Biện chứng cái đẹp trong xã hội thơng qua ngũ ln
LỜI NĨI ĐẦU
Khi nghiên cứu các phạm trù của khách thể thẩm mĩ, phạm trù cái
đẹp là một phạm trù mà khơng một nhà nghiên cứu nào có thể bỏ qua.
Điều đó khơng có gì là khó hiểu cả, bởi “trong cuộc sống của con người,
cái đẹp ln là người bạn đồng hành, có mặt khắp mọi nơi; cái đẹp vây
quanh con người trong mỗi bước đi, mỗi việc làm, mỗi hành vi ứng xử.
Ở đâu có cuộc sống của con người là ở đó có cái đẹp. Cái đẹp đem lại
niềm vui, niềm hạnh phúc, nâng đỡ con người trong mọi khó khăn, tiếp
thêm sức mạnh để con người vượt qua thử thách. Nhờ có cái đẹp mà con
người khơng mất lòng tin vào cuộc sống, vào chân lí, vào ngày mai. Cái
đẹp ln là khát khao vươn tới của con người”.
(Lê Văn Dương)
Cái đẹp được biểu hiện qua mn vàn những sự vật, hiện tượng tồn
tại xung quanh ta. Có những cái đẹp của thế giới tự nhiên do tạo hố
sinh ra như sơng, núi, biển, trời, trăng, sao…; cũng có những cái đẹp do
chính bàn tay con người làm ra - họ chính là những người nghệ sĩ, bằng
tài năng và tâm huyết của mình, đã tạo ra những tác phẩm độc đáo, sinh
động làm đẹp cho đời (được gọi là cái đẹp trong nghệ thuật). Tuy nhiên,
điều mà chúng ta muốn đề cập đến ở đây lại là cái đẹp tồn tại trong một
trạng thái khác, đó là cái đẹp trong xã hội. Chúng ta sẽ phần nào hiểu rõ
hơn về nó khi đi vào tìm hiểu nếp sống tình cảm của con ngươì thơng
qua Ngũ ln.
Và lẽ dĩ nhiên, theo quy luật tất yếu, trước khi đi vào nghiên cứu
sâu một khía cạnh nào đó của vấn đề đặt ra, chúng ta phải có nền tảng
chung, hay nói cách khác là, phải có hiểu biết nhất định về vấn đề đó.
Bởi vậy, để hiểu rõ được cái đẹp trong xã hội thơng qua Ngũ ln, những
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1
hiểu biết chung về cái đẹp là một điều hết sức cần thiết. Dưới đây sẽ là
những phần mà bài viết đề cập đến:
* Phần I: Tìm hiểu chung về cái đẹp.
* Phần II: Biện chứng cái đẹp trong xã hội thơng qua Ngũ ln.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
PHẦN I
TÌM HIỂU CHUNG VỀ CÁI ĐẸP
1. CÁI ĐẸP LÀ GÌ ?
1.1. Vị trí của cái đẹp trong quan hệ thẩm mĩ
Trong lịch sử tư tưởng mĩ học, cái đẹp là phạm trù thẩm mĩ xuất
hiện sớm nhất. Mặc dù những quan điểm cụ thể về cái đẹp có thể rất
khác nhau, thậm chí là đối lập nhau đối với những trường phái mĩ học
khác nhau, song có một điểm chung khơng thể phủ nhận là: bao giờ cái
đẹp cũng được coi là tiêu chuẩn quan trọng nhất, phổ biến nhất, là điểm
tựa trung tâm để con người đánh giá đời sống về mặt thẩm mĩ.
Với tư cách là chủ thể thẩm mĩ, con người ln đi tìm cái đẹp,
khám phá cái đẹp và cao hơn là sáng tạo ra cái đẹp. Bởi vậy, con người
cũng đánh giá các sự vật, hiện tượng xung quanh mình theo tiêu chí đẹp
hay khơng đẹp. Cứ thế, nhu cầu cái đẹp của con người là vơ tận, khát
khao vươn tới cái đẹp của con người là khơng cùng.
Nếu như đứng ở góc độ khách thể thẩm mĩ mà xét, các phạm trù
thẩm mĩ như: cái xấu, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt đều ẩn chứa trong đó
mối quan hệ với cái đẹp, dù là trực tiếp hay gián tiếp:
- Phạm trù cái xấu: là phạm trù đối nghịch với phạm trù cái đẹp.
- Phạm trù cái bi, bản chất của nó chính là sự xung đột trực diện
giữa một bộ phận ưu tú của cái đẹp với tồn bộ cái xấu. Trong qúa trình
giao tranh ấy, một bộ phận ưu tú của cái đẹp bị cái xấu tiêu diệt.
- Phạm trù cái hài, bản chất của nó là sự xung đột giữa cái đẹp với
một bộ phận của cái xấu. Một bộ phận của cái xấu tìm cách chui vào thế
giới của cái đẹp hòng lũng đoạn, khống chế cái đẹp. Chỉ khi nào cái đẹp
đủ sức phát sáng, đuổi cái xấu xa ra khỏi thế giới của mình thì cái hài
xuất hiện.
- Phạm trù cái trác tuyệt, là phạm trù liên quan trực tiếp và gần gũi
nhất với cái đẹp. Nói như Hegel, đó là “cái đẹp ở mức tuyệt đỉnh” là cái
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
đẹp mang một tầm vóc lớn lao, phi thường, là cái đẹp q mức bình
thường.
Như vậy, ở mức độ này hay mức độ káhồn cảnh thì cái đẹp đều
liên quan, chi phối đến các phạm trù khác. Nó được xem là tiêu chuẩn, là
điểm tựa để khái qt nên các phạm trù khác. Nếu khơng có cái đẹp thì
nghĩa là khơng có các phạm trù kia.
Tóm lại, dù xét từ phương diện nào, khách thể hay chủ thể, thì cái
đẹp bao giờ cũng đứng ở vị trí trung tâm trong mối quan hệ thẩm mĩ của
con người với hiện thực.
1.2. Bản chất của cái đẹp
Cái đẹp là một phạm trù hết sức phức tạp, vì thế khơng dễ gì nhận
diện được bản chất mang tính khái qt của nó.
Trước khi mĩ học Mác - Lênin ra đời, lịch sử tư tưởng mĩ học đã
từng ghi nhận ít nhất là có ba khuynh hướng quan niệm khác nhau về
bản chất của cái đẹp: khuynh hướng duy tâm khách quan, duy tâm chủ
quan và khuynh hướng duy vật. Mỗi học thuyết đều có lí riêng của mình.
- Mĩ học duy tâm khách quan (Platon, Hêgel…) khơng tìm thấy cơ
sở của cái đẹp ở trong các sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực, họ lí
giải nguồn gốc của nó trong thế giới ý niệm. Bởi vậy, cái đẹp, theo họ là
một phạm trù vĩnh cửu, bất biến.
- Mĩ học duy tâm chủ quan (Hume, Lalo, Kant…) lại có quan niệm
khác, họ tuyệt đối hố cái đẹp theo quan niệm chủ quan, tìm nguồn gốc
cái đẹp trong ý thức của chủ thể, trong cảm xúc chủ quan của cá nhân.
“Cái đẹp khơng ở trên đơi má hồng của người thiếu nữ mà ở trong con
mắt của kẻ si tình”.
- Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, mĩ học duy vật trước Mác lại tập
trung sự chú ý vào phương diện khách quan của cái đẹp. Họ cho rằng,
cái đẹp là một thuộc tính tự nhiên, vốn có của sự vật, sự vật tự nó đã đẹp
rồi, con người chẳng qua chỉ là kẻ thưởng ngoạn vẻ đẹp ấy một cách bị
động mà thơi.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
- Mĩ học Mác - Lênin đã lí giải về bản chất của cái đẹp trên một
chất lượng mới. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mĩ
học Mác xít quan niệm rằng, bản chất của cái đẹp là sự thống nhất biện
chứng giữa hai nhân tố khách quan và chủ quan.
Với cách nhìn biện chứng như vậy, mĩ học Mác - Lênin đã khắc
phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình khi nó chỉ nhìn thấy
mặt khách quan của cái đẹp; đồng thời cũng chỉ ra tính chất phiến diện
của chủ nghĩa duy tâm khi họ quan niệm rằng cái đẹp chỉ là kết quả của
cảm xúc chủ quan của con người.
1.3. Đặc điểm cơ bản của cái đẹp
a- Cái đẹp vừa mang tính lịch sử, thời sự; vừa mang tính mn
thủa, vĩnh viễn. Có những cái đẹp chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử
nhất định, nhưng cũng có cái đẹp tồn tại mãi với thời gian.
b- Cái đẹp bao gồm những phẩm chất: hài hồ, cân đối, mực thước,
chất lượng, tiến bộ. Trong bất cứ cái đẹp nào, chúng ta cũng dễ dàng
nhận thấy những phẩm chất đó.
c- Cái đẹp có hai hệ tiêu chí: đó là chân, thiện, mĩ và tính nhân
dân, tính dân tộc, tính nhân loại. Để đánh giá cái đẹp một cách chính
xác, tồn diện, chúng ta cần căn cứ trên hai hệ tiêu chí đó.
2. CÁI ĐẸP TRONG XÃ HỘI
Như chúng ta đá biết, cái đẹp biểu hiện ở trên ba lĩnh vực: cái đẹp
trong tự nhiên, cái đẹp trong nghệ thuật và cái đẹp trong xã hội. Tuy
nhiên, trong phạm vi của bài tiểu luận nhỏ này, chúng ta chỉ đi sâu vào
nghiên cứu cái đẹp trong xã hội.
Khác với cái đẹp trong tự nhiên là sản phẩm khách quan của tạo
hố, cái đẹp trong xã hội là kết quả của hoạt động thực tiễn của con
người. Cái đẹp ấy được biểu hiện qua tập qn, lễ nghi, phép ứng xử của
con người với tự nhiên, con người với xã hội trong một phạm vi hẹp vi
mơ là gia đình đến một phạm vi rộng vĩ mơ là xã hội, mà nếu quy lại,
chúng được gọi là văn hố ứng xử.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
Ta có thể định nghĩa văn hố ứng xử như sau :
“Văn hố ứng xử là lối sống, lối suy nghĩ, hành động của con
người với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội qua
những ln thường đạo lý”.
Bản chất của văn hố ứng xử là Tâm và Nhẫn : Tâm (tim) là nơi
thiêng liêng nhất, quan trọng nhất. Tâm còn có nghĩa là lương tâm, đạo
đức, tư cách, nhân ái. Theo Chu Dịch và Kinh Dịch của Chu Cơng Đán
và Chu Văn Vương (sau này được Khổng Tử phát triển thành Kinh
Dịch). Tâm có nghĩa là Đạo và Đức:
Đạo là ngũ thường, bao gồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Đạo là Ngũ ln, trong nó bao hàm các mối quan hệ giữa : vua -
tơi, thầy - trò; bố mẹ - con cái, vợ - chống và anh em, bạn bè, hàng xóm .
“Đạo” là cái lí tự nhiên của trời đất, là con đường rộng ai cũng phải theo
mà đi, tức là cái cơng lệ trung chính để làm quy tắc cho hành động của
người đời. Ai theo đạo ấy mà ăn ở là hay, là người qn tử, khơng theo
được đạo cũng là dở, là kẻ tiểu nhân”.
(Khổng Tử)
Qua Ngũ ln, ta sẽ thấy được phần nào cái đẹp trong xã hội
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
PHẦN II
BIỆN CHỨNG CÁI ĐẸP TRONG XÃ HỘI QUA NGŨ LN
1. QUAN HỆ VUA TƠI
Trong Ngũ ln, quan hệ vua tơi là mối quan hệ đầu tiên mà nó đề
cập đến. Theo tư tưởng của Nho giáo thì qn quyền phải để một người
giữ cho rõ cái mối thống nhất. Người giữ qn quyền gọi là đế hay
vương, ta thường gọi là vua. Vua phải lo việc trị nước, tức là lo sự sinh
hoạt, sự dạy dỗ và sự mở mang cho dân. Ở trong nhà thì con phải hiếu
với cha mẹ, ở tỏng nước thì thần dân phải trung với qn. Vua thay trời
trị dân. Vua muốn làm điều gì là trời muốn làm điều ấy, khơng ai được
cưỡng lại. Tuy nhiên, khổng giáo còn quan niệm trời với dân là cùng
đồng một thể, tồn dân muốn thế nào là trời muốn thế ấy. Ơng vua chỉ là
một phần trong tồn thể. Hễ ơng vua làm điều gì trái với lòng dân, tức là
trái mệnh trời. Thành thử ơng vua tuy đối với trời được thay quyền trời
nhưng đối với dân phải chịu hết cả các trách nhiệm. Mà dân thì tuy phải
chịu quyền ơng vua cai trị nhưng vẫn có quyền bắt vua phải theo điều
lành mà làm. Lòng tự nhiên của dân là muốn điều lành, ghét điều ác,
theo cái lòng ấy mà trị dân thì tất là dân u mến như cha mẹ. Nếu ơng
vua nào trị dân mà u cái ghét của dân và ghét cái mà dân u tức là
trái mệnh trời thì người khác có quyền “điếu dân phạt tội”, nghĩa là cứu
dân mà đánh người có tội.
Tư tưởng trung qn của Nho giáo đã thực sự góp phần rõ nét vào
chủ nghĩa u nước. Trong lịch sử Việt Nam đã có biết bao tấm gương
sáng lưu lại mn đời. Hẳn trong chúng ta, khơng một ai có thể qn
được sự kiện Lê Lai liều mình chết thay cho Lê Lợi trong lúc ơng và
qn đội của ơng lầm vào tình trạng:
“Khi Linh sơn lương cạn mấy tuần
Lúc khơi huyện qn khơng một lữ”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Hẳn câu trả lời của Phan Đình Phùng với Hồng Cao Khải, khiến
khơng ít người trong chúng ta phải suy nghĩ: “Nước mình mấy ngàn năm
nay đất nước chẳng rộng, qn lính khơng mạnh, tiền của chẳng giàu, cái
chỗ dựa để dựng nước là nhờ ở gốc vua tơi, cha con theo năm đạo
thường mà thơi”.
Hay như câu trả lời của Nguyễn Quang Bích trước qn Pháp: Nó
mộc mạc, chân thành tới mức ta có cảm giác ơng đang bộc bạch về nỗi
lòng mình, bộc bạch đấy nhưng hết sức cứng rắn và cương quyết: “…
Nhưng chúng tơi lại nghĩ đến vua tơi đứng trong trời đất mà khơng hề
quản cái phận hoa di đã rõ ràng như sơng Kinh, sơng Vị, khơng dám
qn phận của mình, ấy chính cũng chỉ quyết giữ trọn cái nghĩa ấy
thơi… Thà chịu tội với q quốc, quyết khơng chịu tội với nhà vua …
chúng tơi cam lòng chịu chết vì nghĩa vua tơi…”
Là một người con của đất Việt, lẽ nào bạn lại khơng cảm thấy tự
hào trước những tấm lòng đầy nghĩa khí như vậy?
Khơng chỉ có thế, thấm nhuần tư tưởng trung qn, các đế vương
Việt Nam đều coi nước là của mình, Lí Thường Kiệt viết :
“Sơng núi nước Nam vua Nam ở
Rành ranh định phận ở sách trời…”.
Lê Thánh Tơng cũng nói: “Một thước núi, một tấc sơng của ta lẽ
nào tự tiện vứt bỏ đi được… Kể nào dám đem một thước núi, một tấc đất
của vua Lê Thái Tổ để làm mồi cho giặc thì kẻ đó phải bị trừng trị
nặng”.
Hết lòng vì nước, vì dân, rất nhiều bậc đế vương đã hồn thành tốt
trách nhiệm cao cả của mình - trách nhiệm “thay trời hành đạo”. Ví như
Vua Thuấn bên Tàu, vua Pie ở nước Nga, vì muốn hiểu rõ đời sống của
thần dân, muốn biết dân có hài lòng về mình khơng đã cải trang làm dân
thường đi vi hành khắp nơi. Hay như dưới thời vua Hammurabi ở Lưỡng
Hà cổ đại, người dân nơi đây đã thực sự được sống trong cảnh thanh
bình, no ấm, lòng đầy tự hào về vị vua anh minh của mình. Cũng với
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
tinh thần như vậy, ở Việt Nam ta, hiểu rõ tầm quan trọng của dân trong
việc trị nước, suốt cả cuộc đời mình, vua Minh Mệnh đã nêu tấm gương
làm việc bền bỉ khơng biết mỏi: “Ta là vua của một nước, vẫn nghĩ sâu
sắc rằng, mình là gốc của phong hố phải làm gương cho thiên hạ”. Khi
nghe tin Bắc Kì bị tai nạn lũ lụt, Minh Mệnh đã ra chỉ dụ: “Trẫm là cha
mẹ của dân, sao nỡ vui nơi yến tiệc. Bắt đầu từ hơm nay, dâng cơm ngự
thiện phải giảm một nửa, bãi bỏ tất cả các việc ca nhạc…”.
Tuy nhiên, có lẽ cũng là việc thường tình, trong lịch sử nhân loại,
chuyện những vị vua dựa vào quyền lực của mình, hà hiếp dân lành, ăn
chơi trác táng, ham mê tửu sắc, khơng quan tâm đến triều chính cũng
khơng phải là hiếm. Chẳng hạn, ở Việt Nam ta, đó là hình ảnh của chúa
Trịnh Sâm, Lê Long Đĩnh hay bù nhìn Khải Định… và dĩ nhiên, những
vị vua ấy đã khơng thể ngồi vững trên ngai vàng của mình hẳn những
câu ca dao này đã phần nào phản ánh được quy luật tất yếu đó.
“Con vua thì lại làm vu
Con sãi ở chùa lại qt lá đa
Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra qt chùa”.
Việc vua thì đã vậy, còn long dân ? Bên cạnh những tấm gương
cương trực như chúng ta đã biết, còn có những kẻ vì lợi ích cá nhân, vì
cái lợi trước mắt đã làm những việc trái lương tâm, đạo đức của con
người. Chắc chắn những kẻ bán mình, phản bội nhân dân, đất nước sẽ
mãi bị lên án, người người căm ghét.
2. QUAN HỆ THẦY TRỊ
Đã từ lâu, những câu tục ngữ như : “Khơng thầy đố mày làm nên”,
“nhất tự vi sư, bán tự vi sư”… đã trở thành những câu cửa miệng, quen
thuộc với mọi người dân Việt Nam. Qua những câu nói ấy, vai trò to lớn
của người thầy, truyền thống “tơn sư trọng đạo” được bộc lộ rõ nét.
Trong Ngũ ln, mối quan hệ thầy trò được đặt lên trước mối quan
hệ cha mẹ với con cái bởi: cha mẹ cho ta thân xác, hình hài - cái đó được
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
gọi là tiểu ngã; còn người thầy cho ta kiến thức, vốn sống để làm người-
cái đó được gọi là đại ngã. Vì thế, đại ngã được đề cập trước tiểu ngã là
điều đương nhiên.
Người thầy cần phải có đủ đức và tài để truyền đạt kiến thức cho
học trò của mình, phải là tấm gương sáng để trò mình noi theo. Còn trò,
phải biết lòng kính trọng thầy, học hành chăm chỉ và đỗ đạt cao để
khơng phụ cơng thầy.
Trong câu chuyện “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai-ma-dốp,
hình ảnh người thầy giáo Duy xen đã tự nguyện về một vùng q nghèo,
vận động các gia đình cho con em mình đi học chữ đầy gian trn, khó
khăn hẳn đã làm khơng ít người trong chúng ta cảm phục về tấm lòng
của một người thầy. Người thầy ấyđã tự mua sách vở cho các em, đã tự
mình sửa lại đường đi để các em đi học được dễ dàng… Người thầy ấy
đã được học trò của mình hết sức u mến và kính trọng.
Ở Việt Nam ta, người thầy giáo Chu Văn An sẽ còn sống đến mn
đời. Học trò của Thầy, ai cũng đỗ đạt cao, làm quan to, song với thầy, họ
lúc nào cũng hết mực kính trọng, biết ơn. Tơi chắc tất cả chúng ta còn
nhớ như in câu chuyện về người con trai Thuỷ thần được lưu truyền rộng
rãi trong dân gian. Cảm phục trước tài đức của thầy, người con ấy đã xin
thầy theo học. Khi trần thế bị hạn hán lâu ngày, tưởng chừng như khơng
thể chịu nổi, người học trò ấy đã làm theo tâm nguyện của thầy, sẵn sàng
hi sinh tính mạng để đem lại cuộc sống bình n, no ấm cho tất cả mọi
người.
Ngày 20/11 hàng năm, nhà nước ta lấy đó làm ngày Nhà giáo Việt
Nam - ngày mà tồn xã hội hướng về những người thầy, người cơ hết
mình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.
3. QUAN HỆ CHA MẸ- CON CÁI
Nho giáo coi sơi dây thiêng liêng ràng buộc người này với người
khac sau khi ra đời là tình nghĩa người con với người mẹ. Khi bắt đầu có
tình cảm, tư duy, trẻ con phải bắt đầu học tập để giữ đạo làm con. Người
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
có hiếu trước hết phải là người biết ni cha mẹ. Ni thì phải kính, chứ
khơng kính thì khơng phải là hiếu. Khi cha mẹ còn sống, khơng bao giờ
làm điều gì để cho cha mẹ lo buồn. Bởi vậy khơng nên đi đâu xa, có đi
xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo. Khi cha mẹ có
làm điều gì trái đạo thì con phải dùng cách ơn hồ mà can ngắn. Việc giữ
cái danh tiết của cha mẹ được trong sạch là bổn phận người con hiểu đạo
hiếu. Hiếu là thước đo của đạo đức, là gốc của nhân ln, tạo nên phẩm
cách con người.
Nói về đạo làm con, ca dao Việt Nam ta phản ánh rất sinh động và
chân thực.
“Cơng cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Hay : “Đói lòng ăn bát chà là
Để cơm ni mẹ, mẹ già yếu răng”.
Hoặc: “Dẫu con đi hết cuộc đời
cũng khơng đi hết những lời mẹ ru…”
Khơng chỉ trong ca dao, trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật khác,
ví như trong các tác phẩm văn chương ở các thể loại khác, đạo làm con
cũng được bộc lộ rõ. Nàng Th Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã hi sinh tuổi thanh xn của mình để cứu cha. Hay như
trong tích chèo Trương Viên- Thị Phương, cơ con dâu Thị Phương đã
thay chống làm tròn đạo hiếu với người mẹ già. Người con dâu ấy đã
chấp nhận mọi nguy hiểm, tai ương để cứu lấy mẹ, them chí cơ còn lấy
thịt từ người mình cho mẹ ăn để mẹ khỏi chết đói. Trong cổ tích Việt
Nam, chuyện Chử Đồng Tử nhường cho cha cái khố duy nhất khi cha
mất cũng phản ánh sâu sắc lắm tấm lòng của người làm con…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Phận làm con thì đã hẳn là như vậy, phận làm cha mẹ cũng phải
biết sửa mình để ngay thẳng gia đình, lấy nghĩa lí dạy con trai, lấy nữ
cơng nữ tắc dạy con gái…
Cha mẹ còn ln dành những tình cảm thương u nhất cho những
đứa con của mình. Hình ảnh Lão Hạc ăn uống kham khổ, tiết kiệm, thu
nhặt từng đồng, từng hào danh dụm cho con hẳn khơng phải là vơ nghĩa.
Rồi như bà cụ Tứ, trước cái khổ, cái đói, với tấm lòng nhân hậu, thương
con của một người mẹ, bà vừa lo lắng cho con, vừa động viên con nhằm
mang lại niềm tin vào cuộc sống cho những đứa con của mình, và có ai
trong chúng ta lại khơng lớn lên từ tiếng à ơi, ru hời ngọt ngào, nồng ấm
của mẹ:
“Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ
Năm canh dài, mẹ thức đủ năm canh…”
… Mạch cảm hứng khơi nguồn sáng tạo từ mối quan hệ giữa cha
mẹ với con cái là vơ tận, khơng cùng; nhưng cái chính là chúng ta đã
cảm nhận được cái vẻ đẹp chân thành, đầy ý nghĩa trong cách ứng xử của
mối quan hệ đó.
4. QUAN HỆ VỢ - CHỒNG
Cái đạo vợ chồng cũng là một mối cương thường rất quan trọng
trong Ngũ ln. Ở với nhau mà biết thương u nhau, q trọng nhau thì
rất là phải đạo lắm. Tục ngữ ta có câu.
“Thuận vợ thuận chồng tát biển đơng cũng cạn”
Hay :
“Qua đình ngả nón trơng đình
Đình bao nhiêu ngói thường mình bấy nhiêu”.
Rồi :
“Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xơng hương mặc người”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Trong truyện Phạm Cơng - Cúc Hoa, đơi vợ chồng ấy dù gặp bao
trắc trở, dù kẻ âm người dương, nhưng họ vẫn ln hướng về nhau và
cuối cùng hạnh phúc thực sự đã m,ỉm cười với họ.
Chiến tranh - sự kiện ấy cũng là một thử thách khắc nghiệt trong
quan hệ vợ chồng. Tơi đã cực kì xúc động khi nghe kể về chuyện một
ngươidf vợ đằng đẵng chờ chồng trong suet hai mươi năm dù khơng một
lá thư, khơng chút tin tức (vì anh là một tình báo). Hai mươi năm sau,
anh trở về, chi ơm anh vào lòng, khơng giấu được nước mặt, chị nói :
“Cảm ơn cuộc đời, cuộc đời đã cho chị nhiều lắm!”. Một hình tượng nữa,
dù hết sức giản dị song tình cảm vợ chồng cũng được biểu hiện rất sâu
sắc - đó chính là hình tượng núi vọng phu.
Nhưng tục ta lại trọng nam khinh nữ. Người vợ trên phải phụng
dưỡng cha mẹ, có khi phải ni chống; giữa thì giúp chồng lo lắng cơng
kia việc khác, gánh vác giang sơn cho nhà chồng, dưới thì săn sóc ni
em… trong khi đó nghĩa vụ của người chồng chỉ ở cho đúng đắn, biết
u vợ, q trọng vợ. Đối với người phụ nữ, chỉ cần có một người chồng
hiểu mình, thương mình, thơng cảm cho những nỗi gian trn, vất vả của
mình đó đã là một điều vơ cùng hạnh phúc. Họ sẵn sàng làm tất cả, hi
sinh tất cả để làm tròn bổn phận của mình :
“Quanh năm bn bán ở mom sơng
Ni đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi qng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đơng”
“Thương vợ - Tú Xương).
Đó là những nét đẹp trong quan hệ vợ chồng
5. QUAN HỆ ANH EM, BẠN BÈ, HÀNG XĨM
5.1. Quan hệ anh em
Đi lion với đức hiếu là đức đễ. Đễ là mối quan hệ giữa anh chị em
trong một gia đình. Bổn phận của người anh là phải quan tâm, chăm sóc
và nhường nhịn đàn em. Ngược lại, người làm em phải hết lòng kính
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
trọng và ngoan ngỗn vâng lời anh chị của mình. Tục ngữ ta vẫn nói
“Anh em như chân với tay”, “Mơi hở răng lạnh”, “chị ngã, em nâng”,
“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”… Ca dao cũng đề cập đến mối quan
hệ này.
“Khơn ngoan đối đáp người ngồi
Gà cùng một mẹ chớ hồi đá nhau”.
Hoặc : “Anh em như chân với thay
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”…
Và những người làm anh, làm chị chắc sẽ khơng thể qn được tích
“Trầu cau” của dân tộc ta- một tích truyện đầy xúc động về tình anh em,
nghĩa vợ chồng gắn bó keo sơn, thuỷ chung mn đời; hay như câu
chuyện “Tình anh em” chẳng hạn, đức đễ đã thật sự được toả sáng. Cha
mẹ mất đi để lại cho anh em một mảnh ruộng. Hai anh em làm chung,
đến mùa thu hoạch lúa, họ chia làm hai đống đều nhau và để ở ngồi
đồng. Đêm đến, người em nghĩ : mình chỉ có một thân một mình, chẳng
phải lo lắng cho ai cả, còn anh trai mình đang có cả một gia đình phải lo,
mình sẽ khn bớt đống lúa của mình sang đống của anh, làm thế anh sẽ
khơng biết mà từ chối. Người anh thì lại nghĩ: Ta thì chẳng sao, nhưng
em ta chỉ có một thân một mình, vì thế ta sẽ nhường cho em một ít lúa
của ta. Sáng hơm sau ra đồng, cả hai anh em đều vơ cùng ngạc nhiên khi
thấy cả hai đống vẫn rất bằng nhau. Sau một vài đêm như vậy, hai anh
em quyết tìm hiểu rõ ngun nhân và họ đã gặp nhau trong cảnh mỗi
người đang ơm những bó lúa của mình sang đống của nhau… Hai anh em
họ đã ơm lấy nhau mà khóc…
5.2. Tình bạn bè
Sống ở đời ai cũng cần có bạn. Khổng Tử dạy: Bạn với người nhân
từ, trung chính thì học được nết hay, bạn với người gian tà quỷ quyệt thì
nhiếm lấy điều dở. Bởi thế cho nên ta phải chọn bạn mà chơi. Bạn hữu
chơi với nhau phải lấy điều phải trái hay dở mà khun bảo nhau, nhưng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét