Khoa Tài chính
yết phải là loại đủ chất lượng và lượng cổ phần phải lớn, cổ đông nhiều thì
mới có mua bán liên tục, sôi nổi và đảm bảo uy tín thị trường. Người đầu tư
khi mua chứng khoán trong một đợt phát hành đại chúng(tức mua các IPO),
dù đang mạo hiểm vào một chứng khoán mới, nhưng xem như họ được bảo
vệ tối đa. Cả hệ thống dường như đã sàng lọc cho họ rồi, Trong đó Sở giao
dịch là một khâu then chốt trong một hệ thống vận hành đồng bộ. Ta cũng nên
biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới
được mua và bán chứng khoán tài sản giao dịch(tranding floor) của Sở giao
dịch đó. Các yêu cầu về mua của người có tiền (cầu) và bán của người có
chứng khoán (cung) sẽ được các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán
đem đến Sở giao dịch, quá trình mua bán đó diễn ra chỉ thoáng qua bằng động
tác đầu giá. Còn lại, nói chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các
công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một
số định chế khác.
CK biệt lệ là loại CK được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền,
do Chính phủ trong các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm.
TTCK chính thức là một tổ chức có thực thể, là thị trường minh bạch
và được tổ chức cao, có địa điểm nhất định, với những trang thiết bị cần thiết,
ở đó các CK được giao dịch theo những quy chế nghiêm ngặt và nguyên tắc
nhất định.
TTCK chính thức có thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định trên
cơ sở đấu giá công khai có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán quốc gia.
Việc mua bán CK được thực hiện tại sàn giao dịch thể hiện bằng các Sở giao
dịch chứng khoán. Chính vì vậy, TTCK tập trung (hay TTCK có tổ chức –
Organnied market) còn được gọi là Sở giao dịch, quá trình mua bán (The
Stock Exchange). Tại Sở giao dịch, quá trình mua bán chứng khoán diễn ra
chỉ thoáng qua bằng động tác đấu giá. Còn lại chuyện mua bán thực sự sẽ
được giải quyết ở các công ty môi giới kinh doanh chứng khoán, có thể có sự
tham gia của một số định chế khác. Nó đóng vai trò là nơi tập trung thông tin
5
Trần Tuấn - CKB - K7
5
Khoa Tài chính
và duy trì sự rõ ràng đáng tin cậy để người mua kẻ bán tiện tham khảo, tạo
điều kiện cho những nhà đấu tư chẳng hề biết nhau vẫn có thể an tâm làm ăn
với nhau. Nó là một định chế đầu mối (đầu mối chớ không phải trung gian
hoặc chợ), là nơi tạo ra niềm tin, sự công bằng, trung thực và trật tự cho
những nhà đầu tư chứng khoán. Những nhà đầu tư chứng khoán đều phải tốn
tiền để mua những thứ đó từ Sở giao dịch. Nó là nơi tập hợp và chuyển hoá
niềm tin thành những kết ước cụ thể của những nhà đầu tư chứng khoán.
Hoạt động nhộn nhịp của Sở giao dịch có vẻ như là thứ hào quang chói
sáng lấn át, làm cho người ta khó phân biệt. Khi nhắc đến TTCK, hầu như
mọi người có thói quen liên tưởng ngay dến một Sở giao dịch (Stock
exchange) nào đó. Nói đến TTCK là người ta hình dung đến các sàn giao dịch
(tranding floor) được vận hành với những phương tiện hiện đại, là bàn bạc về
một thị trường diễn biến nhộn nhịp nhưng lại có tiếng là trật tự và trung thực,
với sự trợ giúp của các ngành kỹ thuật cao. Thế nhưng hoạt động tại các sàn
giao dịch chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh TTCK. Cùng với cả một hệ
thống vận hành đồng bộ, Sở giao dịch là một khâu then chốt tạo điều kiện cho
việc mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi, vì vậy người ta gọi chung
bối cảnh đó là thị trường. Các yêu cầu về mua của người có tiền(cầu) và bán
của người có chứng khoán(cung) sẽ được các thông tin môi giới và kinh
doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch để giao mua bán chào bán(bid và
offer). Tại Sở giao dịch; quá trình mua bán đó bằng động tác đấu giá công
khai (open/auction). Các nhà môi giới phải la lớn lên giá “bid” và “offer” của
họ ngay tại các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được
mua bán chứng khoán tại sàn giao dịch của Sở giao dịch đó. Và dù Sở giao
dịch là nơi rất tập trung, nó cũng chỉ giữ nhiệm vụ là một khâu trong TTCK.
1.1.2.2 Thị trường chứng khoán bán chính thức hay thị trường chứng
khoán bán tập trung (thị trường OTC)
Đây là thị trường không có địa điểm tập trung những người môi giới,
những người kinh doanh CK như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có khu
6
Trần Tuấn - CKB - K7
6
Khoa Tài chính
vực giao dịch diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, vào thời điểm và tại chỗ mà những
người có nhu cầu mua bán CK gặp gỡ nhau. Đây là một loại thị trường bậc
cao, được tự động hoá cao độ, hàng ngàn hãng môi giới trong cả nước giao
dịch mua bán CK với nhau thông qua hệ thống điện thoại và hệ thống vi tính
nối mạng. Nó không phải là thị trường hiện hữu, vì vậy còn được gọi là thị
trường giao dịch không qua quầy – thị trường OTC (Over-the-Counter
Market). Thông thường, đối với các nước phát triển và các nước có TTCK
phát triển và các nước có TTCK phát triển, mới có điều kiện hình thành loại
thị trường bậc cao này, vì chỉ các nhà đầu tư ngoài quỹ đầu tư, qũy hưu bổng,
các công ty lớn mới có khả năng có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, còn
tham gia nối mạng máy lớn thì rất khó khăn, còn các nhà đầu tư nhỏ khó có
thể trang bị cho mình những phương tiện máy móc thiết bị hiện đại, vì vậy thị
trường OTC chưa thích hợp với các nước đang phát triển.
Thị trường OTC có những nét đáng chú ý sau đây:
+Về đặc điểm của thị trường OTC: thị trường OTC không có trung tâm
giao dịch, mà giao dịch mua bán CK thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại.
Một điều quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp
gặp nhau để thoả thuận mua bán CK như trong phòng giao dịch của Sở giao
dịch chứng khoán, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ
thông qua hệ thống viễn thông. Thị trường OTC là thị trường thương lượng,
không có vị trí tập trung để trực tiếp gặp nhau. Việc giao dịch được điều khiển
thông qua điện thoại và mạng vi tính để liên lạc giữa những dealer chứ không
đối mặt trực tiếp (face- to - face) như tại SGDCK. Thị trường OTC được quy
định luật lệ bởi Hiệp hội những người kinh doanh CK (NASD). Một giao dịch
CK trên OTC thường bắt đầu khi một khách hàng đặt một lệnh và người môi
giới (broker) điền vào phiếu lệnh. Sau đó phiếu lệnh được chuyển đến nhân
viên giao dịch trên OTC (OTC trader) của công ty để thi hành. Nhân viên giao
dịch sẽ xác định người kinh doanh CK (dealer) đề ra thương lượng các điều
khoản của giao dịch. Một người kinh doanh CK trên OTC (OTC dealer),
7
Trần Tuấn - CKB - K7
7
Khoa Tài chính
người cung cấp liên tục các giá hỏi mua (bids) và giá chào bán (offers) cho
một CK cụ thể thì được cho là “tạo một thị trường” (make a market) cho CK
đó và được gọi là người tạo ra thị trường (market/ a market). Người tạo ra thị
trường mua và bán CK vì lợi nhuận của chính họ và chấp nhận rủi ro. Nếu ở
Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một người tạo ra thị trường cho mỗi loại CK
(chuyên gia- specialist) thì trên OTC có thể có nhiều người tạo ra thị trường
cho một loại CK. Một người tạo ra thị trường phải sẵn sàng bán hay mua cổ
phiếu tại giá đưa ra (quoted price). Trừ khi công bố giá được định trước, tất cả
các báo giá được đưa ra từ công ty CK.
Có nhiều loại giao dịch trên OTC, bao gồm (nhưng không có giới hạn):
cổ phiếu và trái phiếu công ty; trái phiếu chính quyền địa phương; chứng
khoán Chính phủ Mỹ; và chứng khoán cơ quan Chính phủ Mỹ (U.S.
Government Agency Securities).Khi việc giao dịch CK này được thương
lượng giữa người mua và người bán, phải có mạng lưới liên lạc nối liền
những người kinh doanh (dealer) và biểu diễn những thông tin báo giá. Có 2
hình thức chính của việc liên lạc là bảng điện và in ấn.
Công ty chứng khoán trên OTC tương tự như công ty môi giới hoạt
động trên một Sở giao dịch chứng khoán, do đó nó có tên gọi khác nữa là
công ty giao dịch – môi giới. Công ty CK OTC luôn bán các loại CK phi tập
trung cho các khách hàng của mình.
Nhà môi giới trung gian là một loại công ty môi giới nhất định mà
khách hàng của nó là các nhà giao dịch và môi giới trên thị trường. Các công
ty thông báo cho nhà môi giới trung gian loại CK mà họ muốn mua hoặc
muốn bán. Sau đó, nhà môi giới trung gian thông báo các yêu cầu này qua
mạng lưới thông tin cho các thành viên khác biết.
Thị trường OTC thực hiện vai trò của thị trường thứ cấp, tức là thực
hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các
nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Nhờ
có thị trường OTC, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu
8
Trần Tuấn - CKB - K7
8
Khoa Tài chính
tư vào CK vì khi cần tiền họ có thể bán lại các CK của mình cho các nhà đầu
tư khác trên TTCK. Có tiền, thấy có lợi, hoặc thích là mua. Kẹt tiền, thấy
không hấp dẫn nữa hoặc không thích thì bán. Nếu không có thị trường thứ
cấp, có lẽ người đầu tư mua cổ phần, trái phiếu sẽ còn bị kẹt dài dài.
Các công ty thực hiện môi giới và kinh doanh CK là cầu nối giữa
những người đầu tư trên thị trường OTC. Nhờ có các công ty này, quan hệ
cung cầu CK trên thị trường được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng và thuận
tiện hơn. Các công ty muốn hoạt động môi giới và kinh doanh CK phải được
phép của cơ quan có thẩm quyền (NASD). Thông thường các công ty CK
thường được phép thực hiện cả nghiệp vụ môi giới và kinh doanh mua bán
CK cho chính mình.
Các công ty CK trên thị trường OTC có mặt ở khắp mọi nơi trên đất
nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh mua bán một số loại CK nhất định. Các
công ty CK giao dịch mua bán CK cho mình và cho khách hàng thông qua
việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại CK đó. Các công ty cũng
thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh CK như: giao dịch mua bán cho chính
mình, môi giới mua bán CK cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư CK, bảo
lãnh phát hành.
+ Niêm yết Ck trên thị trường OTC: các CK buôn bán trên thị trường
OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng (các nhà đầu tư) biết
để có các quyết định đầu tư. Các CK được niêm yết trên thị trường OTC
tương đối dễ dàng, các điều kiện được niêm yết không quá nghiêm ngặt, chỉ
cần được phép phát hành là CK có thể giao dịch trên thị trường này. Như vậy,
hầu như tất cả các CK không được niêm yết để giao dịch trên Sở giao dịch
chứng khoán đều được giao dịch ở đây. Các CK buôn bán trên thị trường
OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các CK được niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán. Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp nơi nên độ lớn
của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng
buôn bán CK trên thị trường này là lớn hơn Sở giao dịch chứng khoán. Từ
9
Trần Tuấn - CKB - K7
9
Khoa Tài chính
điều kiện niêm yết thông thường hơn mà CK của các công ty được buôn bán
trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số CK được niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán cũng được mua bán ở thị trường này.
Yết giá trên thị trường OTC được thể hiện trên hệ thống màn hình yết
giá tự động, tuỳ theo độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của một loại
CK nhất định mà nó có các loại yết giá như: yết giá chắc chắn, yết giá phụ
thuộc, yết giá có chủ định.
Từ việc buôn bán giao dịch CK trên thị trường OTC không tại một địa
điểm nhất định mà thay vào đó là tại các công ty CK và thực hiện các giao
dịch thông qua hệ thống viễn thông, nên việc niêm yết công khai cũng được
đa dạng và đơn giản hơn. Giá thị trường hiện tại của các loại CK phổ biến
trên thị trường OTC được thông bán trên hệ thống màn hình yết giá tự động
của NASDAQ.
Ngoài ra, yết giá công khai trên thị trường OTC còn được thực hiện
dưới các hình thức ra các yết giá có chọn lọc là các yết giá do NASDAQ tập
hợp hàng ngày các mức giá chào bán và giá đặt mua của một số loại CK trên
thị trường OTC theo một danh sách có chọn lọc thông qua Uỷ ban yết giá của
nó, sau đó nó được công bố trên nhiều tờ báo hàng ngày trong khắp cả nước.
Các thông báo yết giá màu hồng là do một tổ chức có tên là Phòng yết giá
quốc gia (National Quotation Bureau) xuất bản. Nó xuất bản hàng ngày giá
bán buôn các loại CK trên thị trường OTC kèm theo đó là tên của những nhà
giao dịch hay nhà giao dịch có liên quan. Các thông báo yết giá màu hồng
không được phổ biến rộng rãi mà chỉ được phân phối cho các công ty đặt
mua. Các công ty niêm yết CK trên thị trường OTC cũng phải công khai các
thông tin về tình hình của công ty cho công chúng đầu tư biết. Quy trình công
khai thông tin, các vấn đề, báo cáo cần công khai cho công chúng cũng như
các yêu cầu công khai về thông tin công ty cũng tương tự như trên Sở giao
dịch chứng khoán.
10
Trần Tuấn - CKB - K7
10
Khoa Tài chính
+ Giao dịch mua bán CK trên thị trường OTC: hoạt động giao dịch
buôn bán CK trên thị trường OTC cũng diễn ra khá đơn giản. Khi một khách
hàng muốn mua một số lượng CK nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh này ra cho
công ty CK đang quản lý tài sản của mình yêu cầu thực hiện giao dịch hộ
mình. Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môi giới – giao dịch sẽ biết
được giá chào bán thấp nhất của loại CK đó. Sau đó công ty này sẽ thông báo
lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ
thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện.
CK giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi điều kiện các tiêu
chuẩn như giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán. Điều kiện duy nhất là loại
CK đó được phép phát hành và chưa được đăng ký yết giá tại trụ sở giao dịch
nào cả. Hầu hết các loại CK mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị
trường OTC, sau đó mới xin đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán.
Quản trị thị trường OTC là Hiệp hội các nhà kinh doanh CK quốc gia.
Hiệp hội có nhiệm vụ ban hành quy chế. Thành viên của Hiệp hội cũng là
thành viên của TTCK và ngược lại.
1.2. Hoạt động của NHTM trên TTCK
1.2.1 Các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK
Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại:
* Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)
Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh
độc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia
vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế
rủi roc ho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường
chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư
vào lĩnh vực chứng khoán: mặt khác, với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện
cho thị trường chứng khoán phát triển. Điển hình cho mô hình này là các công
ty chứng khoán ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động ngân
hàng và lĩnh vực chứng khoán. ở Mỹ, đạo luật Glass-Steagall 1933 bắt buộc
11
Trần Tuấn - CKB - K7
11
Khoa Tài chính
hai hoạt động này tách biệt nhau Glass – Steagall chỉ cho phép các ngân hàng
thương mại tiến hành chào bán các loại chứng khoán chính phủ mới phát hành
lần đầu; nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh
nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môI giới chứng khoán. Tuy nhiên, hiện
nay tại Mỹ, người ta đề nghị huỷ bỏ đạo luật Glass-Steagall, cho phép các
ngân hàng được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán. Tháng 7 năm 1988, Cục
Dự trữ Liên Bang Mỹ đã cho phép thí điểm ngân hàng J.P Morgan được phép
bảo lãnh phát hành trái phiếu công ty từ tháng 1 năm 1989 và được phép bảo
lãnh phát hành cổ phiếu từ tháng 9 năm 1990, tiếp đó dần dần mở rộng cho
các ngân hàng khác.
* Mô hình đa năng bao gồm:
Một là mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có
sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán. NHTM không
những được hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được hoạt động trong
lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. (Các hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán gồm bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư,
tư vấn đầu tư, tham gia vào lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán). Nó
được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Áo.Ưu điểm của mô hình
này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm
bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu
đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình đa năng
hoàn toàn có một số hạn chế: thị trường chứng khoán phát triển chậm vì hoạt
động chủ yếu của hệ thống ngân hàng dùng vốn để cấp tín dụng và dịch vụ
thanh toán, do đó ngân hàng thường quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán.
Điều này đã thể hiện sự kém phát triển ở thị trường chứng khoán Châu Âu
tương quan với thị trường chứng khoán Mỹ. Bên cạnh đó, còn nhược điểm là
trong trường hợp biến động trên thị trường chứng khoán, hậu quả có thể tác
động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh
này. Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, hay
12
Trần Tuấn - CKB - K7
12
Khoa Tài chính
vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngược lại, trong trường
hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
chứng khoán của các ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái
Lan là một minh chứng.
Hai là mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động
trong lĩnh vực chứng khoán phải thành lập công ty con- công ty chứng
khoán , hoạt động độc lập. Mô hình này được áp dụng ở Anh và những nước
có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, Úc. Mô hình này có ưu điểm các
ngân hàng được kết hợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán,
do đó tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách
hàng rộng khắp của ngân hàng. Bên cạnh đó, bởi vì có quy định hoạt động
riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến
động của một trong hai thị trường. Đặc biệt, mô hình này phù hợp với những
nước mới thành lập thị trường chứng khoán khi mà cần có tổ chức tài chính
lành mạnh tham gia vào thị trường và khi hệ thống luật, kiểm soát còn nhiều
mặt hạn chế.
Mỗi một mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, tuỳ
vào thể chế chính trị, đặc điểm nền kinh tế mỗi quốc gia nên chọn cho mình
một mô hình phù hợp nhất để có thể phát huy một cách có hiệu quả nhất vai
trò của NHTM đối với TTCK.
1.2.2 Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK
1.2.2.1 Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chứng khoán
Kinh doanh chứng khoán là nghiệp vụ mua bán chứng khoán cho chính
mình và tự gánh chịu rủi ro. Với vai trò kinh doanh chứng khoán, các trung
gian chứng khoán là một thành viên quan trọng của thị trường chứng khoán,
có tác dụng làm cho hoạt động của thị trường đều đặn, không bị gián đoạn và
sôi nổi. Là một nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của
NHTM được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả của
13
Trần Tuấn - CKB - K7
13
Khoa Tài chính
thị trường. Có thể chia hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM thành
hai nhóm, đó là: hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động của NHTM thường đầu tư ngắn hạn
vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có
tính ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
được, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng
và nhu cầu tích trữ. Hoạt động ngân quỹ là cầu nôí quan trọng giữa tín dụng
trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ được chuyển sang thị
trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của
NHTM và ngược lại. Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trường giúp cho các
NHTM có thể sử dụng tối đa các nguồn vốn để sử dụng có hiệu quả hoạt
động. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường này cũng làm tăng hiệu quả
hoạt động của thị trường tài chính.
Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của
NHTM mang tính đa dạng hơn ít tập trung vào một loại chứng khoán và với
thời hạn đầu tư dài hơn. Là một định chế trung gian tích cực nhất trong lĩnh
vực kinh doanh tiền tệ, NHTM tham gia trên TTCK với tư cách là nhà đầu tư
và nhà tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư chứng khoán. NHTM có thể sử dụng
các khoản vốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua các
loại cổ phiếu và trái phiếu. Thực chất của hình thức kinh doanh này là NH
luôn luôn mua CK của khách hàng bằng tiền mặt của mình và bán cho khách
hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thị giá
mua và thị giá bán. Nghĩa là NH sẽ tìm cách mua CK với giá thấp nhất và bán
vơí giá cao nhất có thể. ở các Sở Giao dịch Chứng khoán khác nhau, thị giá
của cùng một loại chứng khoán cũng khác nhau. Giữa các Sở GDCK có mối
liên hệ về thông tin rất chặt chẽ. Do đó, các NH sẽ mua các CK ở nơi có thị
giá thấp để bán ở nơi có thị giá cao để kiếm lời cho tới khi thị giá được cân
bằng giữa các thị trường. Khi mua cổ phiếu NHTM có thể trở thành cổ đông
lớn của công ty cổ phần tham gia vào việc điều hành và kiểm soát công ty.
14
Trần Tuấn - CKB - K7
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét