Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Luận chứng vai trò của tri thức khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế

dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào các hoạt động sản xuất kinh
doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội. Trong thời đại ngày nay khoa học
và công nghệ thực sự là nền tảng và là động lực của quá trình công nghiệp
hóa hiện đại hóa. Phát triển khoa học công nghệ, gắn khoa học công nghệ
với đời sống chính là mấu chốt đảm bảo sự thành công của cong nghiệp hóa
hiện đại hóa. Nhận thức được vấn đề đó, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết
quan trọng về khoa học và công nghệ như : Tại hội nghị lần thứ VII, ban
chấp hành TƯ VII đã khẳng định “ Khoa học công nghệ là nền tảng của
công nghiệp hóa hiện đại hóa”, hội nghị lần thứ II ban chấp hành TƯ khóa
VIII cũng nhấn mạnh “ Cùng với giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học
công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là
điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công
CNXH. Công nghiệp hóa hiện đại hóa phải bằng và dựa vào khoa học công
nghệ ” Muốn vậy chúng ta phải gắn hoạt động nghiên cứu khoa học công
nghệ với thực tiễn,với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, phải tăng
cường vốn đầu tư và tìm ra động lực cho phát triển bản thân nó. Động lực
đó chính lầ lợi ích của những nhà nghiên cứu, phát minh, ứng dụng có hiệ
quả của khoa học công nghệ.
2. Vai trò của tri thức khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế
a. Tri thức khoa học –công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển kinh
tế
Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học – công nghệ đối với
quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nói riêng, đối với sự phát triển của
xã hội Việt Nam nói chung được biểu hiện trên các mặt cụ thể sau:
Khoa học – công nghệ có vai trò quyết định trong việc trang bị và trang
bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại tiên tiến cho
5
các ngành kinh tế quốc dân nói chung, nhằm nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam
trên thị trường thế giới với mục tiêu không ngừng cải thiện và nâng cao
mức sống của người dân, sự phồn vinh và sức mạnh của Việt Nam. Đói là
nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất cảu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta hiện nay.
Khoa học – công nghệ còn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục,
đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con người, đặc biệt là
nguồn lực trí tuệ - một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Có nhiều cách thức để
chung tat rang bị và trang bị lại công nghệ hiệ đại, tiên tiến cho các ngành
kinh tế quốc dân. Tuy nhiên dù bằng hình thức nào đi chăng nữa điều quan
trọng và có tính chất quyết định nhất ở đây là cần phải có những con người
có đủ trí tuệ và năng lực để có thể khai thác và sử dụng hiệu quả các trang
thiết bị hiện đại. Văn kiện đại hội Đảng IX đã chỉ rõ “ Phát huy nguồn lực
trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục
và đào tạo khoa học – công nghệ là nền tảng và động lực của suwjnghieepj
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khoa học – công nghệ giữ vai trò động lực trong việc tạo ra môi trường
thông tin và thị trường thông tin – huyết mạch của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và của cả nền kinh tế. So với giai đoạn phát triển trước đây thì ngày
nay thông tin có một vị trí cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cả những hoạt động tinh thần.
Thông tin trong lĩnh vực khoa học – công nghệ có liên quan rất chặt chẽ
đến việc nắm bắt các bí mật, bí quyết công nghệ nằm trong các phương
pháp, các thiết bị, các dữ liệu khoa học – công nghệ mới nhất. Trong xã hội
hiện đại,trình độ phát triển của công nghệ thông tin có ảnh hưởng quyết
định đến sự phát triển của hàng loạt công nghệ hiện đại.
Nhiệm vụ trọng tâm của khoa học – công nghệ là cung cấp các trang
thiết bị hiện đại thông qua các công nghệ cao, công nghệ sạch để con người
6
khắc phục được những hậu quả tiêu cực do chính các phương tiện kỹ thuật
chưa hoàn thiện trước gây ra.
b . Tiềm lực khoa học – công nghệ của Việt Nam hiện nay
Nhờ có đường lối đúng đắn và sự quan tâm đầu tư của Đảng và nhà nước
ta đối với khoa học công nghệ trong suốt các thời kỳ vừa qua, cho đến nay
Việt Nam đã có những tiềm lực khoa học – công nghệ đáng kể, có khả năng
cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách phát triển
đất nước, tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học công nghệ được
chuyển giao từ bên ngoài, từng bước vươn lên giải quyết nhiều vấn đề khoa
học – công nghệ do nhu cầu thực tiễn đất nước đặt ra.
Về nông nghiệp
- Cây lương thực : Chọn tạo được hai giống lai có năng suất cao
30 – 35 tạ/ha, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, một giống đậu
tương có thời gian sinh trưởng 85 – 90 ngày, năng suất 20 – 25
tạ/ha.
- Cây công nghiệp : Đã chọn tạo ra 29 dòng cao su vô tính xuất
sắc, trong đó có 12 dòng vô tính đa tính trạng, 5 dòng cao su có
triển vọng về năng suất mủ, đưa vào sản xuất 4 dòng vô tính và
khuyến cáo 2 giống nhập nội PB280, PB281. Đưa vào sản xuất
4 tinh dòng cà phê với 3 giống cà phê chè, 2 dòng chè 215 và
276 và dòng chè 5.0 năng suất cao, chất lượng tốt.
- Giống vật nuôi : đưa vào sản xuất 18 dòng và các tổ hợp lợn lai
và gia cầm như lợn lai nuôi thịt 87,51 máu ngoại lai và 12,51
máu nội, lợn lai 3 máu ngoại và 4 máu nội, dòng gà 882 và
Jangam, dòng vịt V5, V6, hai dòng chim bồ câu nhập từ Pháp…
Về lâm nghiệp
- Công nhân đã đưa vào sản xuất các giống tiến bộ kỹ thuật cho
các biến chủng Honduensis của cây thông gồm 5 xuất xứ
Cardwell, Byfield, Poptun 2, Poptun 3, Alamicamba.
Về ngư nghiệp
7
- Các công nghệ chế biến thức ăn tôm, thiết bị ép viên, thiết bị
sấy và công nghệ sản xuất giống tôm sú chất lượng cao đã được
chuyển giao ứng dụng ở một số địa phương đạt kết quả tốt.
Công nghệ sản xuất giống nhân tạo cua biển Saflla senata cũng
đang được chuyển giao cho Hải phòng và Thanh Hóa.
Về công nghệp
- Hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ trong lĩnh vực
công nghiệp định hướng vào mục tiêu phục vụ thiết thực cho
các ngành sản xuất công nghiệp, phục vụ phát triển công nghiệp
địa phương, phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn, phục
vụ phát triển kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần
cho khai thác sử dụng tài nguyên, năng lượng, cải thiện và bảo
vệ môi trường.
- Nghiên cứu các dây chuyền công nghệ sản xuât bột giấy, dây
chuyền đồng bộ 1 vạn tấn/năm, thiết bị lõi giấy điều khiển CNC
năng suất 3000 tấn/năm, hệ thống nấu bột giấy năng suất 15000
– 20000 tấn/ngày.
c . Những yếu kém và hạn chế của khoa học – công nghệ Việt Nam hiện nay
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, khoa học công nghệ nước ta vẫn còn
nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội
trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và chưa thực
sự đóng vai trò động lực, nền tảng cho phát triển. Sau đây là một số biểu hiện :
- Tiềm lực khoa học – công nghệ vãn còn ở mức thấp so với khu
vực và thế giới, chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu cầu phát triển.
Tỷ lệ cán bộ khoa học – công nghệ trên tổng số dân chưa cao so với
các nước khác. Đặc biệt còn thiếu nhiều chuyên gia đầu ngành, việc
đào tạo và đào tạo lại tiến hành chậm, nguy cơ hụt hẫng trong đội
ngũ rất lớn, nhất là trong ngành mũi nhọn như công nghệ thông tin,
sinh học, cơ khí chế tạo máy. Việc xếp loại các cơ quan hoa học –
công nghệ còn lúc túng, việc sử dụng đội ngũ tri thức còn lãng phí,
8
cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu khoa học còn thấp xa so
với nhu cầu thực tiễn.
- Cơ chế quản lý kinh tế chưa thực sự gắn kết các hoạt động khoa
học – công nghệ với kinh tế xã hội, tạo động lực thực sự và nguồn
lực dồi dào cho hoạt động khoa học – công nghệ phát triển. Mức
đầu tư bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam cho khoa học còn
thấp, chưa vượt quá 0.25 % trong khi thỉ lệ này ở các nước công
nghiệp hóa là 5 – 6 %, các nước phát triển là 10 %.
- Cơ chế quản lý khoa học – công nghệ chậm và vẫn chưa được
đổi mới một cách căn bản, mặc dù tư tưởng đổi mới cơ chế quản lý
khoa học - công nghệ đã xuất hiện từ rất sớm. Chưa có sự liên
thong giữa cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý khoa học –
công nghệ.

3. Vai trò của tri thức khoa học - công nghệ cao với phát triển kinh tế tri
thức
a. Kinh tế tri thức là gì
Có người dẫn lời Các Mác nói rằng, khi hàm lượng cơ bắp trong sản
phẩm do con người làm ra giảm đến mức cực nhỏ thì lúc đó sẽ xuất hiện
giai cấp công nhân khoa học. Và cho rằng điều đó đang được chứng minh
trong nền Kinh tế Tri thức (KTTT). Thực ra, không cần phải đến KTTT mới
xuất hiện giai cấp công nhân khoa học của Mác. Trong nhiều ngành công
nghiệp hiện đại được tự động hóa hoàn toàn như sản xuất xe ô tô, sản xuất
linh kiện điện tử, sản xuất hóa chất hàm lượng cơ bắp đã được giảm đến
mức thấp nhất ngay từ khi chưa xuất hiện khái niệm KTTT. Cũng có những
ý kiến đánh đồng KTTT với một số ngành kinh tế thường được gọi là ngành
kinh tế mới như Kinh tế Internet, hay Công nghệ tin học và truyền thông, để
từ đó cho rằng KTTT là nền kinh tế dựa vào tri thức, trong đó kinh tế
Internet trở thành nội dung chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
9
Nhưng rõ ràng là, bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào cũng phải dựa vào
tri thức và nền kinh tế Internet cũng chỉ là một trong những ngành kinh
doanh, tuy đóng một vai trò ngày càng quan trọng, nhưng không thể trở
thành một ngành kinh doanh độc lập mang tính quyết định cho một nền
kinh tế được. Sự sụp đổ của hàng loạt công ty kinh doanh Internet (cả của
các công ty kinh doanh Tin học và Truyền thông) hiện nay có thể sẽ giúp
chúng ta thận trọng hơn, phân biệt rõ hơn khái niệm và vai trò của các
ngành kinh doanh với một nền kinh tế.
Mới chỉ trong vài năm gần đây, qua việc theo dõi sáu ngành công nghiệp
then chốt của tương lai là: công nghệ kỹ thuật tin học và truyền thông, công
nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công
nghệ kỹ thuật hàng không-vũ trụ mới, và công nghệ kỹ thuật bảo vệ môi
trường, người ta đã ghi nhận sự xuất hiện của một nền kinh tế hoạt động
theo một công thức khác hẳn về bản chất so với công thức của nền kinh tế
hàng hóa mà loài người từng biết. Hoạt động của nền kinh tế hàng hóa- dù
đó là kinh tế thị trường hay kinh tế kế hoạch- đều tuân theo công thức nổi
tiếng: Tiền - Hàng - Tiền. Trong khi đó, nền kinh tế mới xuất hiện lại hoạt
động theo công thức: Tiền- Tri thức- Tiền.
Theo đánh giá chung của những học giả hàng đầu ở phương Tây thì ngày
nay KTTT mới chỉ đang định hình ở 03 nước công nghiệp phát triển nhất là
Mỹ, Đức và Nhật bản. Vì vậy chưa thể đưa ra được một định nghĩa hay một
công thức xác định thế nào là KTTT. Thông qua việc nghiên cứu sáu ngành
công nghiệp then chốt đã nói ở trên, người ta chỉ có thể ghi nhận được một
số đặc trưng cơ bản nhất- cần chứ chưa phải đã đủ- của nền kinh tế mới này
như sau:
- Sự xuất hiện các xí nghiệp sản xuất được tự động hóa cao độ và
rất linh hoạt, do tác động đồng bộ của tiến bộ khoa học trong
hàng loạt lĩnh vực, mà đặc biệt là trong Công nghệ kỹ thuật tin
10
học và truyền thông. Sản phẩm của những xí nghiệp này là
những sản phẩm "thông minh". Đó là những sản phẩm không chỉ
chứa một hàm lượng thông tin cao, mà còn cả một hàm lượng tri
thức cao hơn hẳn sản phẩm công nghiệp cổ điển, khiến cho nó
có khả năng sử dụng, chế biến thông tin, đáp ứng nhu cầu riêng
của khách hàng.
- Các công nghệ mới đang làm thay đổi triệt để qúa trình sản
xuất và cơ cấu sản phẩm. Chẳng hạn, kỹ thuật Gen bắt đầu thay
đổi một cách căn bản qúa trình sản xuất, sản phẩm và cơ cấu sản
phẩm trong công nghiệp dược phẩm, công nghiệp hóa chất.
Tương tự như vậy, công nghệ sản xuất vật liệu mới cũng thay
đổi một cách sâu sắc sản phẩm của công nghiệp sản xuất vật
liệu cổ điển. Ví dụ: Sứ có tính năng đặc biệt đã được dùng trong
công nghiệp sản xuất ô tô. Trong tương lai không xa sẽ xuất
hiện động cơ bằng sứ chịu được nhiệt độ cao hơn hẳn thế hệ
động cơ hiện tại và vì vậy sẽ tiết kiệm nhiều nhiên liệu hơn.
Hay những vật liệu siêu tinh khiết mới cho công nghiệp sản xuất
vi mạch điện tử, v.v
- Vốn đầu tư cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm cũng như xây
dựng nhà máy sản xuất trong nền KTTT là hết sức lớn. Để có
thể hoàn vốn đầu tư, sản phẩm phải được sản xuất với số lượng
lớn tối đa. Không những thế, doanh nghiệp trong KTTT phải
bằng mọi cách hoàn vốn trong thời gian ngắn nhất trước khi sản
phẩm thế hệ mới của công ty khác được tung ra thị trường, đây
là điều xẩy ra rất nhanh trong KTTT. Thị trường của các doanh
nghiệp trong nền KTTT vì vậy phải là thị trường toàn cầu. Rõ
ràng là chỉ có không nhiều doanh nghiệp đáp ứng được những
điều kiện cạnh tranh gay gắt này. Và cũng sẽ chỉ có một vài
quốc gia đủ khả năng hỗ trợ tài chính cho các tập đoàn kinh
doanh tòan cầu, cũng như giữ ổn định môi trường luật pháp-xã
11
hội-chính trị để các công ty này không chuyển trụ sở sang nước
khác.
Như vậy, ta có thể đưa ra nhận xét sơ bộ nhất để trả lời câu hỏi "KTTT là
gì?" như sau: KTTT là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế
hàng hóa tư bản, trong đó công thức hoạt động cơ bản Tiền-Hàng-Tiền
được thay thế bằng Tiền- Tri Thức- Tiền và vai trò quyết định của Tri thức
được thể hiện qua các mặt sau đây:
- Hàm lượng Tri thức trong qúa trình sản xuất phải chiếm phần
quyết định. Theo nhiều học giả thì hàm lượng này phải chiếm ít
nhất là từ 60 đến 65% giá thành sản xuất và ít nhất là 35% giá trị
sản phẩm. (Các con số này trong một số ngành công nghiệp then
chốt ở Đức hiện nay trung bình là 60 và 30%, ở Hoa Kỳ là 62 và
35%). Hàng hóa trong KTTT là Tri thức.
- Trong KTTT, Tri thức vừa được sử dụng để quản lý, điều
khiển, tham gia vào qúa trình sản xuất như công cụ sản xuất, vừa
trực tiếp là thành tố trong sản phẩm như nguyên liệu sản xuất. Vì
vậy, ngoài vai trò là hàng hóa trong KTTT, Tri thức- khác với
hàng hóa trong kinh tế hàng hóa- cũng là tư liệu sản xuất. Trí
thức để xử lý tri thức, để làm ra tri thức, tri thức quản lý điều
hành cũng trở thành hàng hóa và đó là những thứ hàng hóa
được sản xuất không theo qúa trình sản xuất quen thuộc trong
nền Kinh tế Hàng hóa. Chưa bao giờ Hàng hóa của một nền
Kinh tế lại đồng thời giữ nhiều vai trò quyết định khác nhau đến
vậy trong cả phương thức sản xuất lẫn quan hệ sản xuất như
Hàng hóa Tri thức trong nền Kinh tế Tri thức.
- Sự phát triển như vũ bão của công nghệ tin học và truyền
thông rút ngắn càng ngày càng nhanh thời gian chọn lọc, đánh
giá, sử dụng và sáng tạo thông tin, khiến cho giá trị sử dụng tri
thức cũng bị rút ngắn lại nhanh chóng. Một tri thức hôm nay có
12
giá trị hàng tỷ Dollars, ngày mai đã có thể vô giá trị. Vì vậy, việc
tiếp cận và trao đổi Tri thức ở phạm vi toàn cầu trong KTTT có
ý nghĩa sống còn. Cạnh tranh trong KTTT trước hết là cạnh
tranh với thời gian. Để bảo đảm sự phát triển bình thường của
mình, KTTT sẽ dẫn đến việc xóa bỏ biên giới quốc gia, ít nhất
và trước mắt là trong lĩnh vực thông tin.
b . Điều kiên hình thành kinh tế tri thức
Trước hết, cần khẳng định rằng, KTTT không phải là một bước nhảy đột
biến, hay một sáng tạo của một lý thuyết nào đó, mà là hình thái phát triển
cao hơn nữa- có tính tiến hóa- của nền kinh tế hàng hóa tư bản với sự kế
thừa các qui luật của nền kinh tế thị trường. Chính sự phát triển kinh tế, xã
hội, chính trị đến mức cao độ ở các nước công nghiệp phát triển nhất đã tạo
tiền đề cho sự ra đời KTTT.
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên vào cuối thế kỷ 18 tại Anh quốc đã
đưa nước này lên vị trí lãnh đạo thế giới. Đồng thời nhận chìm Trung Quốc
và Ấn Độ- là hai nước vào thế kỷ 17 còn giàu hơn cả Châu Âu- xuống hàng
các nước thuộc địa và ngày nay vẫn còn là những nước đang phát triển. 100
năm sau, với ba ngành công nghiệp mới là Điện, Hóa chất và Chế tạo động
cơ đốt trong, Đức và Mỹ đã trở thành hai cường quốc hàng đầu của thế giới
trong giai đoạn hai của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Cũng
đúng 100 năm sau vào cuối thế kỷ 20, chúng ta đang đứng ở trung tâm cuộc
cách mạng thứ hai: cuộc cách mạng kinh tế-xã hội-công nghệ, nẩy sinh từ
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Chính cuộc cách mạng công
nghệ đã đưa các quốc gia công nghiệp phát triển đến xã hội tin học bằng
cuộc cách mạng công nghệ tin học. Qúa trình phát triển kinh tế- xã hội này
tại Mỹ, Đức và Nhật bản đã tạo được những tiền đề sau đây cho sự hình
thành KTTT:
13
- Tự động hóa cao độ: Tự động hóa cao độ quá trình sản xuất
không những giảm đến mức thấp nhất chi phí cho những yếu tố
phi tri thức, mà còn rút ngắn một cách căn bản thời gian từ khi
nghiên cứu phát triển đến sản xuất hàng loạt. Và như vậy mới
gia tăng một cách đáng kể hàm lượng tri thức trong sản phẩm.
Ngoài ra, chỉ có sự tự động hóa cao độ mới đáp ứng được nhu
cầu sản xuất sản phẩm vừa với số lượng lớn, vừa rất linh hoạt
đáp ứng nhu cầu chuyên biệt của khách hàng ở những thị trường
khác nhau trên thế giới.
- Công nghệ tin học và thông tin phát triển cao độ. Đây là một
trong những điều kiện căn bản nhất bảo đảm sự phát triển của
KTTT. Nó không những là một ngành kinh tế then chốt sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm tri thức, mà còn là điều kiện bảo đảm hiệu
qủa việc tiếp cận, trao đổi, xử lý thông tin, sáng tạo tri thức của
các ngành kinh tế-xã hội khác. Trong sản xuất-kinh doanh, sự
phát triển công nghệ này đã dẫn đến cái mà chúng ta thường
nghe nói: cuộc cách mạng giảm chi phí quản lý-điều hành. Chi
phí liên lạc rất thấp cũng góp phần không nhỏ giúp doanh nghiệp
có những phản ứng kịp thời cho mọi biến động trên phạm vi
tòan cầu, thúc đẩy toàn cầu hóa doanh nghiệp. Ngoài ra, công
nghệ tin học và thông tin phát triển cao độ có những đóng góp
tích cực vào việc nâng cao tri thức cho người tiêu thụ bình
thường, giúp họ nâng cao khả năng sử dụng sản phẩm tri thức.
- Bảo vệ có hiệu qủa một môi trường an toàn và ổn định cho việc
hình thành, sản xuất và tiêu thụ Tri thức. Đó là một môi trường
pháp lý bảo đảm tự do hoàn toàn cho việc tiếp cận, trao đổi và
xử lý thông tin, trong đó gía trị Tri thức được bảo vệ bằng luật
sở hữu Trí tuệ; sở hữu tư nhân phải được tôn trọng và bảo vệ.
- Một nền kinh tế thị trường phát triển cao với các thị trường tài
chính quốc tế hoạt động hữu hiệu. Như đã nói ở trên, doanh
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét