Trang 5
2.5.1.5.Hỗ trợ quyết định cho vay trở lên nhanh chóng 42
2.5.1.6.Phương pháp xếp hạng đơn giản, dễ thực hiện và áp dụng 43
2.5.1.7.Phương pháp xếp hạng đã bao gồm nhiều chỉ tiêu quan trọng 43
2.5.2. Những mặt còn hạn chế 43
2.5.2.1. Chỉ tiêu để đánh giá xếp hạng chưa phù hợp 43
2.5.2.2. Quy trìnhh xếp hạng chưa rõ ràng 45
2.5.2.3. Đối tượng xếp hạng chưa phù hợp 45
2.5.2.4. Số lượng các thứ hạng xếp hạng chưa đầy đủ 45
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế 45
2.5.3.1. Nguyên nhân khách quan 45
a. Thông tin phục vụ cho xếp hạng không đầy đủ 45
b. Thị trường chưa có nhiều tổ chức XHTN có thể cung cấp kết quả XHTN
cho các ngân hàng tham khảo 46
2.5.3.2. Nguyên nhân chủ quan 46
a. Nhận thức về XHTN chưa cao 46
b. Trình độ cán bộ tín dụng chưa đồng đều 46
c. Ngân hàng chưa có cơ sở dữ liệu riêng 47
d. Kết quả xếp hạng chưa được ứng dụng trong quản lý rủi ro tín dụng 47
e. Nhiều trường hợp xếp hạng chỉ mang tính hình thức 47
Kết luận Chương II 47
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XHTN
DOANH NGHIỆP TẠI BIDV
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA BIDV TRONG THỜI GIAN TỚI 49
3.1.1.Các định hướng cơ bản 49
3.1.1.1. Định hướng về tín dụng 49
3.1.1.2. Định hướng về nguồn vốn 49
3.1.1.3. Định hướng về dịch vụ 49
3.1.2.Các chỉ tiêu cơ bản đến năm 2010 50
3.1.3.Xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm 50
3.2.CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XHTN 50
3.2.1. Đối với nhà nước 50
3.2.1.1. Xây dựng tổ chức XHTN độc lập 50
3.2.1.2. Tạo môi trường cho hoạt động kinh doanh tín nhiệm phát triển 51
Trang 6
3.2.1.3. Nâng cao chất lượng thông tin tín nhiệm của CIC 51
3.2.1.4. Xây dựng hệ thống dữ liệu để cung cấp thông tin doanh nghiệp nhanh
chóng, đầy đủ, chính xác 51
3.2.2. Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 52
3.2.2.1.Các kiến nghị về quản trị điều hành 52
a. Nâng cao nhận thức về XHTN 52
b. Xây dựng hệ thống thông tin riêng của BIDV 52
c. Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo cán bộ 52
d. Đẩy mạnh thực thi XHTN trong hoạt động tín dụng 53
e. Định kỳ hoặc đột suất kiểm tra thực hiện XHTN 53
3.2.2.2.Các kiến nghị để hoàn thiện phương pháp xếp hạng 53
a. Đưa thêm trọng số để tính điểm các chỉ tiêu 53
b. Thiết lập chương trình phần mền để thực hiện xếp hạng 53
c. Bổ sung, thay thế các chỉ tiêu tài chính 54
d. Bổ sung, thay thế các chỉ tiêu phi tài chính 54
e. Thay đổi số lượng và ký hiệu bậc xếp hạng 54
3.4.PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG SAU KHI ĐÃ ĐIỀU CHỈNH 55
3.4.1.Bước 1, xác định ngành nghề kinh tế 55
3.4.2.Bước 2, xác định quy mô 56
3.4.3.Bước 3, tính toán và chấm điểm các chỉ tiêu tài chính 56
3.4.4.Bước 4, tính toán và chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính 61
3.4.5.Bước 5, tính tổng điểm 65
3.4.6.Bước 6, xác định kết quả xếp hạng tín nhiệm 66
3.5.VÍ DỤ MINH HỌA XHTN MỘT DOANH NGHIỆP 66
Kết luận Chương III 66
KẾT LUẬN 68
PHỤ LỤC SỐ 01
PHỤ LỤC SỐ 02
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu.
Một trong lĩnh vực mà Việt Nam sớm mở cửa khi đã chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của WTO là lĩnh vực tài chính ngân hàng. Do nhiều rào cản bị bãi bỏ nên
hoạt động ngân hàng chắc chắn sẽ trở lên sôi động và cạnh tranh quyết liệt hơn. Để
chiếm lĩnh thị phần, thu hút được nhiều khách hàng các ngân hàng trong nước cũng như
các ngân hàng nước ngoài sẽ đưa ra nhiều chính sách, cách thức để thu hút khách hàng.
Để tham gia vào cuộc cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động tín dụng các ngân
hàng thương mại trong nước ngay từ bây giờ phải tự đổi mới mình, phải xây dựng hệ
thống quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Hoạt động tín dụng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất trong những hoạt động của
các ngân hàng thương mại chính vì vậy hoàn thiện các công cụ quản lý rủi ro tín dụng
luôn là vần đề quan trọng hàng đầu của các ngân hàng thương mại. Xếp hạng tín nhiệm
khách hàng là một trong những công cụ quản lý rủi ro tín dụng một cách khoa học và
hiệu quả mà các ngân hàng thương mại hiện nay đang triển khai áp dụng. Mặc dù mang
những tên gọi khác nhau, tùy thuộc vào mỗi ngân hàng, có ngân hàng gọi là “Hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ, hệ thống chấm điểm tín dụng…” nhưng bản chất đều nhằm
đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng có quan hệ
dựa trên hệ thống xếp hạng.
Để từng bước nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, ngày 31/12/2003 BIDV
đã ban hành quyết định số 5645/QĐ-TD2 với tên gọi là “tiểu đề tài chính sách khách
hàng” để thực hiện xếp hạng tín nhiệm khách hàng là doanh nghiệp, làm cơ sở cho
quyết định cấp tín dụng, thực hiện các chính sách khách hàng . Sau ba năm thực hiện
hệ thống xếp hạng tín nhiệm này đã thể hiện tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn trong
hoạt động tín dụng. Mặc dù vậy hệ thống xếp hạng tín nhiệm do còn nhiều hạn chế,
không phù hợp với chuẩn mực quốc tế và tình hình thực tế Việt Nam cho nên kết quả
xếp hạng chưa phản ánh đúng tình hình thực chất khách hàng, làm cho công tác quản trị
điều hành trong hoạt động tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng gặp nhiều trở ngại.
Trang 8
Vì vậy việc hoàn thiện hệ thống xếp hạng cũ, xây dựng một hệ thống xếp hạng
mới phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam là rất cần thiết và hiện nay
cũng đang được BIDV triển khai thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của luận văn nhằm nghiên cứu những vấn đề sau :
- Trình bầy rủi ro tín dụng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Giới thiệu
khái quát về XHTN, nguyên tắc và các chỉ tiêu thường dùng để XHTN, sự cần thiết phải
xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp vay vốn đối với ngân hàng thương mại, sơ lược
XHTN trên thế giới từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam .
- Giới thiệu thực trạng hệ thống xếp hạng tín nhiệm khách hàng doanh nghiệp
của BIDV, có ý kiến so sánh hệ thống xếp hạng của BIDV với một số tổ chức khác từ
đó đưa ra những mặt còn hạn chế, nguyên nhân những hạn chế của hệ thống xếp hạng.
- Trên cơ sở những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế luận văn đã kiến
nghị các giải pháp để hoàn thiện hệ thống xếp hạng. Các kiến nghị trước hết là đối với
nhà nước sau đó là với BIDV. Sau khi kiến nghị, luận văn đã kiến nghị xây dựng một hệ
thống xếp hạng tín nhiệm mới, bổ sung để hoàn thiện cho hệ thống XHTN hiện hành mà
BIDV đang áp dụng.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp duy vật
biện chứng, vận dụng các nguyên tắc khách quan, toàn diện và thống nhất giữa lịch sử
và logic, sử dụng các phương pháp đi từ cụ thể đến trừu tượng… ngoài ra luận văn còn
sử dụng các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước có liên quan.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về mặt kỹ thuật, phương pháp xếp hạng tín
nhiệm doanh nghiệp. Các vần đề khác có liên quan chỉ đề cập làm cơ sở cho việc nghiên
cứu như rủi ro tín dụng, nguyên tắc và các chỉ tiêu xếp hạng, XHTN trên thế giới…
5. Ý nghĩa nghiên cứu.
Trên cơ sở khái quát lý luận, nghiên cứu thực trạng hệ thống xếp hạng tại BIDV,
kinh nghiệm xếp hạng của các tổ chức khác trong và ngoài nước luận văn đã kiến nghị
các giải pháp để hoàn thiện hệ thống xếp hạng, trên cơ sở đó đưa ra hệ thống xếp hạng
doanh nghiệp mới. Đây là hệ thống xếp hạng theo luận văn khá hoàn thiện và đầy đủ, có
Trang 9
thể thực hiện triển khai và áp dụng trong toàn hệ thống BIDV hoặc bất kỳ một tổ chức
tín dụng nào.
6. Nội dung nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, kết
cấu của luận văn bao gồm những nội dung sau :
Chương 1
Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp vay vốn ngân hàng
Chương 2
Thực trạng xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
Chương 3
Kiến nghị hoàn thiện phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
CHƯƠNG I
Trang 10
XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP VAY VỐN NGÂN HÀNG
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khác luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các rủi ro ngân hàng
thương mại thường gặp phải trong hoạt động ngân hàng là rủi ro tín dụng, rủi ro hối
đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro nguồn vốn.
Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động của ngân hàng
thương mại, chính vì vậy khi khách hàng vay gặp phải rủi ro dẫn đến không trả được nợ
cho ngân hàng thì sẽ ảnh hưởng ngay đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Tại Việt
Nam, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì nợ xấu chiếm khoảng 3% tổng dư nợ,
nhưng theo các chuyên gia nước ngoài, các tổ chức quốc tế thì nợ xấu chiếm tới 14-15%
tổng dư nợ, tức là gấp 3 lần theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước.
Rủi ro tín dụng có thể được hiểu như sau :
- Nếu hiểu tín dụng là sự ứng trước giá trị hiện tại để đổi lấy giá trị tương lai với
mục đích mong muốn giá trị tương lai lớn hơn giá trị hiện tại thì rủi ro tín dụng là hiện
tượng giá trị tương lai thu về nhỏ hơn hoặc bằng giá trị hiện tại.
- Rủi ro tín dụng có thể được hiểu là xác suất khách hàng không thực hiện đầy đủ
các nghĩa vụ tài chính đã được cam kết.
- Tiếp cận dưới góc độ điều khiển học thì rủi ro tín dụng được hiểu là sự xuất
hiện những biến cố không bình thường trong quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấu tới hoạt
động ngân hàng như mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập của ngân hàng, vỡ nợ hay
phá sản ngân hàng.
Ngân hàng nhà nước đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng tại Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của
tổ chức tín dụng là khả năng xẩy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết”.
Như vậy có thể khái quát, rủi ro tín dụng là tổng giá trị lớn nhất của khoản tiền mà
một ngân hàng có thể thất thoát khi khách hàng lâm vào tình trạng không có khả năng
Trang 11
thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã cam kết. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro
ngân hàng không thu hồi được nợ khi đến hạn.
1.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
1.1.2.1. Các nguyên nhân khách quan.
a. Do môi trường kinh tế không ổn định.
Môi trường kinh doanh biến động nhanh, khó dự đoán.
Hoạt động của ngân hàng thương mại gắn liền với hoạt động của các doanh
nghiệp. Khi môi trường kinh tế không ổn định làm ảnh hưởng đến hoạt động của các
doanh nghiệp thì hệ quả tất yếu là sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng
thương mại.
Nền kinh tế Việt Nam chúng ta vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên
liệu), dầu thô, may gia công,… đây là những ngành, lĩnh vực vốn rất nhạy cảm với rủi
ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động
xấu.
Thực tế trong thời gian qua cho thấy ngành dệt may trong một số năm gần đây đã
gặp không ít khó khăn vì bị khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói
chung. Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua.
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém.
Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá phôi thép
làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất do chi phí
giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
Trình độ quản lý vĩ mô còn yếu kém.
Quản lý vĩ mô của nhà nước được thể hiện ở việc nhà nước tạo môi trường thuận
lợi, thông thoáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua luật pháp, các quy định,
định hướng cho các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, hỗ trợ tìm kiếm thị trường để
tiêu thụ sản phẩm…
Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm
kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận
cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một
Trang 12
hiện tượng khách quan. Nếu nhà nước định hướng không tốt có khả năng xẩy ra trường
hợp một ngành, một lĩnh vực nào đó được tập trung quá nhiều vốn đầu tư dẫn đến dư
thừa, lãng phí.
Thực tế tại Việt Nam trong thời gian qua cho thấy ngành mía đường là một ví dụ
điển hình. Do định hướng không tốt đã dẫn đến việc đầu tư các nhà máy đường tràn lan,
rất nhiều các nhà máy hoạt động kém hiệu quả do sản phẩm sản xuất ra giá thành cao,
công nghệ lựa chọn đầu tư không phù hợp, thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu sản xuất,
đầu tư nhiều làm sản phẩm đầu đầu ra lớn hơn nhu cầu. Kết quả là nhiều doanh nghiệp
mía đường lâm vào tình trạng phá sản, không có khả năng trả nợ vay ngân hàng. Chỉ
riêng ngành mía đường, hệ thống ngân hàng thương mại đã phải gánh chịu tổn thất trên
5.000 tỷ đồng.
Nợ xây dựng cơ bản cũng đang là một vấn đề nhức nhối hiện nay, ngân sách nhà
nước đang nợ các doanh nghiệp xây lắp đến 10.000 tỷ đồng. Các doanh nghiệp xây lắp
với nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, hoạt động chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng, nợ càng
nhiều, càng lâu thì lãi phải trả càng lớn, hiệu quả càng thấp. Thực tế có những công
trình đã hoàn thành nhiều năm nhưng vẫn chưa được thanh toán điều này đã làm cho các
doanh nghiệp xây lắp càng thêm khó khăn, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng
không còn khả năng trả nợ ngân hàng.
Hệ thống thông tin quản lý yếu kém.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt
động một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc
cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng, nhưng chưa phải là cơ quan định
mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả nên thông tin cung cấp còn
đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các
ngân hàng thương mại đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở
rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin
tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong
điều kiện môi trường thông tin không cân xứng, thiếu chính xác về khách hàng thì nguy
cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng có thể gia tăng.
b. Rủi ro do môi trường pháp lý.
Trang 13
Cơ chế của nhà nước.
Nhà nước trong quá trình thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô, trong từng thời kỳ đã
ban hành nhiều quy định, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước, nhiều
trường hợp các doanh nghiệp phải cho vay theo chỉ định hoặc cho vay theo kế hoạch
của nhà nước. Trước đây đã có thời kỳ các doanh nghiệp nhà nước với tình hình tài
chính không mạnh, không có tài sản đảm bảo nhưng vẫn được vay với số tiền rất lớn tại
các ngân hàng thương mại nhà nước miễn là có phương án được cơ quan chủ quản phê
duyệt. Nhiều dự án kém hiệu quả nhưng ngân hàng thương mại phải cho vay theo chỉ
định hoặc theo kế hoạch.
Chính cơ chế của nhà nước mang tính đặc quyền, ưu đãi đã tạo ra rủi ro cho các
ngân hàng thương mại. Thực tế cho thấy chính sách cho vay theo kế hoạch của nhà
nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ đã phát sinh rất nhiều nợ xấu.
Văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ,
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản
dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy
nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng còn gặp
phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Những
văn bản này đều có quy định: Trong những trường hợp khách hàng không trả được nợ,
NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm
được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà
nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho
ngân hàng để xử lý… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không
thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.
Hoạt động kém hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước.
Hoạt động kém hiệu quả của một số cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt trong xử lý
tài sản đảm bảo cũng tạo ra rủi ro cho các ngân hàng thương mại. Theo quy định của
pháp luật, ngân hàng có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước phối hợp để xử lý tài sản đảm
bảo như ủy ban nhân dân địa phương, công an cưỡng chế chủ sở hữu tài sản giao tài sản
để phát mãi nhưng khi thực hiện ngân hàng rất khó có được sự hợp tác của các cơ quan
này. Mặc dù trong hợp đồng thế chấp tài sản có quy định ngân hàng có quyền chọn cách
Trang 14
xử lý tài sản đảm bảo theo quy định tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản,
nhưng khi khách hàng vi phạm hợp đồng, nếu không có sự đồng ý của chủ sở hữu tài
sản ngân hàng gần như không thể thực hiện được.
Mục đích của ngân hàng khi khởi kiện khách hàng là để thu hồi nợ, chứ không
phải là một bản án quyết định rằng khách hàng phải trả nợ cho ngân hàng của tòa án.
Nhiều trường hợp sau khi toà đã tuyên án buộc khách hàng phải phát mãi tài sản để trả
nợ, đã đưa ra thi hành án nhưng khi thực hiện vẫn gặp không ít khó khăn.
c.Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước chưa hiệu quả
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và
đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực cán bộ
thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh
và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và phương pháp
thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa đựơc phát huy
và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là
phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro
còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc
đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi phạm. Mô hình tổ
chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà có những sai phạm của các
NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến
khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp. Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo
lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an
toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra
phát hiện và xử lý sớm hơn.
1.1.2.2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
a. Rủi ro từ phía khách hàng vay
Tình hình tài chính yếu, hoạt động kém hiệu quả.
Quy mô tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với nguồn vốn tự có cao
là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Một doanh nghiệp có tình
hình tài chính yếu kém, hoạt động kém hiệu quả sẽ làm cho vốn vay của ngân hàng rủi
ro lớn hơn.
Thông tin tài chính thiếu minh bạch.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét