- Doanh nghiệp Nhà nước
- Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp Nhà nước: Theo Điều 1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước “Doanh
nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức
quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục
tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao cho. Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách
pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý”. Doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động kinh doanh là Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu
nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích là Doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các
chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an
ninh.
Công ty (Công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần): là doanh nghiệp
trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương
ứng với phần vốn góp của mình và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi phần góp của mình.
Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: gồm doanh nghiệp liên doanh, doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp
do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng
liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước
5
ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác
với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với
nhàđầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài do nhàđầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.
b - Hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động đặc thù của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp kinh doanh những hàng hoá, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu, trong khả
năng nguồn lực hiện có của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận cao nhất, nâng cao
thu nhập của người lao động, tích luỹđểđẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng,
góp phần tăng thu nhập quốc dân và thúc đẩy nền kinh tếđất nước phát triển. Để
sản xuất hàng hoá và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải mua nguyên nhiên
liệu, các bộ phận, linh kiện rời hay bán thành phẩm của các doanh nghiệp khác ở
trong và ngoài nước. Như vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải có mối quan
hệ tương hỗ với các thành viên khác trong nền kinh tế.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Chủ yếu giải quyết các vấn đề ssau đây:
- Chiến lược đầu tư:
- Nguồn vốn đầu tư cho kinh doanh;
- Sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính đểđảm bảo trạng thái
cân bằng tài chính.
- Quản lý hoạt động tài chính ngắn hạn đểđưa ra các quyết định thu chi cho
phù hợp.
6
Các hoạt động trên nhằm đạt tới mục tiêu lợi nhuận cao nhất, sản xuất kinh
doanh không ngừng tăng trưởng và phát triển.
c- Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước hiện nay
Trong thời kỳ nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, các xí nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước chiếm địa vị thống trị trên hầu hết
các lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
trong điều kiện được bao cấp của Nhà nước như:
- Mua vật tư theo giá hạ;
- Được cấp vốn, trang bị máy móc thiết bị và vay vốn theo lãi suất thấp;
- Được trả lương không đầy đủ cho người lao động, phần còn lại được Nhà
nước bao cấp ngoài lương;
- Được bao tiêu sản phẩm…
Do vậy, trên sổ sách lợi nhuận và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà
nước có thể có hoặc có thể rất lớn. Nhưng nếu tính đủ chi phí như tính đủ
nguyên giá tài sản cốđịnh và khấu hao tài sản đủ tỷ lệ quy định; Tính đủ giá
nguyên vật liệu, động lực, ngoại tệ nhập khẩu; Tính đủ tiền lương không bao cấp
bằng hiện vật bằng bù lỗ bên ngoài của Ngân sách Nhà nước thì thực chất đó là
lãi giả, lỗ thật. Ngược lại, cũng có trường hợp đơn vịđược Nhà nước bù lỗ, song
trên thực tế thì có lãi vì việc bù lỗ không căn cứ vào hoạt động xác thực của
doanh nghiệp mà căn cứ vào định mức được duyệt.
Thực hiện đường lối cải cách kinh tế, Đảng và Nhà nước đổi mới cơ chế,
chính sách, tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước tạo điều kiện để các
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu qủa. Doanh nghiệp Nhà nước là một
bộ phận quan trọng của nền kinh tế Nhà nước, phải giữ vai trò chủđạo trong nền
7
kinh tế nhiều thành phần. Đó là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước
trong sự nghiệp đổi mới kinh tếđất nước theo quy định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ cuối năm 1994 Nhà nước tiếp tục đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, các
doanh nghiệp Nhà nước đã tổ chức, sắp xếp lại theo quy mô lớn trên cơ sở tập
trung để tạo tiền đề tích tụ trong hoạt động kinh doanh. Thủ tướng Chính phủđã
thành lập 17 Tổng công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh
doanh lớn theo Quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ (gọi
tắt là Tổng công ty 91) và uỷ quyền cho các Bộ, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập 76 Tổng công ty Nhà nước
hoạt động theo mô hình Quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính
phủ (gọi tắt là Tổng công ty 90).
Các Tổng công ty 91 và Tổng công ty 90 được thành lập đã nắm trọn các
ngành kinh tế kỹ thuật trọng yếu của quốc gia như: hàng không, hàng hải, bưu
chính viễn thông, xi măng, sắt thép, xăng dầu, than, điện…Sau khi được sắp xếp
lại, hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước đã từng bước được nâng lên
rõ rệt. Tuy nhiên đối với những Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh
kém hiệu quả, Nhà nước xét thấy thực sự không cần phải giữ lại thì thực hiện cổ
phần hoá, bán đấu giá, khoán, cho thuê hoặc giải thể.
1.1.2- Lợi nhuận và nguồn hình thành lợi nhuận
1.1.2.1- Lợi nhuận
a. Các quan điểm về lợi nhuận :
Từ trước tới nay, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Ta có thể
thấy được điều này qua các quan điểm về lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận của doanh nghiệp: là khoản chênh lệch giữa thu nhập về tiêu thụ
hàng hoá và dịch vụ với chi phíđã bỏ ra đểđạt được thu nhập đó. Việc tính toán
thu nhập hay chi phíđã chi ra là theo giá cả của thị trường mà giá cả thị trường
do quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ quyết định.
8
+ Lợi nhuận: là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD, là chỉ tiêu
chất lượng tổng hợp đánh giá hiệu qủa kinh tế các hoạt động SXKD của doanh
nghiệp.
+ Thu nhập của doanh nghiệp hay chính là doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ
trừđi toàn bộ chi phí sản xuất (chi phí về tiền thuê lao động, tiền lương, tiền thuê
nhà cửa, tiền mua vật tư ) thuế hàng hoá và các thứ thuế khác hầu như còn lại
được gọi là lợi nhuận. Có thể biểu diễn qua biểu sau :
Biểu 1 : Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí, thuế và lợi nhuận.
Doanh thu bán hàng và dịch vụ
Lãi gộp
Chi phí biến đổi Chi phí cốđịnh Lợi nhuận trước thuế
Tổng chi phí sản xuất Thuế
Lợi nhuận
thuần túy
b- Các loại lợi nhuận của doanh nghiệp :
Trong doanh nghiệp, có nhiều loại hình lợi nhuận khác nhau, ta có thể khái
quát thành các loại lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận trước thuế.
+ Lợi nhuận sau thuế.
1.1.2.2- Các nguồn hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp :
Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp rất phong
phú vàđa dạng, do đó lợi nhuận đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp cũng hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
Thứ nhất: Lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ là
khoản chênh lệch giữa doanh thu về tiêu thụ và chi phí của khối lượng sản phẩm
hàng hoá lao vụ thuộc các hoạt động sản xuất kinh doanh chính phụ của doanh
nghiệp.
9
Thứ hai : Lợi nhuận của các hoạt động liên doanh liên kết là số chênh lệch giữa
thu nhập phân chia từ kết qủa hoạt động liên doanh liên kết với chi phí của
doanh nghiệp đã chi ra để tham gia liên doanh.
Thứ ba: Lợi nhuận thu được từ các nghiệp vụ tài chính là chênh lệch giữa các
khoản thu chi thuộc các nghiệp vụ tài chính trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ tư : Lợi nhuận do các hoạt động sản xuất kinh doanh khác mang lại là lợi
nhuận thu được do kết quả của hoạt động kinh tế khác ngoài các hoạt động kinh
tế trên.
Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất
kỳ một doanh nghiệp nào. Vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế
thị trường doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thìđiều quyết định là
doanh nghiệp đó phải tạo ra lợi nhuận. Vì thế lợi nhuận được coi là một trong
những đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản đểđánh giá
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động
của doanh nghiệp. Việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận làđiều kiện quan trọng
đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc.
Lợi nhuận của quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp là chỉ
tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu qủa của qúa trình kinh
doanh, của tất cả các mặt hoạt động trong quá trình kinh doanh ấy, nó phản ánh
cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh, của hoạt động kinh
doanh. Công việc kinh doanh tốt sẽđem lại lợi nhuận nhiều từđó lợi nhuận cókhả
năng tiếp tục quá trình kinh doanh có chất lượng và hiệu quả hơn. Trong trường
hợp ngược lại doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ nếu kéo dài có
thể dẫn đến phá sản.
1.2-
PHƯƠNGPHÁPXÁCĐỊNHLỢINHUẬNVÀPHÂNPHỐILỢINHUẬNCỦA
DOANHNGHIỆP
10
1.2.1- Các phương pháp xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp
Như ta đã biết lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh số lượng và chất lượng của các
mặt hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tổng mức tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá và chi phíđã chi ra đểđạt được kết quảđó.
Ta có thể xác định được lợi nhuận theo công thức sau:
Tổng lợi
nhuận trước
thuế
=
Tổng
doanh thu
-
Tổng chi phí sản
xuất kinh doanh
Hay :
Tổng lợi
nhuận trước
thuế
=
Tổng
doanh thu
-
Chi phí
cốđịnh
+
Chi phí
biến đổi
- Tổng doanh thu: là tổng số tiền thu được về bán hàng hoá và dịch vụ.
- Chi phí cốđịnh: là những khoản chi phí không thay đổi theo khối lượng công
việc hoàn thành, không thay đổi khi sản lượng thay đổi như khấu hao tài sản
cốđịnh, tiền thuêđất, máy móc thiết bị, phương tiện kinh doanh, tiền lương, bảo
hiểm xã hội của cán bộ công nhân viên (lao động gián tiếp trong doanh nghiệp ).
- Chi phí biến đổi: là những chi phí tăng hoặc giảm cùng với sự tăng hoặc giảm
của sản lượng như tiền mua nguyên vật liệu, tiền lương công nhân trực tiếp sản
xuất. Chi phí biến đổi nói chung tỷ lệ với khối lượng hàng hoá sản xuất hay mua
vào để bán.
Tổng lợi
nhuận sau
thuế
=
Tổng
doanh thu
-
Tổng chi phí sản
xuất kinh doanh
+
Chi phí
biến đổi
Các khoản thuế phải nộp bao gồm :
- Thuế doanh thu = Tổng doanh thu x tỷ lệ thuế doanh thu phải nộp
- Thuế tài
nguyên (nếu có)
=
Giá thành khối lượng
sản phẩm
x
Tỷ lệ thuế tài nguyên
phải nộp
- Thuế xuất = Doanh thu xuất x Tỷ lệ thuế
11
nhập khẩu
(nếu có)
nhập khẩu xuất nhập khẩu
- Thuế vốn =
Vốn sản xuất do
ngân sách nhà nước
cấp
x
Tỷ lệ thuế
vốn phải nộp
Ngoài ra doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ các hoạt động kinh
doanh khác không mang tính chất tiêu thụ hàng hoá.
Lợi nhuận từ các hoạt
động kinh doanh
khác
= Tổng thu nhập -
Tổng chi phí bỏ
ra
Như vậy ta có thể xác định tổng lợi nhuận của doanh nghiệp như sau :
Tổng lợi nhuận của
doanh nghiệp
=
Tổng lợi nhuận
từ sản xuất kinh
doanh
+
Lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh
khác
Khi đã tính toán được tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp ta còn phải xác
định số thuế lợi tức doanh nghiệp phải nộp.
Thuế lợi tức phải
nộp
=
Tổng số lợi
nhuận
x
Tỷ lệ thuế lợi tức
phải nộp
Số lợi nhuận còn lại sau khi đã trừđi thuế lợi tức được gọi là lợi nhuận thuần
túy của doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết: Toàn bộ doanh thu, giá thành toàn bộ và thuếđều được xác
định dựa trên cơ sở khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giá bán đơn vị, giá thành đơn
vị và mức thuếđơn vị sản phẩm tiêu thụ. Do đó tổng lợi nhuận tiêu thụ còn có
thểđược tính theo công thức sau :
12
n m m
∑ln = [ ∑ (Qi x Gi ) - ( ∑ Zi + ∑Ti )]
∑ln : Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
Qi : Sản lượng hàng hoá tiêu thụ
Gi : Giá bán hàng hoá loại i
Zi : Giá thành hàng hoá loại i
Ti : Thuế hàng hoá loại i tiêu thụ
n : Số loại hàng hoá
m : Số loại thuế
Qua công thức xác định lợi nhuận trên ta có thể thấy rõđược sựảnh hưởng
của từng nhân tố sản lượng tiêu thụ, cơ cấu mặt hàng, giá thành sản phẩm và các
loại thuếđến tổng số lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp. Ta có thể xét sựảnh
hưởng của các nhân tố trên qua việc phân tích dưới đây:
a- Nhân tố sản lượng sản phẩm tiêu thụ:
Trong trường hợp các nhân tố khác không biến động (nhân tố về giá cả, giá
thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ tiêu thụ, thuế ) thì sản lượng tiêu thụ
tăng giảm bao nhiêu lần tổng số lợi nhuận tiêu thụ cũng tăng giảm bấy nhiêu.
Nhân tố này được coi là nhân tố chủ quan của doanh nghiệp trong công tác quản
lý kinh doan nói chung và quản lý tiêu thụ nói riêng. Việc tăng sản lượng tiêu
thụ phản ánh kết quả tích cực của doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu
chuẩn bị tiêu thụ và tiêu thụ sản phẩm.
b- Nhân tố kết cấu mặt hàng tiêu thụ:
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ có liên quan đến việc xác định chính
sách sản phẩm, cơ cấu mặt hàng của doanh nghiệp. Mỗi loại mặt hàng có tỷ
trọng mức lãi lỗ khác nhau do đó nếu tăng tỷ trọng những mặt hàng có mức lãi
cao, giảm tỷ trọng tiêu thụ những mặt hàng có mức lãi thấp thì mặc dù tổng sản
lượng tiêu thụ có thể không đổi nhưng tổng số lợi nhuận có thể vẫn tăng.
13
i=li=li=l
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ lại chịu ảnh hưởng của nhu cầu thị
trường. Vềý muốn chủ quan thì doanh nghiệp nào cũng muốn tiêu thụ nhiều
những mặt hàng mang lại lợi nhuạan cao song ý muốn đó phải đặt trong mối
quan hệ cung cầu trên thị trường và những nhân tố khách quan tác động.
c- Nhân tố giá bán sản phẩm:
Trong điều kiện bình thường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
bình thường, giá bán sản phẩm do doanh nghiệp xác định. Trong trường hợp này
giá bán sản phẩm thay đổi thường do chất lượng sản phẩm thay đổi. Do việc
thay đổi này mang tính chất chủ quan, tức là phản ánh kết quả chủ quan của
doanh nghiệp trong quản lý sản xuất kinh doanh nói chung và quản lý chất
lượng nói riêng. Khi giá bán sản phẩm tăng sẽ làm tổng số lợi nhuận tiêu thụ. Từ
phân tích trên có thể suy ra rằng việc cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm là
biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác việc thay đổi
giá bán cũng do tác động của quan hệ cung cầu, của cạnh tranh đây là tác
động của yếu tố khách quan.
d- Nhân tố giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ:
Giá thành toàn bộ sản phẩm là tập hợp toàn bộ các khoản mục chi phí mà
doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành sản phẩm
cao hay thấp phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật tư kỹ
thuật, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu như
sản lượng sản xuất, giá cả, mức thuế không thay đổi thì việc giảm giá thành sẽ là
nhân tố tích cực ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
e- Nhân tố thuế nộp ngân sách:
Ảnh hưởng của thuếđối với lợi nhuận là không theo cùng một tỷ lệ. Việc tăng
giảm thuế là do yếu tố khách quan quyết định (chính sách, luật định của nhà
nước). Với mức thuế càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng giảm nhưng
doanh nghiệp vẫn phải có nghĩa vụđóng thuếđầy đủ cho nhà nước.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét