1
Câu bị động
tiếng Việt
Vấn đề câu bị động trong tiếng Việt đã được bàn đến khá nhiều nhưng cho
đến nay các ý kiến vẫn còn phân tán, thậm chí ngay cả đối với việc câu bị động có
tồn tại hay khơng, Có thể nói vấn đề câu bị động nằm trong một hiện tượng rộng
hơn là cách dùng của các từ bị, được nói chung trong câu tiếng Việt và sự có mặt
của kết cấu cú pháp có danh từ chỉ thực thể làm đối tượng đứng trước động từ chỉ
hành động tác động lên thực thể là đối tượng.
Bài viết này tơi khơng cố gắng đi thuyết phục mọi người rằng trong tiếng
Việt tồn tại câu bị động. Ở đây tơi chỉ đề cập đến quan niệm của GS. Diệp Quang
Ban về câu bị động tiếng Việt và những suy nghĩ, đánh giá của cá nhân xung quanh
vấn đề mà tác giả đã trình bày trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt ”.
1. Quan niệm về câu bị động tiếng Việt
1.1. Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động
Điều kiện cần và đủ cho một kiến trúc bị động:
• Chủ ngữ bị động, về mặt nghĩa chịu ảnh hưởng của động từ chuyển tác
trong câu bị động.
• Có mặt của trợ động từ bị động( hay tác tố bị động) bị hoặc được
• Vị tố là một câu bị bao( giáng cấp), trong đó có chủ ngữ chủ động( có
thể vắng mặt) và vị tố là động từ chuyển tác; thực thể nếu ở chủ ngữ chủ động của
câu bị bao khơng trùng với thực thể nêu ở chủ ngữ bị động của câu. Điều kiện hai
thực thể này khơng trùng nhau là điều kiện cần để phân biệt bị, được là trợ động từ
bị động với bị, được là động từ tình thái.
Như vậy, câu bị động chứa một kiến trúc cú pháp, khơng phải là dạng thức
biến hình từ cho nên những câu nào thoả mãn ba điều kiện trên thì đều là câu bị
động.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
Các từ bị, được trong câu bị động vẫn là yếu tố tình thái nhưng chúng được
chun mơn hố trong chức năng tạo câu bị động nên chúng có tư cách của trợ
động từ với tính chất hư cao nhất. Vậy theo quan điểm của tác giả, bị và được
khơng phải là động từ thực hay động từ tình thái mà phải được hiểu là hư từ.
Cấu trúc cú pháp chung của câu bị động:
CN
1
(bị
động)
Trợ động từ bị
động: Bị, được
Vị tố
1
(Câu bị bao)
Tác tố tạo câu bị
động
CN
2
(Chủ động)
Vị tố (động từ
chuyển tác)
Bổ ngữ
(và tân ngữ)
Ví dụ:
Giáp bị thầy chê
Tường được chủ nhà treo đầy tranh
1.2. Chủ ngữ bị động và các vai nghĩa
Theo giáo sư Diệp Quang Ban, trong tiếng Việt với các sự việc thuộc về vật
chất, chức năng cú pháp chủ ngữ trong câu bị động thường do các thực thể sau đây
đảm nhiệm:
Đích thể:
Nó bị ( cảnh sát) phạt
Thuyền được người lái đẩy ra xa
Tiếp thể:
Giáp được ( nhà trường) tặng bằng khen
Thuyền được( thợ) lắp máy điện
Điểm đến:
Xe bị ( kẻ xấu) ném đá
Dù bị ( người ta) chất lên đầy hàng
Đắc lợi thể:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
Em bé được mẹ rửa chân cho
Giáp được ( các bạn) chép bài giùm cho
Bị hại thể:
Đứa trẻ bị ( chúng nó) xé rách áo
Nhà bị ( bão) tốc mái
Vị trí:
Tường được ( chủ nhà) treo đầy tranh
Phòng ngủ được (người ta) kê hai cái giường.
1.3. Phân biệt động từ bị động với động từ thực và động từ tình thái
Chức năng cú pháp và các chu cảnh cú pháp khác nhau của bị, được phản
ánh phạm vi hoạt động của chúng trong 3 tiểu phạm trù khác nhau: hoạt động như
động từ thực và làm vị tố trong câu, hoặc như động từ tình thái và khơng làm vị tố
trong câu, mà cũng có thể hoạt động như trợ động từ bị động( tác tố bị động) tạo
câu bị động và cũng khơng làm tham gia vào vị tố trong câu. Điều này được tổng
kết qua bảng sau:
Tiểu phạm
trù của bị,
được
Chức năng và chu cảnh cú pháp Ví dụ
Động từ thực Làm vị tố; đứng trước bổ ngữ do
danh từ ( cụm dạnh từ) đảm nhiệm.
Là vị tố; đứng trước bổ ngữ do một
câu bị bao đảm nhiệm, với điều kiện:
- Chủ ngữ của tồn câu khơng chịu
tác động của vị tố trong câu bị bao
- Thực thể ở chủ ngữ của tồn câu
khơng trùng với thực thể ở chủ ngữ
của câu bị bao.
Con thỏ bị đạn
Cậu bé được cái bút
Em này bị bố mẹ mất
sớm(Trong cú bị bao,
động từ khơng chuyển
tác)
Bà ấy được hai đứa con
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
học tốn rất giỏi.(Trong
cú bị bao, động từ
chuyển tác)
Động từ tình
thái
Làm yếu tố tình thái, khơng tham gia
vào vị tố; đứng trước vị tố là động từ
khơng chuyển tác, động từ chuyển
tác, tính từ hay một vài quan hệ từ;
các từ này có chủ ngữ trùng với chủ
ngữ của bị, được
Nó được đi
Họ được để xe ở đây
Bạn ấy bị ốm và bị học
lại một năm
Anh có được khoẻ
khơng?
Trợ động từ
bị động (tính
chất hư từ
cao nhất)
Làm tác tố bị động, khơng tham gia
vào vị tố; đứng trước vị tố là câu bị
bao (câu này có thể vắng chủ ngữ), vị
tố của câu bị bao là động từ chuyển
tác tác động lên thực thể nêu ở chủ
ngữ của tồn câu; chủ ngữ của câu bị
bao và của bị, được khơng trùng
nhau
Thuyền được người lái
đẩy ra xa.
Đá được( người ta)
chuyển lên xe.
Họ bị( kẻ gian ) lấy mất
tiền
Xe bị( kẻ xấu ) ném đá
Tường được treo tranh
Chính từ cách dùng này rất phức tạp của bị, được như bảng trên nên dẫn tới
cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện của những câu chứa chúng rất khác
nhau. Ví dụ:
Nó được đi xem kịch
Tượng này mà được bằng đồng nhỉ!
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
1.4. Trường hợp sử dụng bị, được gây lẫn lộn
Ví dụ:
(A) Cầu thủ X bị phạm lỗi
(A’) Em này bị phạm lỗi chính tả trong bài viết
Ở câu (A), chủ ngữ của câu khác chủ ngữ chủ ngữ của “ phạm lỗi”. ở câu (
A’), chủ ngữ là một: Em này. Theo đó, câu ( A) là câu bị động có bị là trợ động từ
bị động( tác tố bị động). Nếu bỏ đi, nghĩa của câu thay đổi.
Ở câu ( A’) là câu có bị là động từ tình thái, khơng giữ chức năng vị tố của
câu, có thể bỏ đi mà khơng làm thay đổi nghĩa sự việc của câu.
(B) Các nhà báo được chất vấn
(B’) Ơng cố vấn bị chất vấn
Ở câu ( B), chủ ngữ của tồn câu và của “ chất vấn” là một: Các nhà báo
Ở câu ( B’), chủ ngữ của câu là ơng cố vấn. Do đó, được trong câu (B’) là
động từ tình thái, nó khơng tham gia vào vị tố của câu. Bị ở trong câu ( B’) là trợ
động từ bị động, nó khơng tham gia vào vị tố của câu nên ( B’) là câu bị động.
1.5. Câu bị động khác với câu trung tính
Điểm khác biệt của câu trung tính với câu bị động và câu có đề ngữ:
Câu trung tính là câu có vị tố là động từ chuyển tác, nhưng chủ ngữ khơng
phải là yếu tố tạo ra hành động chuyển tác ở động từ, mà là chịu tác động của động
từ( như chủ ngữ ở câu bị động).
Trong câu trung tính khơng có mặt trợ động từ bị, được (khác với câu bị
động)
Trước vị tố- động từ chuyển tác ở câu trung tính khơng thể có một chủ ngữ
tác động. Nếu chủ ngữ này xuất hiện thì câu đó sẽ là câu có đề ngữ.
Ví dụ:
Vải này bán rất chạy. ( Câu trung tính )
Vải này họ bán rất chạy.( Câu có đề ngữ là phần được in đậm )
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
2. Bàn luận và đánh giá
Trong tiếng Việt, câu bị động là một vấn đề ngữ pháp đã gây nhiều tranh
cãi. Coocđiê viết: “ Tiếng Việt ghét lối nói đó, đáng lẽ nói: “Học trò bị thày phạt”,
tiếng Việt thường hay đổi thành câu chủ động. Khi lối nói bị động khơng thể tránh
được, người ta cấu tạo thành động từ với những từ bị, được, mắc, phải…
♦ Một số nhà ngơn ngữ học hồi nghi về sự tồn tại của loại câu bị động thậm
chí có những tác giả phản đối gay gắt, kịch liệt rằng nhất thiết phải xố bỏ vấn đề “
câu bị động” trong tiếng Việt. Với tình hình phức tạp như thế, việc chấp nhận trong
tiếng Việt có tồn tại câu bị động là một quan điểm rất tích cực và rất đáng khen
ngợi của giáo sư Diệp Quan Ban. Trong bài viết này, tơi đánh giá khá cao quan
niệm này của giáo sư. Bởi lẽ trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
đã viết:
Trịnh Hâm bị cá nuốt rày
Thiệt trời báo ứng lẽ này rất ưng
Phải chăng câu thơ trên sử dụng cấu trúc: “Bị SP”. Như thế ngay từ tác phẩm
văn học cổ điển ta đã thấy sự tồn tại của câu bị động.
♦ Còn đáp lại quan niệm của một số nhà Việt ngữ học cho rằng tiếng Việt
khơng có dạng bị động hay câu bị động vì tiếng Việt là loại ngơn ngữ khơng có
biến đổi hình thái, giáo sư Diệp Quang Ban đã đưa ra một cách hiểu đơn giản là:
Động từ trong tiếng Việt khơng có biến hình từ , mà phạm trù thái bị động theo
cách hiểu của các nhà nghiên cứu ngơn ngữ ấn- Âu thì gắn liền với dạng thức biến
hình của động từ trong các ngơn ngữ có biến hình từ. Vậy nên một kết luận hiển
nhiên là động từ tiếng Việt theo cách nhìn hình thái học đó, thì khơng thể có thái bị
động.
Nhưng điều quan trọng đấy là kết luận về hình thái động từ chứ khơng phải
nói về phạm trù ý nghĩa của thái bị động và cách biểu hiện ngữ pháp tính của nó
trong tiếng Việt.Thiết nghĩ rằng, khi phiên dịch một lối nói, có một kết cấu ngữ
pháp nhất định của một ngơn ngữ này sang một ngơn ngữ khác, ta cũng có thể dùng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
những kết cấu ngữ pháp tương đương nhưng rất có thể là những phương tiện từ
vựng học. Do đó bị + V, được + V khơng phải là hình thức của dạng bị động tương
đương với dạng bị động của tiếng Pháp mà chính là sự kết hợp của những phương
tiện từ vựng học gồm có: Bị/ được- Động từ biểu thị ý nghĩa chịu đựng/ thụ hưởng;
V- biểu thị hành động và trạng thái mà chủ thể phải chịu đựng/ được thụ hưởng.
♦ Một bộ phận khác đã gắn một cái tên cho quan niệm này của tác giả là “ Thói
sao phỏng ngữ pháp Âu châu”. Nếu đánh giá như vậy thì chưa thật thoả đáng. Đúng
là “ bị/ được” có gốc rễ là ở tiếng Hán, bị ( ) và được (đắc). Nhưng ai cũng biết là
một ngơn ngữ phát triển bằng một số cách trong đó có cách vay mượn từ vựng và
ngữ pháp của tiếng nước ngồi. Thực tế cho thấy, tất cả những người Việt Nam
nghiên cứu một cách nghiêm túc tiếng Việt từ trước đến nay đều tự nhận thức được
cái gọi là “ thói sao phỏng ngữ pháp Âu châu”. Có thể nói khơng ai có một trình độ
nhất định để làm nghiên cứu mà lại cố tình nhìn tiếng Việt như tiếng Âu châu.
Đồng thời cũng khơng ai tránh được vay mượn các phương pháp và các khái niệm
của nền ngơn ngữ Âu- Mĩ để nghiên cứu tiếng Việt. Do đó nếu cứ cho là người
Việt vay mượn ngữ pháp Âu châu thì đó cũng chẳng phải là điều đáng trách.
Tuy nhiên, cách hiểu của giáo sư Diệp Quang Ban về vấn đề câu bị động như
tác giả đã trình bày trong “ Ngữ pháp tiếng Việt” có rất nhiều điều cần phải được
đem ra bàn luận và nhìn nhận lại để có thể tạo ra một cái nhìn tồn diện hơn, sâu
sắc hơn về vấn đề này:
Trước hết, tác giả đã mặc cơng nhận rằng bị/ được trong câu bị động là một
hư từ như đã viết: Các từ bị, được trong câu bị động vẫn là yếu tố tình thái nhưng
chúng được chun mơn hố trong chức năng tạo câu bị động nên chúng có tư
cách của trợ động từ với tính chất hư cao nhất. Có lẽ cách hiểu này của tác giả có
là do ảnh hưởng của kết cấu bị V, được V trong tiếng Hán. Dù là vay mượn của
tiếng Hán nhưng khơng nên đưa ra kết luận rằng hai kết cấu này tương đồng. Một
từ ngoại lai khi du nhập vào từ vựng của một ngơn ngữ khác, có thể giữ những đặc
trưng ngữ pháp của từ gốc, nhưng lại có thể biến đổi về những đặc trưng ấy theo
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
q trình phát triển của lịch sử ngơn ngữ, kết quả là làm cho một từ cùng gốc mà có
những đặc điểm ngữ pháp khác nhau. Tình hình của bị chính là một ví dụ:Trong
tiếng Hán, bị hiện nayđược nhiều người coi là một hư từ biểu thị dạng bị động cụ
thể là: người Hán khơng thể nói: “ tha bị liễu” để diễn đạt ý nó bị rồi, cũng khơng
thể nói “ tha bị nhất phát tử đạn” để diễn đạt ý nó bị một phát đạn… Nhưng khác
với bị tiếng Hán, bị trong tiếng Việt vẫn là một thực từ chân chính và cũng có khả
năng kết hợp rất đa dạng, phong phú.
Một số ví dụ sau về cách sử dụng của bị. được cho thấy nếu hiểu bị, được là
hư từ e rằng chưa thật hợp lí:
Bị có thể là động từ nội động:
Trần Cừ bị rồi à?
Kỳ thực là nó bị vớí người ta rồi à?
Nếu đặt hai ví dụ này trong ngữ cảnh, chúng ta thấy rõ ràng đây khơng có sự
lược bỏ của bất kì thành phần nào, mà là một động từ độc lập, biểu thị ý nghĩa chịu
đựng một sự khơng may( chết, thất bại ) hay cũng có thể nói rằng biểu thị trạng
thái rủi ro của chủ thể. Ví dụ khác:
Chính mình(…) đã bị một mẻ chết dở
Chồng chị vẫn bị đánh bị trói suốt đêm
Bà mẹ vợ nó bị xe hơi cán
Qua những cấu trúc có bị V như bị đánh, bị trói, bị đốt… cải biến thành bị ai
đánh, bị ai trói, bị ai đốt…
Trường hợp của được giống như bị:
Chán vạn đứa cũng được chức tước
Tơi được làm chủ tịch
Qn ta được, qn Pháp thua
Do vậy, cả bị và được đều ln là một động từ độc lập, đóng vai trò chính
trong bộ phận vị ngữ của câu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Về vấn đề này, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết cũng đã trình bày một vài suy
nghĩ của mình:
♦ Nếu coi bị, được trong những câu như: “ Nó bị cảnh sát phạt” hay “Giáp
được nhà trường khen” là hư từ thì phải chứng minh chúng là những từ đồng âm
với bị, được trong những câu mà bị, được hiển nhiên là động từ. “Nó bị đòn” hay “
Nó được nghỉ”. Qủa thật khả năng chứng minh là rất khó. Chính tác giả Diệp
Quang Ban chưa giải quyết thoả đáng vấn đề này vì trong nhiều câu, các từ đồng
âm ấy kết hợp với nhau thành một kết cấu đẳng lập và ta khơng thể giải thích một
từ là hư từ cấu tạo dạng thức bị động của động từ còn một là động từ. Ví dụ:
Tám Bính khơng nhanh mắt, khơng mau trí khơn thì Năm Sài Gòn vừa bị
bắt, vừa bị đòn đau
♦ Nếu coi bị, được là hư từ đi kèm động từ để cấu tạo dạng bị động thì phải
chấp nhận một kiểu cụm động từ có danh từ đứng chen giữa phần đầu và phần
trung tâm. Trên thực tế, chính bộ phận sau bị, được mới là thành tố phụ của cụm
động từ này vì:
Chúng được dễ thay thế bằng các từ nghi vấn: Được gì? ( Được thày khen),
bị làm sao? ( bị cảnh sát phạt)
Chúng dễ được đảo lên đầu câu: Thày khen tơi cũng được vài lần rồi, còn
chê thì chưa hề bị.
♦ Khi đằng sau bị, được xuất hiện một chuỗi động từ quan hệ bình đẳng với
nhau, trong đó có những động từ khơng có ý nghĩa bị động và khơng quan hệ trực
tiếp với bị, được. Nếu giải thích bị, được là hư từ cấu tạo dạng bị động của một
động từ trong chuỗi thì ta sẽ lúng túng khi giải thích quan hệ giữa hư từ ấy với
những động từ còn lại. Ví dụ:
Nhà vua bị họ Mạc sai người vào ngục giết chết
Điểm thứ hai tơi muốn nói đến là tính chất thực và hư của bị, được nói cách
khác là chức năng khác nhau của bị, được với tư cách là động từ thực, động từ tình
thái, trợ động từ bị động mà tác giả đã trình bày. Thực ra vấn đề bị, được là động từ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
hư hay động từ thực có liên quan đến phần cú pháp. Việc xem xét một động từ nào
đó là có tính chất hư hay thực là một việc khơng giản đơn chung cho nhiều ngơn
ngữ, khơng chỉ riêng đối với các ngơn ngữ khơng biến hình từ như tiếng Việt. Và
việc phân biệt động từ thực hay hư còn ảnh hưởng đến việc xác định tính thực hay
hư của động từ tình thái. Khi đề cập tới việc phân biệt bị, được ở những tư cách
hoạt động khác nhau, tác giả khơng đưa ra một tiêu chí nào hay một căn cứ, cơ sở
chung nào.
Về vấn đề này, trong những nhà nghiên cứu trước đây, Trương Văn Chình và
Nguyễn Hiến Lê là những người coi trường hợp bị, được đứng trước động từ ngoại
động( như: Giáp bị đánh) là phó từ bị động của động từ( auxiliaries passif des
verbes) và kiểu câu này là câu bị động; đứng trước kết cấu C-V( (như Giáp bị ất
đánh) là phó từ của câu và kiểu câu này là câu chủ động có đề ngữ; cũng tức khơng
coi chúng trong cả hai trường hợp này là động từ thực, chỉ coi chúng là những từ
nhiều ít đã hư hố( nhiều ở trường hợp thứ nhất, ít hơn ở trường hợp thứ hai). Theo
quan điểm của cá nhân, chúng ta có thể dùng cách lược bỏ các từ bị, được để chứng
minh tính chất hư của bị, được theo cách hiểu hư từ là từ khơng mang nghĩa từ
vựng, có chức năng diễn đạt những mối quan hệ ngữ pháp. Bởi vì một trong những
cách thể hiện nội dung vừa nêu là sự vắng mặt của chúng với tư cách hư từ khơng
ảnh hưởng đến nghĩa sự việc của câu. Ví dụ:
Giáp được thày khen
So sánh với:
Giáp thày khen, ( còn tơi thì khơng)
Song có lẽ một thực tế cho thấy khơng phải mọi trường hợp sự có mặt của hai từ bị,
được cũng dễ dàng chuyển thành cách dùng khơng có mặt chúng. Ví dụ:
Giáp được khen
So sánh với:
Giáp khen
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Qua những ví dụ trên chứng tỏ lại một lần nữa một trong những điều kiện để
có kiến trúc bị động là sự có mặt của hai tác tố này.
Điểm thứ ba cần được xem xét và bàn luận thêm khi giáo sư viết: Vì là câu
diễn đạt hành động nên động từ trong câu bị động là động từ chỉ hành động và hơn
nữa hành động trong kiểu câu này là hành động ngoại động( tác động). Động từ
này có quan hệ nghĩa với thực thể nêu ở danh từ làm chủ ngữ của tồn câu, đứng
trước từ bị, được.
Ngay cả những nhà nghiên cứu như Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê
cũng coi rằng những trường hợp bị, được tồn tại với tư cách là phó từ bị động của
động từ khi đứng trước động từ ngoại động.
Vậy thì một vấn đề được đặt ra ở đây: Liệu có thể gạt bỏ những kết cấu bị+
V nội hướng ra một bên và chỉ cơng nhận kết cấu bị+ V, được+Vngoại hướng là
kết cấu của dạng bị động được khơng???
Nếu làm như vậy có lẽ đã phân tích và giải thích hiện tượng ngơn ngữ khách
quan theo ý định chủ quan của người nghiên cưú. Nhưng cuối cùng vẫn khơng
tránh khỏi sự bế tắc bởi thực tế trong việc sử dụng ngơn ngữ còn rất phức tạp. Một
số điểm được trình bày dưới đây sẽ phản ánh điều trên này:
• Tuy V
2
là động từ ngoại hướng nhưng N
1
( tức danh từ làm chủ ngữ) khơng
phải là đối tượng chi phối của V
2
và bản thân động từ này lại chi phối một danh từ
biẻu thị một đối tượng khác. Ví dụ:
Hoa Kiều bị Pháp giết người
Rõ ràng là động từ giết là động từ tác động vì nó có đủ những đặc trưng cú
pháp của tiểu loại động từ này, và chi phối đối tượng do danh từ người biểu thị chứ
khơng chi phối danh từ làm chủ ngữ của câu Hoa Kiều, vì ta chỉ có thể cải biến câu
trên thành: “Pháp giết người( của ) Hoa Kiều”, chứ khơng thể cải biến thành: “Pháp
giết Hoa Kiều, người”
Một ví dụ khác:
Ruộng cơng được chia lại một cách cơng bằng hơn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Hơn tám triệu đồng bào nơng dân được chia ruộng đất cơng
Ta có thể cải biến ruộng được chia ( người ta) chia ruộng; nhưng khơng thể
cải biến nơng dân được chia ruộng như cách trên được( khơng thể nói: “(người ta)
chia nơng dân” nhưng vẫn có thể nói: nơng dân được chính phủ chia ruộng đất.
• Bên cạnh đó, việc giải thích tổ hợp “bị/ được” với ngoại động từ là dạng bị
động đối lập với một thực tế là ở dạng bị động này, ngoại động từ của tiếng Việt
vẫn giữ khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng. Ví dụ:
Con người bị những của cải mà nó tạo ra thống trị lại nó và chi phối nó.
• Ngay khi V
2
đặt sau bị là động từ tác động và khơng có bổ ngữ theo sau, cũng
khơng phải bao giờ ta cũng có dạng bị động, khơng phải bao giờ cũng biến thành
dạng chủ động được. Ví dụ:
Tuyển bán hàng ở chợ, bị Tây nó cân hết vốn
Câu này khơng thể cải biến thành “ Tây nó cân Tuyển” vì như thế sẽ vơ
nghĩa, và do ngữ cảnh, ta biết được rằng đối tượng chi phối của cân do danh từ
hàng biểu thị, nhưng danh từ này đã bị lược bớt.
• Một số trường hợp sau bị là động từ tác động nhưng khơng thể cải biến thành
dạng chủ động. Ví dụ:
Những người đàn bà gố nhất định khơng muốn hiểu mục đích cao thượng
của cơng việc mình đang bị làm.
Căn cứ vào ngữ cảnh, ta biết được rằng giữa bị và làm đã được lược bỏ danh
từ quan huyện, nhưng sau khi điền danh từ ấy vào để cho cấu trúc đầy đủ rồi, ta vẫn
khơng thể cải biến câu này thành: “ Quan huyện đang làm mình” vì nó hồn tồn
vơ nghĩa.
Điểm tiếp theo bài viết này muốn nói tới là vấn đề chủ ngữ bị động và các
vai nghĩa đã được trình bày trong “ Ngữ pháp tiếng Việt”. Theo tác giả, chức vụ
chủ ngữ ngữ pháp của tồn câu bị động là những danh từ chỉ các thực thể diễn đạt
những vai nghĩa nhất định trong mối quan hệ nghĩa với động từ ngoại động đứng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
sau các từ bị, được.Với cách quan niệm như thế, tác giả đưa ra một số các vai nghĩa
được ưu tiên làm chủ ngữ:
Động thể> Đích thể> Tiếp thể> Đắc lợi thể> Cơng cụ> Vị trí> Thời gian
Có thể thấy lập luận của tác giả về vai nghĩa chưa thực sự thuyết phục. Bởi
vì lý thuyết vai nghĩa dựa trên các vị từ, khơng áp dụng cho kết cấu C- V. Giáo sư
Diệp Quang Ban đã cơng nhận trong ví dụ:
Giáp được thày khen
Thì “thày khen” là vị tố. Vậy “ Giáp” là vai nghĩa gì? So với yếu tố gì? Tác
giả đã khơng đưa ra được một câu trả lời thật thoả đáng. Về vấn đề này, giáo sư
Cao Xn Hạo cũng đã bày tỏ quan điểm của mình rằng: Tiếng Việt là loại ngơn
ngữ đề- thuyết, nghĩa là khơng phải yếu tố nào cũng có khả năng đóng vai trò làm
đề. Nhưng nếu tồn tại câu bị động, nghĩa là khơng phải là yếu tố cũng có khả năng
làm chủ ngữ. Do đó theo giáo sư Cao Xn Hạo, trong tiếng Việt khơng có câu bị
động. Đây chính là lí do mà ơng đã phản đối nhất thiết phải xố bỏ “câu bị động”
tiếng Việt.
3. Kết luận
Từ những điều tác giả Diệp Quang Ban viết trong “Ngữ pháp tiếng Việt” mà
chúng ta đã đưa ra xem xét, bàn luận và đánh giá trên đây có thể những điểm hợp lí
và cũng có những điểm chưa hợp lí và xác đáng. Song chúng ta khơng thể phủ nhận
được những đóng góp của giáo sư với nền ngữ pháp tiếng Việt.
Xét về phương diện xã hội, tách ra được một vị trí dành cho câu bị động sẽ
giúp ích được rất nhiều cho việc học tiếng Việt của người nước ngồi và việc học
tiếng Âu châu của người Việt. Nhiều nhà nghiên cứu thì chủ trương tơ đậm tính
chất riêng trong việc mơ tả tiếng Việt, làm cho ngữ pháp tiếng Việt có cái vẻ khơng
giống bất kì ngữ pháp của một ngơn ngữ nào và lấy lí do từ sự khác biệt về loại
hình của nó (nghĩa là tiếng Việt là một loại hình ngơn ngữ đơn lập). Nhưng chúng
toi thiết nghĩ rằng “ tiếng Việt là một ngơn ngữ tiết kiệm đến cao độ”( Nguyễn Kim
Thản) nên sẽ tìm ra một cách diễn đạt của tiếng Việt đối với những gì mà các ngơn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
ngữ khác cũng diễn đạt được qua đó tìm ra cái chung và cái riêng của tiếng Việt với
các ngơn ngữ khác. Nếu làm như vậy chắc chắn là sẽ tiết kiệm được nhiều sức óc
của tồn dân nhất là trong việc học ngoại ngữ.
Mặt khác, trong cơng việc giao bang quốc tế hiện nay, nếu người ngoại quốc
muốn học tiếng Việt thì cách làm đó cũng giảm bớt phần khó khăn ở những chỗ
khơng cần phải gây khó khăn cho họ. Như thế, theo quan điểm của người viết bài,
chúng ta khơng cần thiết phải cố gắng tạo ra một hàng rào “ khơng thể vượt qua
giữa tiếng Việt và ngơn ngữ khác trong việc miêu tả ngữ pháp của chúng mà kết
quả là làm cho người Việt học tiếng nước ngồi cũng như người nước ngồi học
tiếng Việt đều phải học hai kiểu ngữ pháp chẳng có chỗ nào chung nhau cả. Vậy từ
lợi ích nêu trên sao chúng ta cứ phải phủ định sự tồn tại của nó.
“ Ngữ pháp tiếng Việt” là một cố gắng rất lớn của tác giả Diệp Quang Ban
nhằm giới thiệu ngữ pháp của nước nhà tiến đến những thành tựu của ngơn ngữ học
hiện đại. Đường lối thực thi trong cuốn sách này là vận dụng những thành tưụ của
ngữ pháp chức năng vào tiếng Việt đồng thời khơng li khai những thành tựu của
Việt ngữ học truyền thống và cấu trúc luận trong quan điểm trước đây.
Tuy nhiên trong q trình trình bày quan điểm của mình, tác giả Diệp Quang
Ban khơng thể khỏi một số hạn chế như đã trình bày ở trên.Bài viết này khơng hề
có ý định phê phán, bác bỏ hay phủ nhận tồn bộ những điểm hạn chế của tác giả
mà chỉ xin nêu ra những suy nghĩ, đánh giá riêng của cá nhân bởi lẽ câu bị động
tiếng Việt cho đến bây giờ còn là một vấn đề chưa thật sáng rõ. Mặt khác, việc sử
dụng lối tạo câu bằng những động từ bị, được cũng khơng phải là có thể áp dụng
được một cách phổ biến. Ngay trong một số ngơn ngữ ấn- Âu, nơi mà dạng bị động
khá phát triển và được nghiên cứu đầu tiên, nhiều nhà ngơn ngữ học cũng chỉ rõ
rằng dạng bị động của động từ là một lối nói có tính cách nhân tạo (A.Mâ)
Trên đây chỉ là những suy nghĩ đánh giá còn rất hạn chế của người viết. Là
người mới chỉ đang mon men tiếp cận với chân lí khoa học nên những hiểu biết
chưa sâu sắc, những lí lẽ lập luận chưa kín kẽ thậm chí có đơi chỗ có thể là hiểu sai
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét