia trị giá hợp đồng Ví dụ như Nhật bản một đối tác song phương lớn nhất
thế giới về ODA, thì 1/2 kim ngạch ngoại thương năm 1997 là buôn bán với
các nước đang phát triển
(6)
khi nền kinh tế các nước này phát triển thì việc
buôn bán với Nhật cũng tăng lên.
Đối với nước nhận nguồn hỗ trợ song phương có điều kiện giúp cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế từ các chương trình cải cách cơ cấu kinh tế , đầu
tư cho y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển nguồn nhân
lực nông thôn, môi trường Tuy nhiên họ cũng phải chấp nhận các điều kiện
ràng buộc rất chặt chẽ từ phía các nước bằng đồng Yen Nhật. Có thể thấy
rằng các nước nhận viện trợ sẽ có lợi hơn nếu được viện trợ bằng đồng USD
hay một loại ngoại tệ mạnh nào khác có giá trị hơn so với đồng Yên. cũng
như rất khó trong việc dự báo tỷ giá của đồng Yên so với đôla.
(6)
tạp chí TTTC 2-3/1997 - trang 48 bài: viện trợ phát triển chính thức ODA có lợi cho nước chủ nhà.
4.1.2. Viện trợ đa phương
Nguồn viện trợ này được xuất phát từ các tổ chức đa phương như WB,
ADB, IMF cho các nước đang phát triển là hội viên hoặc thành viên chính
thức của các tổ chức đa phương. Các nước này phải tuân thủ các thủ tục, thể
lệ quy định chặt chẽ từ các tổ chức trên như việc đóng góp cổ phần, thu nhập
bình quân đầu người, các chỉ tiêu về GDP .v.v liên quan đến chính sách tài
trợ trong từng thời kỳ nhất định. Các tổ chức đa phương cũng xem xét rất kỹ
về mức độ tin cậy về khả năng trả nợ, tính ổn định về kinh tế - chính trị, uy tín
cũng như những tiến bộ của nước được nhận viện trợ. Ví dụ như ngân hàng
thế giới để đánh giá kết quả sử dụng ODA của nước nhận viện trợ có chỉ
tiêu"Các chỉ báo tiến bộ"
(7)
. Các nước nhận viện trợ nếu muốn tiếp tục được
tiếp nhận viện trợ phải có cơ chế quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả
nguồn viện trợ, cũng như cam kết trả nợ đúng hạn. So với nguồn viện trợ song
phương, nước nhận viện trợ đa phương có thể tránh được các điều kiện ràng
buộc quá chặt chẽ nhiều khi gây khó khăn, thêm vào đó là bất lợi do những lệ
thuộc về kinh tế, chính trị hỗ trợ đa phương có tính ổn định hơn khi xảy ra
những biến động lớn như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng dầu lửa, chiến
tranh thế giới bởi vì nó được đảm bảo bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều
quốc gia có vị trí địa lý và điều kiện tụ nhiên, kinh tế - chính trị, xã hội khác
nhau. Một ví dụ là lần đầu tiên sau nhiều năm Nhật bản - nước có nguồn
ODA lớn nhất giành cho các nước châu Á đã cắt giảm nguồn viện trợ này
trong năm taì chính 1998, giảm 10,4% so với năm 1997 do những khó khăn
về kinh tế khi xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ
(8)
. Trong khi các nguồn đa
phương như WB, ADB hầu như không có thay đổi gì đáng chú ý. Tuy nhiên
các nước nhận viện trợ đa phương cũng phải đối mặt với cuộc cạnh tranh để
thu hút nguồn ODA cho nước mình từ các tổ chức đa phương, bên cạnh đó là
việc hoàn tất các thủ tục để được rút vốn nhanh chóng cũng là một khó khăn
không nhỏ.
(7)
Việt nam - chiến lược hỗ trợ quốc gia của nhóm ngân hàng thế giới giai đoạn 1999-2002- 1998 tài liệu của
WB - VN - CP - 52074.
(8)
Báo quân đội nhân dân ngày 1/11/1998 - trang 3.
4.1.3. Viện trợ phi chính phủ:
Nguồn viện trợ này là của các tổ chức phi chính phủ thường được
chuyển giao trực tiếp từ các tổ chức này cho các tổ chức và các địa phương
trong nước nhận viện trợ. Nguồn viện trợ này thường không quy định các
điều kiện ràng buộc chặt chẽ nhưng lại có nhiều loaị hình vì phức tạp. Bên
cạnh mục đích hỗ trợ phát triển các khoản viện trợ còn mang tính chất chính
trị của các tổ chức này. Do vậy cần phải có sự thận trọng quy chế quản lý chặt
chẽ đối với nguồn hỗ trợ này.
4.2. Đối tượng của ODA
Nguồn ODA của các tổ chức và các nước trên thế giới chỉ tập trung dành
cho những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp, đặc biệt là ở mức
dưới 220USD/người, năm
(9)
.
Để được tiếp nhận nguồn vốn ODA các nước phải tuân thủ các điều kiện
ràng buộc khác nhau tuỳ theo từng nguồn hỗ trợ.
Đối vơí các khoản tiền theo chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAC),
chương trình nông nghiệp chương trình tài chính thì các khoản vay được rút
vốn theo từng đợt sau khi bên rút vốn chứng minh đầy đủ rằng đã thực hiện
các biện pháp cải cách chính sách vĩ mô đã cam kết với tổ chức cho vay. Nếu
vay theo dự án thì bên vay phải tiến hành các thủ tục để chuẩn bị dự án như
xây dựng nghiên cứu khả thi, kế hoạch vốn đối ứng, kế hoạch giải phóng mặt
bằng tiếp đó là các công việc thuê tư vấn, thiết kế sơ bộ, thiết kế chi tiết đặc
biệt là công tác đấu thầu sao cho phù hợp với yêu cầu của bên cho vay cũng
như thông lệ quốc tế. Cuối cùng là thực hiện các thủ tục để rút vốn. Để đẩy
nhanh tốc độ rút vốn và sử dụng vốn bên vay cần chuẩn bị và triển khai dự án
kịp thời theo đúng tiến độ đã cam kết có cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả
nguồn vốn vay, từ đó đặt ra yêu cầu về nhân lực của mối nhận viện trợ cần
phải có trình độ, đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong quá trình sử
dụng cũng như quản lý sử dụng nguồn vốn ODA.
Một yêu cầu nữa đặt ra là uy tín của nước tiếp nhận viện trợ và những
tiến bộ đạt được thông qua quá trình sử dụng vốn viện trợ của các nước này.
Đây là tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho nước nhận ODA có được sự tin
(9)
Báo hà nội mới - 2-8-1998 bài: Để thu hút được vốn ODA của Phạm Hải Bình.
tưởng từ phía các nhà tài trợ qua đó tiếp tục và nhận được nhiều hơn sự ủng
hộ từ phía họ.
Như vậy về phía các nước tiếp nhận nguồn vốn ODA cần phải tuân thủ
các điều kiện, yêu cầu từ phía khách quan và chủ yếu, không ngừng nâng cao
uy tín với các tài trợ để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn ODA bởi vai trò quan
trọng của nguồn vốn này cho tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở các
quốc gia đang phát triển.
5. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội :
Để phát triển kinh tế - xã hội của một nước thì nhu cầu về vốn là không
thể thiếu được. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển với cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội còn ở mức rất thấp, tăng trưởng kinh tế chưa cao thì một
nguồn vốn lớn đề tập trung giải quyết những vấn đề trên là hết suức cần thiết.
Nâng cao được cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mới
có thể giúp các nước này thoát khỏi tình trạng nghèo đói tiến tới phát triển
bền vững kinh tế - xã hội. Đáp ứng được những yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức với đặc thù lãi suất vay thấp, thời hạn dài (thường từ
15 - 40 năm) , vốn đầu tư tập trung lớn có thể lên tới hàng trăm triệu USD cho
một dự án. Bên cạnh đó nguồn vốn này cũng có mục đích nhằm hỗ trợ các
nước nghèo giải quyết các vấn đề trên. Điều này thường không tìm thấy trong
các nguồn tư bản tự nhiên (đầu tư trực tiếp) . Để thấy rõ hơn ta xét quan hệ
giữa vốn và tăng trưởng trong mô hình Harro - Domar thể hiện như sau:
s
g=
(10)
ICOR
Trong đó:
g: tốc độ tăng trưởng
s: tiết kiệm
ICOR: hệ số phản ánh trình độ sản xuất
Có thể thấy vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên nếu
xét về mối quan hệ giữa nguồn vốn ODA với tăng trưởng thì không hoàn toàn
chặt chẽ tức là cứ khi viện trợ cho một nước tăng lên thì tăng trưởng của nước
này cũng tăng lên. Một ví dụ minh hoạ là nước Zămbia nhận được số lượng
(10)
Công thức trên là kết quả nghiên cứu độc lập của hai nhà kinh tế học Domar người Anh và Harrod ngươì Mỹ.
lớn của viện trợ nhưng tăng trưởng chậm trong khi một số nước khác như
Botsnanca. Ghana cũng nhận được nhièu viện trợ và tăng trưởng nhanh
(11)
.
Mối quan hệ trên còn phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lý tốt của nước
nhận viện trợ. Trong điều kiện quản lý tốt thêm 1% viện trợ trong GDP thì
tăng trưởng tăng thêm là 0,5%.
Còn đối với phát triển kinh tế, ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu
người dẫn đến tăng phúc lợi và mức sống cho người dân từ đó thúc đẩy phát
triển. Năm 1966 và Thái lan nước nghèo với mức thu nhập dưới 1 USD một
ngày (theo giá năm 1985) , tuy nhiên nước này đã có những biến đổi đến năm
1966. Năm 1967 cứ 1000 đầu sơ sinh đã có 84 trẻ không tiếp tục tồn tại thì
vào năm 1994 con số này giảm xuống gần 2/3
(13)
. Những thành tựu này được
đánh giá là có vai trò quan trọng của viện trợ nước ngoài.
Một trong các mục tiêu của viện trợ ODA là giảm , mà vấn đề này liên
quan đến tăng mức thu nhập bình quân đầu người. Một nghiên cứu được tiến
hành ở 67 nước cho kết quả là thường thu nhập đầu người tăng thì tỷ lệ nghèo
giảm đi :
Bảng 1:
Chỉ tiêu
Quốc gia
Tăng thu nhập bình
quân(%)
Giảm nghèo (%)
Phát triển 4 5
Nước đang phát triển 7 19
Nguồn: Asseng Aid - NHTG trang 39
Nguồn viện trợ còn giúp các nước giảm được tỷ lệ trẻ em tử vong. thêm
1% vốn viện trợ trong GDP dẫn đến giảm 0,9% số trẻ em tử vong. Đây là một
trong các chỉ tiêu nằm trong mục tiêu của viện trợ ODA về ytế - sức khoẻ
cộng đồng.
ODA cũng còn có vai trò đối với công cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ
các nước đang phát triển.
(11)
Viện trợ và tăng trưởng ở các nước đang phát triển - giai đoạn 1970-1993. assessing Aid What worko,
what dô , and why - trang 31.
(13)
- 14 Péing Aid - tài liệu của WB trang 29 - 39 - 1998
Như vậy nguồn hỗ trợ phát triển chính thức có vai trò quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội các nước tiếp nhận ODA, từ đó thấy được tầm quan
trọng của thu hút ODA đặc biệt là trong khi nguồn hỗ trợ này có đang xu
hướng giảm dần.
6. Xu hướng ODA hiện nay.
Nguồn hỗ trợ phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm. Bà Carole
Bellamy tăng giảm tới UNICEF đã phát biểu "Nếu tình trạng teo dần của
khoản viện trợ ODA tiếp tục theo hướng hiện nay thường ta sẽ không còn
khái niệm về ODA vào năm 2012"
(15)
. Nguồn ODA cho các nước đang phát
triển giảm từ mức 55,4 tỷ USD năm 1996 xuống còn 47,6 tỷ USD năm 1997.
Nhật bản - nhà tài trợ số 1 thế giới cũng có xu hướng cắt giảm nguồn viện trợ
này (xem chú thích số 8 trang 9) Năm 1997 Mỹ đã cắt giảm trên 3 tỷ USD hạ
mức vốn ODA còn 6,1 tỷ
(17)
. Cam kết về tỷ lệ dành cho ODA trong GNP của
các nhà tài trợ cũng giảm. Xem bảng 2.
Bảng 2: Viện trợ phát triển chính thức với GNP 1991 và 1997
Nước
Năm
Thụy

Pháp Canada Đức Nhật Anh Italia Mỹ OECD
1991(%) 0,9 0,64 0,45 0,38 0,32 0,32 0,29 0,2 0,35
1997(%) 0,85 0,5 0,42 0,3 0,2 0,28 0,09 0,08 0,2
Giảm 1997
so với 1991
(%)
5,56 21,88 6,67 21,05 37,5 12,5 68,97 60 42,86
Nguồn: Assessing Aid - NHTG - trang 9
Bốn nước dẫn đầu trong cắt giảm đứng đầu là Italia với 68,97% sau đó
đến Mỹ 60%, khiến OECD 42,86% và Nhật 37,5%. Tuy nhiên Nhật vẫn duy
trì vị trí số 1 với 9,4tỷ USD cho ODA vào năm 1997.(18)
(-16(
15)
Báo tin tức buổi chiều - 26-2-1998 trang 6 bài viện trợ phát triển có nguy cơ bị xoá sổ
(17)
Tìn tức buổi chiều 1/8/98 trang 6
Lý do cắt giảm nguồn ODA từ các nhà tài trợ rất đa dạng song chủ yếu
là do gặp khó khăn về kinh tế trong nước nên phải tập trung nguồn luực cho
việc khắc phục những khó khăn này. Bên cạnh đó cũng có lý do xuất phát từ
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu xảy ra vào năm 1997 và kéo dài
cho đến nay.
Nguồn ODA đang có xu hướng giảm dần, điều này tạo nên sự bắt lợi cho
các nước vốn là đối tượng của ODA, đặc biệt là các nước trong khu vực châu
Á, nơi vừa phải chịu hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng đã khó khăn sẽ trở
nên khó khăn hơn.
Vấn đề đặt ra cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam là cần
phải có những biện pháp cần thiết để đa phương hoá các nguồn hỗ trợ cũng
như phải tranh thủ thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả,
phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
I- NGÂN HÀNG THẾ GIỚI - MỘT TRONG SỐ CÁC NGUỒN CUNG CẤP ODA
CỦA THẾ GIỚI NÓI CHUNG VÀ VIỆT NAM NÓI RIÊNG.
1. Lịch sử ra đời tổ chức ngân hàng thế giới.
Ngân hàng thế giới được thành lập vào 25/6/1946, đây là thời điểm mà
WB chính thức bắt đầu hoạt động . Trước đó từ 8 - 18 tháng 3 năm 1946 cuộc
họp cấp cao của WB và SiMF tháng 3 năm 1946 được tổ chức ở Sanana,
Georgia. Tại cuộc họp này đã quyết định lựa bầu ra ban giám đốc và lựa chọn
Washiston D.C là trụ sở của WB và IMF lúc đó. Mức vốn khởi điểm là 7.67
tỷ USD. Vào tháng 7 cùng năm cuộc họp đầu tiên của ban giám đốc được tổ
chức, cho đến 18/6/1946 thì WB có tổng giám đốc đầu tiên là ông Eugenen
Meyer. Trải qua quá trình phát triển từ 1946 đến nay WB đã có 9 Tổng giám
đốc và những thay đổi khác. (xem phụ lục 1)
2. Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của WB.
2.1. Cơ cấu tổ chức:
Ngân hàng thế giới hiện nay bao gồm 180 nước thành viên với số vốn
pháp định là 184 tỷ USD trong đó hội viên đóng góp 10%.
Nhóm ngân hàng thế giới bao gồm 4 tổ chức là hiệp hội phát triển quốc
tế (IDA), công ty tài chính quốc tế (IFC), ngân hàng tái thiết và phát triển
quốc tế (IBRD) và cơ quan đảm bảo đầu tư đa phương (MIGA) và trung tâm
giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID) (xem thêm về các tổ chức này ở
phụ lục số 2.
Thành phần ban lãnh đạo của ngân hàng nằm trong Hội đồng quản trị, cơ
quan này chỉ họp 1 năm một lần để quyết định những định hướng chính sách
quan trọng như kết nạp thành viên mới, những thay đổi vốn cổ phần hay phân
bổ thu nhập này của IBRD, xem xét ngân quỹ và tài chính: Các công việc
điều hành do ban giám đốc mà đứng đầu là tổng giám đốc thực hiện.
Chính phủ các nước thành viên của ngân hàng đầu cử đại diện tại trụ sở
chính như là thành viên cuả ban giám đốc. Năm cổ động lớn nhất là Pháp,
Đức, Nhật , Anh và Mĩ thời là 5 giám đốc điều hành cùng với 19 giám đốc
điều hành được lựa chọn trong các nước thành viên còn lại 24 giám đốc điều
hành này thường gặp nhau 2 lần trong một tuần lễ cùng nhau xem xét các vấn
đề như hoạt động kinh doanh của ngân hàng các khoản cho vay và bảo đảm,
chính sách mới, đóng góp quỹ chiến lược hỗ trợ quốc gia, các quyết định về
tài chính. Tổng giám đốc của ngân hàng là cổ đông lớn nhất theo truyền thống
là Mỹ cử ra nhiệm kỳ 5 năm một lần có trách nhiệm tổ chức các cuộc họp của
ban giám đốc và toàn bộ công việc quản lý ngân hàng.
Sơ đồ 3 - cơ cấu tổ chức ngân hàng thế giới.
2.2. Chức năng , nhiệm vụ của WB.
2.2.1. Mục đích hoạt động của WB.
WB là một tổ chức ngân hàng không nằm ngoài mục đích tiến hành hoạt
động kinh doanh thu lợi trên thị trường tài chính quốc tế. Tuy nhiên một mục
đích mà được cả thế giới quan và ủng hộ đó là giảm nghèo và cải thiện mức
Hội đồng quản trị
Giám đốc
quản lý
Ban giám đốc
Tổng giám đốc
Giám đốc
quản lý
Giám đốc
quản lý
PTGĐ
PTKT và
Chủ tịch
GĐQL và
Thư ký
PTGĐ
cấp cao
- Huy động
nguồn vốn -
kiểm soát
- Chính sách
tài chính và
quản lý rủi
ro- Thủ quỹ
- Châu Mỹ La
Tinh, vịnh
Caribê.
- Châu Âu và
Trung á-Nam
á
- Trung Đông
và Bắc phi
- Hệ thống
môi trường và
hệ thống phát
triển xã hội
- Hệ thống
phát triển nhân
- Châu Phi
- Đông Á và
Thái Bình
Dương.
- Khu vực tài
chính tư nhân
và CSHT.
- Giảm nghèo
và quản lý
kinh tế
- Nguồn
nhân lực -
Hội đồng thư
ký nhóm giải
pháp thông
tin - dịch vụ
chung.
- Kiểm toán
nội bộ
Tổ chức PTKTHệ thống dịch vụ
sống tiêu chuẩn thông qua tăng trưởng ổn định và đầu tư vào con người và
tăng cường chất lượng phát triển.
2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của WB
Ngân hàng thế giới là nguồn cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất với
cam kết khoảng 20 tỷ USD khoản cho vay mới mỗi năm
(19)
. Không chỉ vậy
ngân hàng còn đóng vai trò điều phối với các tổ chức đa phương, các chính
phủ , tổ chức phi chính phủ và tư nhân để bảo đảm các nguồn được sử dụng
triệt để trong hỗ trợ chương trình nghị sự phát triển quốc gia.
Với chức năng và nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước
nghèo trên thế giới, trợ giúp các nước đang phát triển thông qua hỗ trợ tài
chính dài hạn cho các dự án và chương trình phát triển. Ngân hàng thế giới
mà cụ thể là tổ chức IDA có trợ giúp tài chính đặc biệt đó là khoản vay không
có lãi suất , bên vay chỉ phải chịu phí dưới 1% của khoản vay. Thời gian hoàn
vốn sau thời gian dài từ 35 đến 40 năm với 10 năm của hạn
(20)
.
WB khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tại các nước đang phát
triển. Chức năng này được thực hiện thông qua tổ chức IFC. IFC tài trợ vốn
để chống rủi ro cho các doanh nghiệp tư nhân dưới hình thức các khoản vay
vốn cổ phần, vốn dài hạn. Khuyến khích phát triển thị trường vốn địa phương
bằng cam kết tài trợ, trợ giúp kỹ thuật, tài chính cho các công ty tài chính tư
nhân, thời hạn khoản tín dụng này từ 7 đến 12 năm.
Ngân hàng huy động phần lớn các nguồn tài chính từ các hoạt động trên
tt tài chính quốc tế, trong trường hợp của IDA nguồn tài chính có được thông
qua sự đóng góp của chính phủ các nước thành viên có tiềm lực mạnh về tài
chính như Pháp, Đức, Mĩ, Nhật và cả những nước đang phát triển như
Brazil, Achentina, Hungari, Hàn quốc
2.3. Ngân hàng thế giới - nhà tài trợ ODA lớn thứ hai của thế giới.
2.3.1. Lĩnh vực hỗ trợ.
Cung cấp ODA cho các nước đang phát triển là một trong các chức năng
và nhiệm vụ cơ bản của WB nhằm trợ giúp cho các nước này phát triển kinh
(19)
Bộ tài chính - 12/4/99
(20)
Tài liệu về NHTG - bộ tài chính - 12/4/99

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét