Tuy chỉ mới xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng lĩnh vực thẻ thanh
toán đang có những bước đột phá trong sự tăng trưởng đáng kể với lượng thẻ
phát hành lên đến 2,1 triệu thẻ. Các sản phẩm thẻ ngày càng đa dạng và phong
phú hơn làm tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng. Ví dụ như thẻ tín dụng với
tính năng hấp dẫn là: chi tiêu trước, trả tiền sau; thẻ ghi nợ để rút tiền mặt, thanh
toán tiền hàng hóa dịch vụ, hay chuyển tiền.
Thực tế là người dân đang từng bước quen dần với hình thức thanh toán
thẻ. Điều này dẫn đến sự hợp tác giữa các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực
thẻ bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt của họ trên thị trường. Tuy nhiên, do những
điều kiện khách quan nên vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc trong hoạt
động thẻ của ngân hàng trong thời gian qua do đó cần tăng cường quan hệ với
các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân hàng phát hành thẻ thanh toán để trao đổi
kinh nghiệm và phối hợp nhằm phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam.
Tài liệu 3: Tạp chí ngân hàng số 13 (tháng 07 năm 2006) có bài viết
“Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam” với nội dung: Trong lúc ở những
nước phát triển việc thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đã trở nên phổ
biến và thông dụng với những tiện ích rất lớn thì ở Việt Nam việc TTKDTM vẫn
còn triển khai và ứng dụng rất chậm. Dù đã nhận thấy được những thuận lợi mà
việc TTKDTM mang lại nhưng việc áp dụng vào Việt Nam hầu như vẫn còn là
một vấn đề quá khó. Nguyên nhân chính là ở chỗ chúng ta chưa có một hệ thống
tài chính ngân hàng hiện đại, hoạt động dựa trên các nguyên tắc thị trường theo
đúng nghĩa. Sự đóng cửa nền kinh tế cũng gây ra không ít những khó khăn trong
sự khởi đầu. Một số nguyên nhân khác như thu nhập của người dân không cao,
các thiết bị máy móc thì lạc hậu, trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng còn
yếu… Do đó cần nhìn nhận lại vấn đề và có những giải pháp thích hợp nhằm
thúc đẩy TTKDTM ở Việt Nam. Có thể nêu một số giải pháp như sau:
- Làm cho người dân thấy được tiện ích của TTKDTM.
- Khắc phục sự giới hạn cơ hội và sự không minh bạch liên qua đến
TTKDTM ở Việt Nam.
- Cần có những chế tài để đảm bảo tính kiện toàn của hệ thống TTKDTM
ở Việt Nam.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN.
2.1.1. Mô tả và phân loại thẻ thanh toán.
2.1.1.1. Mô tả.
a. Khái niệm thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài
chính được phát hành bởi ngân hàng, các định chế tài chính hay các công ty được
dùng làm phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không dùng tiền mặt
hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy rút
tiền tự động [3, tr.12].
b. Ý nghĩa của việc phát hành và sử dụng thẻ thanh toán:
Thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa kinh tế rất lớn thể hiện trên
các khía cạnh sau:
- Về phía ngân hàng:
+ Nâng cao vị thế của ngân hàng, quảng bá thương hiệu… Ngoài ra ngân
hàng còn thu được một khoản phí để nâng cao lợi nhuận.
+ Tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút vốn nhàn rỗi với chi phí thấp.
+ Tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển an toàn.
- Về mặt xã hội:
+ Tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt cho dân cư, giảm thấp tỷ
trọng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông, vận
chuyển, giúp Nhà nước điều tiết tốt các chính sách tiền tệ.
+ Giảm bớt hiện tượng “rửa tiền” nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ.
+ Thúc đẩy nhanh quá trình vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh
tế quốc dân, dẫn đến giảm chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa, tăng lợi nhuận
cho quá trình sản xuất.
+ Áp dụng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện cho quá trình hội nhập kinh
tế thế giới [2, tr.24,25].
c. Mô tả về mặt kỹ thuật.
Mặt trước của thẻ:
- Các huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ, tên thẻ.
- Biểu tượng của thẻ: đây là những biểu tượng rất khó giả mạo do vậy nó
được xem như yếu tố an ninh chống giả mạo.
- Số thẻ: là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ được dập nổi lên trên thẻ.
- Ngày hiệu lực của thẻ (valid date): là thời hạn mà thẻ được lưu hành.
- Họ và tên của chủ thẻ: in bằng chữ nổi.
Mặt sau của thẻ:
- Dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin.
- Băng chữ ký [3, tr.13-16].
2.1.1.2. Phân loại.
a. Theo công nghệ sản xuất:
- Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): trên bề mặt thẻ được khắc nổi các
thông tin cần thiết. Hiện nay nó không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất
quá thô sơ dễ bị lợi dụng làm giả.
- Thẻ băng từ (Magnetic stripe): thẻ này được sử dụng phổ biến trong
vòng 20 năm nay nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm:
+ Khả năng bị lợi dụng cao, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị
đọc gắn với máy vi tính.
+ Thẻ từ chỉ mang thông tin cố định.
- Thẻ thông minh (Smart Card): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán dựa
trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một “chip” điện tử giống như một
máy tính hoàn hảo.
b. Theo chủ thể phát hành:
- Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ ngân hàng phát
hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng,
hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
- Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: đó là thẻ du lịch và giải trí
của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành.
c. Theo tính chất thanh toán:
- Thẻ tín dụng (Credit Card): chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín
dụng không phải trả lãi nếu chủ thẻ trả hết số tiền nợ vào cuối tháng cho ngân
hàng, còn nếu chủ thẻ không thanh toán được hết nợ thì phải trả số tiền còn nợ
theo một mức lãi suất định trước.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay
lập tức vào tài khoản của chủ thẻ. Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt
tại các máy rút tiền tự động (ATM).
- Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): được dùng để rút tiền mặt tại các máy
ATM hoặc ở ngân hàng.
d. Theo phạm vi lãnh thổ:
- Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc
gia. Loại thẻ này có nhược điểm là ngân hàng phải thu hút một số lượng khá lớn
những đơn vị chấp nhận thẻ và người sử dụng thẻ.
- Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng các loại
ngoại tệ mạnh để thanh toán [3, tr17-22].
2.1.2. Qui trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ.
2.1.2.1. Một số khái niệm cơ bản.
a. Cơ sở chấp nhận thẻ hay đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) (Merchant): là
đơn vị bán hàng hóa và dịch vụ có kí kết với ngân hàng thanh toán về việc chấp
nhận thanh toán thẻ như: cửa hàng, nhà hàng, khách sạn
b. Ngân hàng đại lý hay ngân hàng thanh toán (Acquirer): là ngân hàng
trực tiếp kí hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng từ giao dịch do
cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình.
c. Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer): là thành viên chính thức của các tổ
chức thẻ quốc tế, là ngân hàng chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý
và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản, đồng thời thực hiện việc thanh toán
cuối cùng với chủ thẻ.
d. Chủ thẻ (Cardholder): là người có tên ghi trên thẻ dùng thẻ để chi trả,
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ thay tiền mặt. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử
dụng thẻ của mình, một chủ thẻ có thể sở hữu một hoặc nhiều thẻ.
e. Danh sách Bulletin: Danh sách Bullentin hay còn gọi là danh sách báo
động khẩn cấp, là danh sách liệt kê những số thẻ không được thanh toán. Đó là
những thẻ tiêu dùng quá hạn mức, thẻ giả mạo đang lưu hành, thẻ bị lộ số PIN,
thẻ bị mất cấp, thất lạc, thẻ bị loại bỏ…
f. Thương vụ: Thương vụ được hiểu là vụ thanh toán tiền hàng hóa, dịch
vụ, trả nợ bằng thẻ hoặc các dịch vụ rút tiền mặt tại quầy hoặc qua máy ATM do
chủ thẻ thực hiện.
g. Hạn mức tín dụng (Credit limit): hạn mức tín dụng là tổng số tín dụng
tối đa mà ngân hàng phát hành cấp cho chủ thẻ sử dụng đối với từng loại thẻ.
h. Tài khoản thẻ (Card account): là tài khoản được mở riêng cho việc sử
dụng và thanh toán thẻ của chủ thẻ.
i. Số PIN (Personnal Identificate Number): là mã số cá nhân của riêng chủ
thẻ [3, tr.33-36].
2.1.2.2. Các bên có liên quan.
a. Ngân hàng phát hành.
Ngân hàng phát hành có trách nhiệm:
- Xem xét việc phát hành thẻ cho chủ thẻ, hướng dẫn chủ thẻ cách sử dụng
và các qui định cần thiết khi sử dụng thẻ.
- Thanh toán ngay số tiền trên hóa đơn do ngân hàng đại lý chuyển đến.
- Cấp phép cho các thương vụ thanh toán vượt hạn mức thông qua trung
tâm dữ liệu.
- Khấu trừ trực tiếp vào tài khoản chủ thẻ đối với thẻ ghi nợ.
- Từng định kì lập bảng sao kê ghi rõ các khoản đã sử dụng.
b. Chủ thẻ.
Chủ thẻ có trách nhiệm:
- Bảo quản thẻ không để kẻ khác lấy cắp số hoặc lợi dụng.
- Sử dụng thẻ đúng mục đích quy định.
- Không giao thẻ và mật mã thẻ cho người khác.
- Hoàn trả các khoản đã sử dụng và lãi cho ngân hàng phát hành nếu là thẻ
tín dụng.
- Khi mất thẻ phải báo ngay cho ngân hàng phát hành thẻ.
c. Ngân hàng thanh toán (Ngân hàng đại lý).
Ngân hàng đại lý có trách nhiệm:
- Trả tiền vào tài khoản của cơ sở tiếp nhận thẻ trong vòng 1 ngày làm
việc kể từ khi nhận được biên lai thanh toán và thanh toán với trung tâm phát
hành thẻ nơi ngân hàng làm đại lý.
- Cung cấp máy móc thiết bị, hóa đơn thanh toán và các bảng kê hóa đơn;
các tài liệu hướng dẫn cách tiếp nhận thẻ, kiểm tra thẻ, các thông báo mới của
ngân hàng phát hành… cho cơ sở tiếp nhận.
d. Cơ sở chấp nhận thẻ.
Cơ sở chấp nhận thẻ có trách nhiệm:
- Chỉ chấp nhận thanh toán các thẻ đóng mẫu do ngân hàng thanh toán và
ngân hàng phát hành hay Hiệp hội thẻ qui định.
- Chỉ thanh toán các thẻ đã kiểm tra đúng mật mã, và qui định về kỹ thuật
an toàn của ngân hàng đại lý và ngân hàng đại lý và ngân hàng phát hành.
- Nộp biên lai thanh toán vào ngân hàng đại lý để đòi tiền.
- Thường xuyên trưng bày các biểu tượng của thẻ mà cơ sở chấp nhận
thanh toán [3, tr.36-39].
2.1.2.3. Các thiết bị có liên quan.
Thanh toán bằng thẻ là một hình thức thanh toán hiện đại, sử dụng chủ
yếu bằng máy móc. Các máy móc này đòi hỏi phải thiết kế với kỹ thuật tinh vi
mới thực sự đảm bảo an toàn nhưng đồng thời cũng phải đơn giản và nhanh gọn.
Các thiết bị hỗ trợ có rất nhiều nhưng hiện nay chủ yếu có các loại sau:
a. Máy chà hóa đơn (Imprinter): máy chà hóa đơn là thiết bị dùng để in lại
những thông tin cần thiết trên thẻ lên hóa đơn như: số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu
lực của thẻ… từ đó hóa đơn được xem như bằng chứng về việc tiêu dùng của chủ
thẻ. Máy được cấu tạo gọn nhẹ, đơn giản, kích thước khoảng 30cm x 20cm x 40cm.
b. Máy cấp phép tự động (Veriphone, point of sale terminal – P.O.S
terminal): Máy cấp phép tự động được trang bị cho các cơ sở tiếp nhận thẻ để
trực tiếp xin cấp phép từ các trung tâm cấp phép của các loại thẻ khác nhau trên
thế giới. Nó giúp cho các thương vụ được thực hiện trong suốt 24 giờ ngay cả khi
ngân hàng đóng cửa.
Máy có bộ phận đọc giải băng từ trên thẻ giúp việc kiểm tra tính chất thật
giả trên thẻ. Trên máy có màn hình nhỏ hiển thị các thông tin vừa đọc và có bàn
phím để nhập số tiền xin cấp phép.
c. Máy rút tiền tự động ATM.
ATM là thành quả của ngân hàng được ứng dụng vào cuối thập niên 60 và
rất được khách hàng tán thành. Trước đây, khi muốn rút tiền người ta phải đến
ngân hàng trước giờ đóng cửa nhưng hiện nay không nhất thiết phải như vậy vì
máy ATM làm việc suốt 24 giờ trong ngày và được lắp đặt ở nhiều nơi công
cộng. Thông qua máy ATM, khách hàng có thể rút tiền mặt, chi trả các khoản
vay, kiểm tra số dư tài khoản của mình tại ngân hàng.
Máy ATM có một số bộ phận cơ bản: màn hình, bàn phím để nhập số PIN
và số tiền cần rút, khe để đút thẻ vào máy và khe để nhận tiền do máy đưa ra.
d. Các thiết bị có liên quan khác.
- Hệ thống vi tính: hệ thống vi tính hỗ trợ cho các nhân viên trong việc
quản lý và thực hiện công tác thanh toán thẻ. Máy vi tính còn hỗ trợ cho các nhân
viên ngân hàng quản lý các cơ sở chấp nhận thẻ, làm công tác thống kê, xử lý và
lập chứng từ một cách nhanh chóng trong công tác kế toán.
- Máy telex, điện thoại, fax…: hầu hết các ngân hàng là thành viên của tổ
chức thẻ đều phải liên hệ với nhau bằng telex. Telex là một hình thức chuyển
thông tin, liên lạc bằng điện thoại, giúp cho việc xin cấp phép được thực hiện
nhanh chóng, thường chỉ tốn vài giây. Nếu không có máy telex thì có thể liên lạc
bằng điện thoại nhưng như thế sẽ tốn thời gian và chi phí cấp phép cao [3, tr.43].
2.1.2.4. Qui trình phát hành và sử dụng thẻ thanh toán tổng quát:
Ngân hàng
phát hành
Khách hàng
Trung tâm
thẻ
Máy rút tiền
tự động
(1)
(4)
(2)
(3a)
(3b)
(5)
Hình 1: QUI TRÌNH PHÁT HÀNH VÀ SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN
(1) Khách hàng gửi hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ ATM đến ngân hàng.
(2) Ngân hàng phát hành tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, kiểm tra, xét
duyệt, tạo hồ sơ khách hàng và gửi yêu cầu phát hành đến trung tâm thẻ.
(3a) Trung tâm phát hành thẻ nhận hồ sơ phát hành thẻ từ ngân hàng phát
hành, tiến hành kiểm tra đối chiếu thông tin và in thẻ. Sau đó, trung tâm thẻ gửi
thẻ và số PIN cho ngân hàng phát hành.
(3b) Trung tâm thẻ có thể giao thẻ trực tiếp cho khách hàng theo yêu cầu
của ngân hàng phát hành.
(4) Ngân hàng phát hành nhận thẻ và số PIN từ trung tâm thẻ và giao thẻ
cho khách hàng.
(5) Khách hàng đến máy rút tiền tự động để thực hiện giao dịch .
2.2.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.2.1. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu.
Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế trọng điểm của vùng Đồng bằng
Sông Cửu Long – nơi có nhiều công ty, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước
đang hoạt động. Đồng thời, Vietcombank Cần Thơ là chi nhánh lớn của
Vietcombank cũng có trụ sở tại Thành phố Cần Thơ. Cho nên, đây là nơi thường
xuyên có khách hàng sử dụng thẻ đến giao dịch do đó rất thuận lợi cho việc thu
thập ý kiến đóng góp của khách hàng đang sử dụng thẻ mang thương hiệu
Vietcombank. Vì vậy, đề tài chọn thành phố Cần Thơ là vùng nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu.
2.2.2.1. Số liệu sơ cấp: được lấy thông qua phỏng vấn trực tiếp khách hàng
sử dụng thẻ thanh toán Connect 24 tại Ngân hàng Ngoại thương Cần Thơ nhằm
tìm hiểu mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ thẻ, các khó khăn gặp
phải khi sử dụng và một số đề xuất từ phía khách hàng.
Số lượng khách hàng cho ý kiến: 67 bảng câu hỏi. Trong đó:
- Tại Hội sở chính: 27 bảng.
- Tại Siêu thị Coop – Mart: 19 bảng.
- Tại trường Đại học Cần Thơ: 21 bảng.
2.2.2.2. Số liệu thứ cấp:
- Thu thập từ tài liệu và số liệu trên các báo cáo tại Ngân hàng trong giai
đoạn (2004-2006).
- Tham khảo số liệu từ các tài liệu, tạp chí và các qui chế, thông tư, văn
bản hướng dẫn thực hiện việc phát hành và thanh toán thẻ của Ngân hàng Ngoại
thương Cần Thơ.
2.3.
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU.
- Thống kê mô tả và phân tích số liệu dựa trên mẫu phỏng vấn: Thống kê
mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng
dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số
liệu và thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn.
- Phương pháp so sánh tuyệt đối và tương đối.
So sánh bằng số tuyệt đối: Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối
lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế.
So sánh bằng số tương đối: Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu,
mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.
- Dùng đồ thị minh họa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét