Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

590 Một số giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (98tr)

Dự án nhóm A do thủ tướng chính phủ quyết định. Dự án nhóm B, C do
Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, các cơ quan trực thuộc chính
phủ, UBND cấp tỉnh (và thành phố trực thuộc TW) quyết định.
- Đối với đầu tư nước ngoài gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp cho
các địa phương.
* Phân theo hình thức thực hiện: dự án BTO, BOT, BT
Việc phân loại dự án đầu tư theo cách nào cũng mang đến tính chất
tương đói và quy ước. Một dự án đầu tư được xếp vào nhóm này hay nhóm
khác là tuỳ thuộc vào mục đích, phạm vi và yêu cầu nghiên cứu xem xét.
Một dự án đầu tư có thể được đưa vào thực hiện phải trải qua những
giai đoạn nhất định. Các giai đoạn kế tiếp nhau trong quá trình hình thành và
vận hành dự án tạo thành chu kỳ của dự án đầu tư.
4. Các giai đoạn hình thành và thực hiện dự án:
Một dự án đầu tư từ khi hình thành đến khi kết thúc thường trải qua các
giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư bao gồm các hoạt động chính sau:
+ Nghiên cứu cơ hội đầu tư, sản phẩm của bước này là báo cáo kỹ thuật
về cơ hội đầu tư.
+Nghiên cứu tiền khả thi: Lựa chọn một cách sơ bộ khả năng đầu tư
chủ yếu từ cơ hội đầu tư. Sự chọn lựa căn cứ vào các vấn đề sau:
- Phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước.
- Có thị trường tiêu thụ và khả năng cạnh tranh.
- Xem xét nguồn tài chính dự án.
- Phù hợp khả năng tài chính của chủ đầu tư.
+Nghiên cứu khả thi: Sản phẩm của bước này là báo cáo khả thi (hay
luận chứng kinh tế kỹ thuật), đây là báo cáo đầy đủ nội dung cần phải làm của
một dự án nói chung và dự án đầu tư nói riêng. theo quan điểm của người
lậpp dự án đầu tư trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng. Đây là giai
đoạn sàng lọc cuối cùng các quan điểm của người lập dự án và khẳng định
tính khả thi của dự án và tạo cơ sở cho các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư.
+ Thẩm quyền ra quyết định đầu tư:
Sau khi dự án đã được chuẩn bị kỹ càng, có thể tiến hành thẩm định
một cách độc lập, xem xét toàn bộ các mặt của dự án để đánh giá xem dự án
có thích hợp và khả thi hay không trước khi bỏ ra một chi phí lớn. Nếu qua
thẩm định cho thấy dự án mang tính khả thi cao thì có thể bắt đầu đầu tư vào
dự án.
Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện đầu tư.
Đây là giai đoạn cụ thể hoá nguồn hình thành vốn đầu tư và triển khai
thực hiện dự án đầu tư. Giai đoạn này gồm những công việc sau:
+ Khải sát, thiết kế, dự toán.
+ Đấu thầu ký hợp đồng giao thầu.
+ Thi công xây lắp công trình
+ Chạy thử và bàn giao.
Giai đoạn 3: Vận hành và khai thác.
Đây là giai đoạn đưa công trình bào hoạt động để chính thức đưa sản
phẩm ra tiêu dùng trên thị trường
Đánh giá dự án:
Đây là giai đoạn đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư và các ảnh hưởng
của nó. Các nhà phân tích sẽ xem xét lại một cách có hệ thống các yếu tố làm
nên thành công hay thất bại của dự án để áp dụng tốt hơn vào các dự án trong
tương lai. Đánh giá không chỉ được tiến hành khi dự án kết thúc, mà nó còn là
công cụ quản lý dự án khi nó đang hoạt động, có thể tiến hành đánh giá một
vài lần trong suốt chu kỳ của dự án.
Trong các giai đoạn trên thì giai đoạn 1 có ý nghĩa và vai trò cực kỳ
quan trọng, nó là cơ sở cho việc triển khai dự án ở các giai đoạn sau, quyết
định thành công hay thất bại của dự án. Trong giai đoạn này, thẩm định dự án
được xem như một yêu cầu không thể thiếu và là cơ sở để ra quyết định đầu
tư.
II. THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
1.Khái niệm thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan,
có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả
thi của một dự án đầu tư. Từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một
cách độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Thẩm định dự án đã toạ
ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Các kết luận rút ra từ
quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra
quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
2.Ý nghĩa của thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư giúp cho bảo vệ các dự án tối khỏi bị bác bỏ,
ngăn chặn những dự án tồi, góp phần đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả
vốn đầu tư. ý nghĩa cảu thẩm định dự án đầu tư được thể hiện như sau:
- Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất.
- Giúp cho các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước đánh giá được tính
phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh thổ
và của cả nước trên các mặt mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả.
- Giúp cho việc xác định được những cái lợi, cái hại của dự án trên các
mặt khi đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh có lợi và
hạn chế các mặt có hại.
- Giúp các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay hoặc tài trợ
cho dự án đầu tư.
- Qua việc thẩm định giúp cho việc xác định rõ tư cách pháp nhân của
các bên tham gia đầu tư.
3.Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ
mô của nhà nước đối với các hoạt động đầu tư. Nhà nước với chức năng công
quyền của mình sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án đầu tư. Tất cả
các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế đều phải đóng
góp vào lợi ích chung của đất nước. Bởi vì vậy, trước khi ra quyết định đầu tư
hay cho phép đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cần biết xem
dự án có đóng góp phần đạt được mục tiêu quốc gia hay không? nếu có thì
bằng cách nào và đến mức độ nào?
Việc xem xét này được gọi là thẩm định dự án.
Một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu
cũng vẫn mang tính chủ quan của người soạn thảo. Vì vậy, để đảm bảo tính
khách quan của dự án, cần thiết phải thẩm định. Người soạn thảo thường
đứng trên góc độ hẹp để nhìn nhận các vấn đề của dự án. Các nhà thẩm định
thường có cách nhìn rộng hơn trong việc đánh giá dự án. Họ xuất phát từ lợi
ích chung của toàn xã hội, của cả cộng đồng để xem xét các lợi ích kinh tế xã
hội mà dự án đem lại.
Mặt khác, khi soạn thảo dự án có thể có những sai sót, các ý kiến có thể
mâu thuẫn, không lôgic, thậm chí có thể cso những câu văn, những chữ dùng
sơ hở có thể gây ra những tranh chấp giữa các đối tác tham gia đầu tư. Thẩm
định dự án sẽ phát hiện và sửa chữa được những sai sót đó.
Như vậy, thẩm định dự án đầu tư là cần thiết, nó là một bộ phận của
công tác quản lý nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư có hiệu quả.
4.Cơ sở pháp lý về thẩm định dự án đầu tư
4.1. Hồ sơ trình duyệt
Dự án được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định khi hồ sơ của dự án
được xem là đầy đủ và đúng các thủ tục sau:
+ Đơn xin đầu tư
+ Ý kiến của cấp trực tiếp quản lý chủ đầu tư
+ Bản dự án (nghiên cứu tiền khả thi hoặc nghiên cứu khả thi), các báo
cáo chuyên đề, các bản vẽ, bản đồ.
+ Ý kiến của bộ quản lý ngành, UBND tỉnh, thành phố quản lý lãnh thổ
và các ngành có liên quan.
+ Các căn cứ có giá trị pháp lý về khả năng huy động các nguồn lực.
+ Các căn cứ có pháp lý khác.
4.2 .Cấp thẩm định và xét duyệt dự án (theo Nghị định 42CP ngày
16-7
Năm 1996 và thông tư 09 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Việc thẩm định
các dự án đầu tư được quy định như sau:
Chủ đầu tư có trách nhiệm lập nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu
khả thi để trình trực tiếp người có thẩm quyền quyết định đầu tư xét duyệt.
Nghiên cứu tiền khả thi được người có thẩm quyền quyết định đầu tư
thông qua bằng văn bản là cơ sở để tiến hành lập nghiên cứu khả thi, hoặc để
tiếp tục thăm dò, đàm phán, ký thoả thuận giữa các đối tác trước khi lập
nghiên cứu khả thi. Đối với các dự án nhóm A, Thủ tướng chính phủ xem xét
quyết định theo đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ quản lý nghành
trong thời hạn không quá 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Thẩm định nghiên cứu khả thi được quy định như sau:
Đối với các dự án nhóm A: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (viết tắt là Bộ
KH&ĐT) là cơ quan chủ trì có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của bộ, ngành,
địa phương liên quan, sử dụng các đơn vị chuyên môn của bộ, các tổ chức tư
vấn và chuyên gia tư vấn để thẩm định, lập báo cáo thẩm định trình Thủ
tướng Chính phủ. Tuỳ theo tính chất và sự cần thiết của từng dự án, Thủ
tướng chính phủ yêu cầu Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư
đựoc thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và để tư vấn cho
Thủ tướng các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với các dự án nhóm B, Bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ
trưởng bộ quản lý ngành tổ chức thẩm định để có ý kiến thống nhất về dự án
(về quy hoạch phát triển ngành và nội dung kinh tế – kỹ thuật của dự án) để
cấp có thẩm quyền quyết định. Các dự án nhóm B ( trừ các dự án ODA), C
thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan chuyên môn là Sở Kế
hoạch và Đầu tư làm đầu mối tổ chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền
quyết định đầu tư (đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước) hoặc
cấp giầy phép đầu tư (đối với dự án không sử dụng vốn nhà nước).
Đối với các bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan
chuyên môn làm đầu mối tổ chức thẩm định dự án đầu tư do ngưoiừ có thẩm
quyền quyết định đầu tư quy định.
Quy địnhvà thẩm quyền ra quyết định đầu tư, cho phép và cấp giấy
phép đầu tư.
Thẩm quyền ra quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn nhà nước:
+ Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đầu tư các dự án nhóm A.
+ Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính
phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định đầu tư
các dự án nhóm B, C.
Thẩm quyền cho phép và cấp giấy phép đầu tư cho các dự án thuộc
nhóm A sau khi được Thủ tướng chinsh phủ cho phép đầu tư.
+ Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép đầu tư cho các dự
án thuộc nhóm A sau khi được Thủ tướng chính phủ cho phép đầu tư.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho
phép đồng thời cấp giấy phép đầu tư cho các dự án thuộc nhóm B sau khi có ý
kiến của Bộ trưởng Bộ quản lý ngành.
+ Sở Kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép đầu tư cho các dự án thuộc
nhóm C sau khi được chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương cho phép đầu tư.
5. Phương pháp thẩm định
Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương
pháp thẩm định khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và
các nguồn thông tin đáng tin cậy. Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo
nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng nội dung của dự án cần xem
xét. Những phương pháp thường được sử dụng đó là phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích độ nhạy của dự án, phương pháp thẩm định theo trình
tự.
5.1. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật
chủ yếu của dự án được so sánh với các dự án đã và đang xây dựng hoặc đang
hoạt động. Sử dụng phương pháp này giúp cho việc đánh giá tính hợp lý và
chính xác các chỉ tiêu của dự án. Từ đó có thể rút ra các kết luận đúng đắn về
dự án để đưa ra quyết định đầu tư được chính xác. Phương pháp so sánh được
tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn cề cấp công trình do Nhà
nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được -
Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ
quốc gia, quốc tế.
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi.
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư.
- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân
công, tiền lương, chi phí quản lý của ngành theo các chỉ tiêu kế hoạch và
thực tế.
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư (ở mức trung bình tiên tiến).
- Các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp theo thông lệ phù hợp với hướng
dẫn, chỉ đạo của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
- Các chỉ tiêu trong trường hợp có dự án và chưa có dự án.
Trong việc sử dụng phương pháp so sánh cần lưu ý, các chỉ tiêu dùng
để tiến hành so sánh phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm
cụ thể của dự án và doanh nghiệp, tránh khuynh hướng so sánh máy móc
cứng nhắc.
5.2. Phương pháp thẩm định theo trình tự
Việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự biện chứng từ
tổng quát đến chi tiết, từ kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau.
5.2.1. Thẩm định tổng quát:
Là việc xem xét tổng quát các nội dung cần thẩm định của dự án, qua
đó phát hiện các vấn đề hợp lý hay chưa hợp lý cần phải đi sâu xem xét.
Thẩm định dự án tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy
mô, tầm quan trọng của dự án. Vì xem xét tổng quát các nội dung của dự án,
do đó ở giai doạn này khó phát hiện được các vấn đề cần phải bác bỏ, hoặc
các sai sót cảu dự án cần bổ xung hoặc sửa đổi. Chỉ khi tiến hành thẩm định
chi tiết, những vấn đề sai sót của dự án mới được phát hiện.
5.2.2. Thẩm định chi tiết:
Được tiến hành sau thẩm định tổng quát. Việc thẩm định này được tiến
hành với từng nội dung của dự án từ việc thẩm định các điều kiện pháp lý đến
phân tích hiệu quả tài chính và kinh tế – xã hội của dự án. Mỗi nội dung xem
xét đều đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý hay cần phải sửa đổi thêm hoặc
không thể chấp nhận được. Tuy nhiên mức độ tập trung cho những nội dung
cơ bản có thể khác nhau tuỳ theo đặc điểm và tình hình cụ thể của dự án.
Trong bước thẩm định chi tiết, kết luận rút ra nội dung trước có thể là
điều kiện để tiếp tục nghiên cứu. Nếu một số nội dung cơ bản của dự án bị
bác bỏ thì có thể bác bỏ dự án mà không cần đi vào thẩm địng toàn bộ các chỉ
tiêu tiếp sau. Chẳng hạn, thẩm định mục tiêu của dự án không hợp lý, nội
dung phân tích kỹ thuật và tài chính không khả thi thì dự án sẽ không thể thực
hiện được.
5.3. Phương pháp thẩm định dự án dựa trên việc phân tích độ nhạy
cảm của dự án.
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả
tài chính của dự án.
Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có
thể xảy ra trong tương lai đối với dự án, như vượt chi phí đầu tư, sản lượng
đạt thấp, giá các chi phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay
đổi về chính sách thuế theo hướng bất lợi Khảo sát tác động của những yếu
tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc thường được chọn từ
10% đến 20% và nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu
đến hiệu quả của dự án để xem xét. Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả
trong trường hợp có nhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án
vững chắc có độ an toàn cao. Trong trường hợp ngược lại, cần phải xem lại
khả năng phát sinh bất trắc để đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để
khắc phục hay hạn chế.
Nói chung biện pháp này nên được áp dụng đối với các dự án có hiệu
quả cao hơn mức bình thường nhưng có nhiều yếu tố thay đổi do khách quan.
6.Thẩm định tài chính dự án
6.1. Nội dung thẩm định tài chính dự án có xây dựng thuộc vốn nhà
nước
- Thẩm tra việc tính toán xác định tổng vốn đầu tư và tiến độ bỏ vốn.
+ Vốn đầu tư xây lắp: nội dung kiểm tra tập trung vào việc xác định
nhu cầu xây dựng hợp lý của dự án và mức độ hợp lý của đơn già xây lắp
tổng hợp được áp dụng so với kinh nghiệm đúc kết từ các dự án hoặc loại
công tác xây lắp tương tự.
+ Vốn đầu tư thiết bị: Căn cứ vào danh mục thiết bị kiểm tra giá mua
và chi phí vận chuyển, bảo quản theo quy định của nhà nước về giá thiết bị,
chi phí vận chuyển bảo quản cần thiết. Đối với loại thiết bị có kèm theo
chuyển giao công nghệ mới thì vốn đầu tư thiết bị còn bao gồm cả chi phí
chuyển giao công nghệ.
+ Chi phí khác: các khoản mục chi phí này cần được tính toán, kiểm tra
theo quy định hiện hành của nhà nước. Đó là các khoản chi phí được phân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét