Lª L ¬ng D ¬ng – K53
Sơ đồ cấu trúc quá trình dạy học
Hợp tác
Giúp đỡ
Cấu trúc của hệ thống quản lý quá trình dạy học (QLQTDH)
5
QUÁ TRÌNH
DẠY
HOẠT ĐỘNG DẠY
Tổ chức
Điều khiển
KẾT QUẢ HỌC TẬP
HOẠT ĐỘNG HỌC
Tự tổ chức
Tự điều khiển
Phương pháp học
Mối lên hệ ngoài thị trường –
Giáo dục – Đời sống xã hội
Đánh
giá sản
phẩm
dạy học
Kết
quả,
hiệu
quả
Mục
tiêu dạy
học
Kế
hoạch
dạy học
TỔ CHỨC QLQTDH
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Phương
pháp dạy
Hình thức dạy học
Bài học
Nội
dung
dạy
học
Điều
kiện
dạy
học
Kiểm
tra
K1
K2
…
Kn
Phương pháp học
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
1.1.3. Đặc điểm của quản lý quá trình dạy học.
- Mang tính chất quản lý hành chính sư phạm.
+/. Tính hành chính: Quản lý theo pháp luật và những nội qui, qui chế,
qui định có tính chất bắt buộc trong hoạt động dạy học.
+/. Tính sư phạm: Chịu sự qui định của các qui luật của quá trình dạy học,
giáo dục diễn ra trong môi trường sư phạm lấy hoạt động và quan hệ
Dạy - Học của thầy và trò làm đối tượng quản lý.
- Mang tính đặc trưng của khoa học quản lý.
+/. Nó vận dụng một cách có hiệu quả các chức năng của chu trình quản
lý trong việc điều khiển quá trình dạy học đó là:
+/. Có khả năng sử dụng sáng tạo các nguyên tắc và phương pháp quản lý
trong quản lý quá trình dạy học.
- Có tính xã hội hoá cao.
+/. Chịu sự chi phối trực tiếp của các điều kiện kinh tế xã hội.
+/. Có mối quan hệ tương tác thường xuyên với đời sống xã hội.
- Hiệu quả quản lý quá trình dạy học được tích hợp trong quá trình đào tạo.
Kết quả đó được thể hiện qua các chỉ số:
+/. Số lượng học sinh đạt được mục đích học tập.
+/. Chất lượng dạy học.
+/. Hiệu quả dạy học (Hiệu quả trong và hiệu quả ngoài).
1.2. Cơ sở thực tiễn của quản lý quá trình dạy học trong trường THPT.
Quản lý quá trình dạy học trong trường THPT cần phải dựa trên cơ sở
thực tiễn. Một mặt để khai thác những nhân tố tích cực, tiến bộ của nó nhằm
góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục. Mặt khác điều chỉnh hoặc
6
Lập kế
hoạch
Tổ
chức
Chỉ
đạo
Kiểm
tra
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
loại bỏ các yếu tố tiêu cực có ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình dạy
học. Những cơ sở thực tiễn nổi bật cần quan tâm đó là:
- Thực trạng thực hiện kế hoạch dạy học ở trường THPT: Các trường
THPT đã có nhiều cố gắng thực hiện kế hoạch dạy học với phân phối
chương trình qui định nhưng thực tiễn vẫn còn lúng túng chưa đảm bảo
thực hiện đủ như phân phối chương trình yêu cầu. Việc tổ chức dạy học
phân hoá bằng kết hợp phân ban với dạy tự chọn còn nhiều bỡ ngỡ, việc
chỉ đạo dạy học tự chọn có nhiều khó khăn, chưa đạt hiệu quả. Đặc biệt
các bộ môn khoa học tự nhiên chưa đảm bảo thực hiện đủ các bài thí
nghiệm thực hành qui định trong chương trình.
- Thực trạng về đội ngũ giáo viên THPT: Tính đến năm học 2006-2007 đội
ngũ giáo viên chưa đạt chuẩn ở môn Tin còn cao ( 27% Giáo viên Tin
chưa đạt chuẩn); Tỷ lệ giáo viên/lớp so với định mức thiếu về số lượng
(1,87); Cơ cấu giáo viên không đồng bộ, môn thì thừa giáo viên, môn thì
lại thiếu giáo viên và phân bổ ở các địa phương không đều; Công tác bồi
dưỡng giáo viên còn nhiều bất cập, tỷ lệ giáo viên THPT tham gia bồi
dưỡng dạy lớp 10 đạt 100% nhưng hiệu quả còn hạn chế, nội dung tập
huấn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của giáo viên, ở những vùng khó khăn
khó đảm bảo yêu cầu giảng dạy.
- Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học: Chỉ đạo đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo, tăng cường năng
lực tự học của học sinh được các trường THPT quan tâm nhưng tỷ lệ giáo
viên chủ động vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy học trong thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học còn thấp. Vai trò quản lý còn hạn chế,
đặc biệt chỉ đạo đổi mới phương pháp chưa đồng bộ với đổi mới hình
thức dạy học và kiểm tra đánh giá.
7
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
- Thực trạng về cơ sở vật chất - thiết bị dạy học: Mặc dù có sự quan tâm
nhưng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường THPT vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu. Thiết bị dạy học về quá chậm, các phòng máy vi tính,
phòng thí nghiệm, thực hành, thư viên trường học,… còn thiếu nên đã ảnh
hưởng rất lớn tới chất lượng dạy học.
1.3. Cơ sở pháp lí về quản lý quá trình dạy học trong trường THPT.
- Luật giáo dục 2005.
- Điều lệ trường trung học ban hành theo quyết định số 23/2000/QĐ-
BGD&ĐT, ngày 11/7/2000.
- Chương trình giáo dục phổ thông ban hành theo quyết định số
16/2006/QĐ-BGD-ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT.
- Hướng dẫn nhiệm vụ GDTrH năm học 2007-2008 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
- Phân phối chương trình kế hoạch giáo dục của Bộ GD&ĐT.
- Sách giáo khoa và hướng dẫn giảng dạy của môn học.
- Hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc trung học số 10227/THPT
ngày 14/9/2001.
2. Thực trạng về quản lý quá trình dạy học trong trường THPT.
2.1. Đặc điểm.
Trường THPT Chu Văn Thịnh – Mai Sơn – Sơn La nằm trên địa bàn xã
Chiềng Ban của huyện Mai Sơn, cách trung tâm thị trấn Hát Lót 26Km và
cách trung tâm thị xã Sơn La 18Km.
Nhà trường được thành lập năm 2000 đến nay đã được 07 năm nhưng vẫn
còn nhiều khó khăn. Nhà trường được thành lập để phụ vụ nhu cầu học tập
của con em 12 xã vùng trong của huyện Mai Sơn. Đây là vùng kinh tế rất
khó khăn, đại đa số người dân nơi đây sống bằng nghề nông nghiệp, trình độ
dân trí thấp.
8
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
Học sinh của nhà trường đại đa số là người dân tộc (dân tộc Thái 90,03%,
dân tộc H’Mông 5,1%, dân tộc Kinh chỉ chiếm 4,5%, còn lại là các dân tộc
khác). Khoảng 1/3 số học sinh của nhà trường có nhà ở cách xa trường nên
phải ở nội trú tại trường (Phòng ở của các em được dựng tạm với các vật liệu
tranh tre, nứa, lá do sự đóng góp của nhân dân trong địa bàn). Việc quản lý,
hướng dẫn các em ăn, nghỉ, vệ sinh,… đều do giáo viên của nhà trường đảm
nhận nhưng nhà trường và các giáo viên này không hề được hưởng một chế
độ nào cả mà chỉ thực hiện công việc với lòng thương yêu học sinh và chia
sẻ, thông cảm với các em.
Đội ngũ giáo viên của nhà trường rất trẻ, đều là các giáo viên mới ra
trường được phân công về công tác. Đội ngũ Ban giám hiệu cũng rất trẻ, có
người chưa từng qua công tác quản lý trong trường học.
Nhà trường lại được xây dựng trên một vùng đất có rất ít dân sinh
sống mà đa số giáo viên nhà ở xa và ở miền xuôi lên công tác vì vậy giáo
viên phải ở tạm trong các căn phòng tranh tre được dựng tạm lên bằng sự
đóng góp của nhân dân. Điều kiện sinh hoạt cá nhân của giáo viên và học
sinh hết sức khó khăn (đặc biệt là vấn đề nước sinh hoạt rất thiếu thốn - phải
đi hơn một cây số mới lấy được nước).
Năm đầu thành lập, nhà trường có 05 lớp với 250 học sinh nhưng cho
tới nay, nhà trường đã có 29 lớp với 1450 học sinh. Quá trình phát triển của
nhà trường vẫn thường được ví là phát triển như Phù Đổng. Quá trình phát
triển về số lượng lớp thì nhanh nhưng nhà trường lại không được đầu tư kịp
thời về cơ sở vật chất. Nhà trường luôn thiếu phòng học và phải học hai ca
Sáng - Chiều. Hàng năm, nhà trường đều phải vận động các xã đóng góp
nguyên vật liệu để dựng thêm phòng học tạm và phòng ở nội trú cho học
sinh. Do các phòng học tạm làm bằng tranh tre, trát đất nên ảnh hưởng rất
9
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
nhiều đến việc dạy và học. Hiện nay, nhà trường có 21 phòng học thì chỉ có
09 phòng học là phòng kiên cố còn lại 12 phòng học là phòng học tạm.
2.2. Một số kết quả đạt được về quản lý quá trình dạy học trong trường
THPT Chu Văn Thịnh – Mai Sơn – Sơn La.
2.2.1. Ba năm đầu khi nhà trường mới thành lập (từ năm học 2000-2001
đến 2002-2003).
Với mục tiêu giữ trường, giữ lớp nhà trường tập trung vào việc vận động
học sinh đi học và huy động các nguồn lực trong dân để tiến hành dựng
phòng học tạm và phòng ở nội trú cho học sinh bằng tranh tre trát đất.
Giáo viên ban ngày lên lớp còn buổi tối làm bảo vệ cho học sinh nội trú
(Vì địa bàn phức tạp, thanh niên hay vào gây rối trong khu nội trú mà trường
thì cách xa trung tâm huyện) vì vậy công tác chuyên môn của nhà trường
chưa được quan tâm đúng mức.
Việc đánh giá học sinh mang nặng tính động viên khích lệ.
Việc thực hiện nền nếp chuyên môn phần lớn dựa vào sự nhiệt huyết của
đội ngũ giáo viên trẻ và tính tự giác của mọi người. Quy chế chuyên môn
chưa được xiết chặt.
Việc quản lý, điều hành quá trình dạy học phần lớn được thực hiện thông
qua các cuộc họp.
Công tác giáo dục học sinh chú trọng vào việc giáo dục đạo đức và phát
triển nhà trường thông qua các phong trào bề nổi như Văn nghệ, thể dục thể
thao.
Qua ba năm thành lập thì nhà trường đã thực hiện được mục tiêu ban đầu
là làm cho quy mô nhà trường phát triển một cách vượt bậc. Từ 5 lớp với 250
học sinh năm thứ nhất thành 21 lớp với 1050 học sinh ở năm thứ ba. Nhà
trường được toàn Tỉnh biết đến thông qua thành tích phát triển trường lớp về
số lượng và thành tích Thể thao.
10
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
2.2.2. Giai đoạn phát triển tiếp theo cho đến nay.
Nhà trường đặt ra mục tiêu phát triển tiếp theo là vừa làm tốt công tác xã
hội hoá (vận động đóng góp để tiếp tục làm phòng học tạm và nhà ở nội trú
cho học sinh), vừa dần đưa nền nếp dạy và học vào khuôn khổ.
Các tiêu trí thi đua, đánh giá giáo viên được xây dựng và chỉnh sửa, bổ
sung qua từng năm học.
Các buổi ngoại khoá chuyên môn thường xuyên được tổ chức.
Hội thi giáo viên giỏi cấp trường thu hút được đông đảo giáo viên tham
gia. Công tác ôn luyện học sinh tham gia thi học sinh giỏi cấp tỉnh và thi
Ôlimpic cấp tỉnh cũng được chú trọng. Nhà trường đã có học sinh đạt giải
trong các kỳ thi Ôlimpic cấp tỉnh ở các bộ môn Sinh, Địa, Sử; Có học sinh
đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi tỉnh vòng 1 ở bộ môn Văn.
Việc kiểm tra thực hiện nội dung chương trình được xiết chặt thông qua
việc kiểm tra hồ sơ giáo viên, kiểm tra sổ đầu bài, lấy ý kiến học sinh,…
Trong vấn đề tổ chức thực hiện dạy học phân hoá bằng kết hợp phân ban
với dạy tự chọn: Bước đầu tổ chức thực hiện nhà trường có rất nhiều bỡ ngỡ
và lúng túng. Nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, nhà trường đã thành lập
một ban chỉ đạo thực hiện gồm:
- Hiệu trưởng - làm trưởng ban.
- Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn - làm phó ban.
- Thư ký hội đồng – làm thư ký.
- Các tổ trưởng chuyên môn, Chủ tịch công đoàn và Đoàn thanh niên – làm
uỷ viên.
Nhiệm vụ của ban chỉ đạo là tìm hiểu, nghiên cứu các văn bản, hướng dẫn
chỉ đạo về việc tổ chức dạy học phân hoá; Căn cứ vào tình hình thực tế của
đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và đối tượng học sinh để lập kế hoạch dạy
học phân hoá theo hình thức kết hợp phân ban với dạy tự chọn; Trình duyệt
11
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
kế hoạch này với UBND huyện và Sở Giáo dục đào tạo; Tuyên truyền về
tinh thần phân ban và dạy học tự chọn đến tất cảc các giáo viên, học sinh
trong nhà trường, phối kết hợp với chính quyền địa phương và hội Cha mẹ
học sinh của nhà trường để tuyên truyền đến nhân dân trong địa bàn. Vì vậy
bước đầu thực hiện kế hoạch phân ban và dạy học tự chọn của nhà trường đã
diễn ra tương đối tốt (Nhà trường chỉ tiến hành mở một ban là ban Cơ bản,
việc dạy học tự chọn tiến hành theo hình thức dạy tự chọn bám sát theo
chương trình chuẩn).
Chất lượng học sinh dần được thắt chặt. Ngay năm học 2005-2006 nhà
trường đã thực hiện thắt chặt chất lượng bằng cách tiến hành đánh giá học
sinh chặt hơn, sát với thực chất hơn. Đặc biệt trong năm học 2006-2007 nhà
trường đã rất mạnh dạn và tiến hành thực hiện tương đối triệt để cuộc vận
động “Hai không” do Bộ Giáo dục phát động.
Công tác tuyên truyền về cuộc vận động “Hai không” được thực hiện
tương đối tốt. Cụ thể nhà trường đã thành lập ra ban chỉ đạo thực hiện cuộc
vận động “Hai không”. Ban chỉ đạo bằng các hình thức tuyên truyền, biện
pháp cụ thể đã làm cho cán bộ giáo viên trong trường hiểu và bước đầu thực
hiện tương đối tốt. Đối với học sinh và phụ huynh học sinh phần lớn đã hiểu
được chất lượng học sinh các năm gần đây giảm về số lượng học sinh Khá,
Giỏi là một việc thiết thực, thể hiện việc đánh giá thực chất hơn; Chủ trương
cuộc vận động của Bộ giáo dục và việc làm của nhà trường là xoá bỏ những
việc dối trá trước đây để đi đến cái thực chất và tiến tới nâng cao chất lượng
trong các năm tới.
Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ được chú trọng. Nhà trường đã
cho phép giáo viên đi học chuẩn hoá trình độ chuyên môn (môn Thể dục,
môn KTCN, môn Tin); Cho giáo viên đi học thạc sĩ (môn Toán, môn Sinh,
môn Sử).
12
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
Công tác quản lý được đổi mới một cách cơ bản. Phó hiệu trưởng và các
Tổ trưởng được trao nhiều quyền lực hơn. Việc phân công, phân cấp rõ ràng
hơn.
Qua đó, nền nếp dạy và học đã được hình thành và duy trì tương đối tốt,
không còn hiện tượng dồn ép, cắt xén chương trình; Hiện tượng vào muộn,
ra sớm, quên giờ, nhầm thời khoá biểu đã giảm nhiều,…; Việc đổi mới
phương pháp dạy học và áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đã được
chú trọng.
Trong ba năm gần đây, sự phát triển của nhà trường được thể hiện qua
bảng số liệu sau:
Bảng thống kê số lượng và chất lượng đội ngũ
Sl&CL đội ngũ
Số lượng Chất lượng
TS Nữ Chưa đạt chuẩn Đạt chuẩn Học Thạc sĩ Học Tiến sĩ
2004-2005
54 23 6 47 1 0
2005-2006
58 26 5 53 0 0
2006-2007
60 27 4 54 2 0
Bảng thống kê về cơ sở vật chất
Năm học
Số
lớp
Số phòng lớp học
Phòng
kiên cố
Phòng
tạm
Phòng
chức
năng
Phòng
thiết bị
Phòng
máy
tính
Phòng thí
nghiệm thực
hành
Thư
viện
2004-2005 28 12 8 0 0 0 0 0
2005-2006 32 12 10 0 0 0 0 1
2006-2007 34 10 12 0 1 2 0 1
Bảng thống kê về chất lượng học sinh
Năm học Số học
sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
TS % TS % TS % TS % TS %
2004-2005 1400 1 0.07 89 6.36 1252 89.43 57 4.07 1 0.07 71.50%
2005-2006 1600 0 0.00 92 5.75 1432 89.50 71 4.44 5 0.31 75.25%
2006-2007 1700 1 0.06 95 5.59 1392 81.88 201 11.82 11 0.65 21.10%
2.3. Một số tồn tại trong quản lý quá trình dạy học trong trường THPT
Chu Văn Thịnh – Mai Sơn – Sơn La.
13
Lª L ¬ng D ¬ng – K53
- Nền nếp dạy học đã có nhiều chuyển biến nhưng vẫn chưa tốt do một số
nguyên nhân như: Do không có đủ phòng ở tập thể cho giáo viên và trong
địa bàn dân cư thưa nên giáo viên đều phải đi về hàng ngày qua mấy chục
Km do đó nhiều khi xe hỏng, tai nạn rồi điều kiện sức khoẻ,… ảnh hưởng
đến việc lên lớp của giáo viên; Đội ngũ giáo viên trẻ nên đôi lúc còn tuỳ
tiện trong việc thực hiện giờ giấc, quy chế chuyên môn, thực hiện phân
phối chương trình; Giáo viên của nhà trường giới Nữ chiếm đông mà lại
đang trong độ tuổi sinh nở mà giáo viên của một số môn lại thiếu nhiều
nên số tiết giảng dạy của các giáo viên trong năm vượt định mức quá
nhiều do đó giáo viên không có thời gian đầu tư cho chuyên môn; Giáo
viên mới ra trường lương thấp và không có thu nhập thêm nên kinh tế gặp
nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng đến nhiệt huyết nghề nghiệp.
- Công tác lập kế hoạch chuyên môn chưa hợp lý: Kế hoạch năm học mang
tính hình thức; Kế hoạch chuyên môn phần lớn được đưa ra theo từng
tuần nên các bộ phận thực hiện rất bị động mà không phát huy được tính
chủ động, sáng tạo của các thành viên trong Hội đồng Sư phạm.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học chưa hiệu quả: Do giáo viên trẻ, thiếu
kinh nghiệm trong công tác giảng dạy; Chất lượng đầu vào của học sinh
hàng năm rất thấp (năm học 2007-2008 vừa qua học sinh thi vào lớp 10
với 3 môn Văn, Toán, Lịch Sử với môn Toán và Văn nhân hệ số 2 nhưng
điểm trúng tuyển vào trường chỉ là 6,5 điểm tổng của 3 môn sau khi đã
nhân hệ số). Động cơ học tập của học sinh chưa rõ ràng; Dân trí trong
vùng còn thấp; Sự quan tâm của chính quyền địa phương và nhân dân đến
việc học tập của con em mình là chưa cao, hầu như chỉ phó mặc cho nhà
trường.
- Việc kiểm tra, đánh giá học sinh còn bất cập: Việc đánh giá học sinh còn
tuỳ tiện, mang tính chiếu lệ, chưa thực chất.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét