Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

258 Hoàn thiện quy trình lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính quốc tế - IFC

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp đối với khách hàng;
Thứ hai: Kế hoạch kiểm toán giúp các KTV có thể phối hợp hiệu quả
với nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như
kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài, đồng thời qua sự phối hợp hiệu
quả đó, nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, đồng thời nâng cao uy tín
với khách hàng;
Thứ ba: Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán
tránh xảy ra những bất đồng với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm
toán đã lập, KTV thống nhất với khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán;
Thứ tư: Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có
thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc đã và đang thực hiện, góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán;
1.2. Trình tự lập kế hoạch kiểm toán
1.2.1 Lập kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược được lập cho các cuộc kiểm toán phức tạp về qui
mô và tính chất.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 300, Kế hoạch chiến lược
vạch ra mục tiêu, định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm, phương pháp tiếp
cận và tiến trình của cuộc kiểm toán. Nội dung và các bước công việc của
kế hoạch chiến lược gồm:
Thứ nhất: Tình hình kinh doanh của khách hàng (tổng hợp thông tin về
lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ
sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc
biệt lưu ý đến những nội dung chủ yếu như: động lực cạnh tranh, phân tích
thái cực kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các yếu tố về sản phẩm, thị
trường tiêu thụ, giá cả và các hoạt động hỗ trợ sau bán hàng…;
Thứ hai: Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính như
chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán áp dụng, yêu cầu về lập báo cáo tài
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính và quyền hạn của công ty;
Thứ ba: Xác định những vùng chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng
của nó tới báo cáo tài chính (đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát);
Thứ tư: Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ;
Thứ năm: Xác định mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp
cận kiểm toán;
Thứ sáu: Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia: Chuyên
gia tư vấn pháp luật, kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên khác và các
chuyên gia khác như kỹ sư xây dựng, kỹ sư nông nghiệp…;
Thứ bảy: Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện;
Thứ tám: Giám đốc duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm
kiểm toán. Căn cứ kế hoạch chiến lược đã được phê duyệt, trưởng nhóm
kiểm toán lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán;
1.2.2 Lập kế hoạch tổng thể
Kế hoạch kiểm toán được hiểu là những định hướng cơ bản cho một
cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của công ty kiểm toán về tình hình hoạt
động của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch
kiểm toán cụ thể, gồm sáu bước công việc sau:
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1 : Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm
toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ
tục phân tích
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
1.2.2.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
1.2.2.1.1Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Việc đánh giá chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục cho một
khách hàng cũ nhằm giảm thiểu khả năng làm tăng rủi ro cho hoạt động của
kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toán. Để làm được
điều đó, kiểm toán viên phải tiến hành các công việc sau:
Thứ nhất: Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng;
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 220, chất lượng kiểm toán là
mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính
khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV, đồng thời thoả
mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của
KTV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định
trước với giá phí thích hợp. Như vậy, một cuộc kiểm toán đảm bảo chất
lượng là một cuộc kiểm toán mà ý kiến KTV đưa ra phải thoả mãn mong
muốn của người sử dụng thông tin và của chính đơn vị được kiểm toán. Vì
vậy, việc xem xét có đảm bảo được chất lượng hoạt động kiểm toán hay
không nếu chấp nhận yêu cầu kiểm toán của khách hàng là công việc quan
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trọng và cần thiết. Tuy nhiên, tại các công ty khác nhau, tiêu thức để đánh
giá chất lượng kiểm toán có thể không giống nhau nhưng được xây dựng
theo những quy định và hướng dẫn trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam.
Sau khi xem xét, nếu nhận thấy trong một thời điểm nhất định, với một
khách hàng cụ thể, công ty kiểm toán không thể đảm bảo chất lượng của
cuộc kiểm toán do những nguyên nhân chủ quan và khách quan thì sẽ phải
tính đến việc từ chối kiểm toán.
Thứ hai: Tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng;
Tính liêm chính của Ban Giám đốc là bộ phận cấu thành then chốt của
môi trường kiểm soát, là nền tảng cho tất cả các bộ phận khác của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả
của các thủ tục kiểm soát. Vì vậy, tính liêm chính của ban giám đốc rất
quan trọng đối với quy trình kiểm toán bởi lẽ ban giám đốc có thể phản ánh
sai các nghiệp vụ hoặc dấu diếm các thông tin dẫn tới sai sót trên báo cáo
tài chính.
Thêm vào đó, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 240 – Gian lận và
sai sót, nhấn mạnh tầm quan trọng về đặc thù của Ban Giám đốc và ảnh
hưởng của nó tới môi trường kiểm soát như nhân tố rủi ro ban đầu của việc
báo cáo gian lận các thông tin tài chính. Những nghi ngại về tính liêm
chính của ban giám đốc có thể nghiêm trọng đến nỗi KTV kết luận rằng
cuộc kiểm toán không thể thực hiện được.
Thứ ba: Liên lạc với KTV tiền nhiệm;
Đối với khách hàng mà trước đây được kiểm toán bởi một công ty kiểm
toán khác thì KTV mới chủ động liên lạc với KTV cũ, tìm hiểu một số
thông tin quan trọng như tính liêm chính của ban giám đốc, các vấn đề của
năm trước, lý do khách hàng thay đổi KTV.
Đối với khách hàng mà chưa từng được kiểm toán lần nào, KTV thu
thập thông tin về khách hàng qua sách báo, tạp chí, thẩm tra các bên thông
tin về khách hàng như ngân hàng…
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối với khách hàng cũ, hàng năm, KTV cập nhật thông tin về khách
hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến KTV phải ngừng cung cấp
dịch vụ kiểm toán hay không. Giữa khách hàng và công ty kiểm toán có
mâu thuẫn nào không, có nghiêm trọng không, có ảnh hưởng kết quả kiểm
toán không.
1.2.2.1.2 Nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng
Thực chất, việc nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng là xác
định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ.
Để biết được điều đó, KTV phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách
hàng (đối với khách hàng mới) hoặc dựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm
toán được thực hiện trước đó (đối với khách hàng cũ). Việc xác định người
sử dụng BCTC và mục đích của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến số
lượng bằng chứng cần thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà
kiểm toán viên đưa ra trong Báo cáo kiểm toán. Cụ thể, nếu các BCTC
được sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên
BCTC được đòi hỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần
thu thập cũng như qui mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán cần tăng lên.
Điều này lại đòi hỏi phải có số lượng và cơ cấu kiểm toán viên thích hợp để
thực hiện cuộc kiểm toán. Như vậy, thông tin qua việc nhận diện lý do
kiểm toán của khách hàng, công ty kiểm toán cần ước lượng mức độ phức
tạp của cuộc kiểm toán, từ đó lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp để thực
hiện cuộc kiểm toán.
1.2.2.1.3 Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho cuộc kiểm toán
không chỉ hướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các
Chuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận. Chuẩn mực Kiểm toán
chung đầu tiên đã nêu rõ quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một
hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ, thành thạo như một kiểm toán
viên. Việc lựa chọn này được tiến hành trên yêu cầu về số người, trình độ
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khả năng và yêu cầu chuyên môn kĩ thuật và thường do Ban Giám đốc công
ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo.
Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, công
ty kiểm toán cần quan tâm tới ba vấn đề sau:
Thứ nhất: Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát thích
đáng các nhân viên mới chưa có nhiều kinh nghiệm;
Thứ hai: Công ty kiểm toán cần tránh thay đổi KTV trong các cuộc
kiểm toán cho một khách hàng trong nhiểu năm. Việc tham gia kiểm toán
cho một khách hàng trong nhiều năm có thể giúp KTV tích luỹ được nhiều
kinh nghiệm cũng như có được hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng đang được kiểm toán;
Thứ ba: ưu tiên KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh
doanh của khách hàng thực hiện kiểm toán;
Việc quan tâm đầy đủ các vấn đề trên khi lựa chọn đội ngũ kiểm toán sẽ
góp phần giúp công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán chất lượng và
có hiệu quả.
1.2.2.1.4 Hợp đồng kiểm toán
Hợp đồng kiểm toán là sự thoả thuận chính thức bằng văn bản giữa
công ty kiểm toán và khách hàng về các điều khoản và điều kiện thực hiện
kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác định mục
tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức Báo
cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lý khi
tranh chấp hợp đồng. Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức
trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ lợi ích của khách
hàng và công ty kiểm toán.
Hợp đồng kiểm toán sẽ bao gồm các nội dung sau:
Một là, Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là
cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán
cụ thể. Phạm vi kiểm toán là giới hạn về không gian và thời gian của đối
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tượng kiểm toán, thường được xác định cùng với việc xác định mục tiêu
của cuộc kiểm toán. Trong cuộc kiểm toán BCTC, phạm vi kiểm toán
thường là toàn bộ BCTC của một năm tài chính.
Hai là, Trách nhiệm của BGĐ khách hàng và KTV : Ban Giám đốc có
trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên BCTC,
KTV có trách nhiệm đưa ra ý kiến độc lập về BCTC dựa trên kết quả của
cuộc kiểm toán và trách nhiệm của công ty khách hàng trong việc cung cấp
tài liệu và thông tin liên quan đến công việc kiểm toán.
Ba là, Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán
thường được biểu hiện cụ thể dưới một Báo cáo kiểm toán có kèm theo một
thư quản lý trong đó nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát
nội bộ hoặc những gợi ý sửa chữa khiếm khuyết này.
Bốn là, Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán bao gồm: thời gian nghiên
cứu sơ bộ, thời gian kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và
phát hành Báo cáo kiểm toán.
Năm là, Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
Sáu là, Xác định rằng kiểm toán viên không chịu trách nhiệm những sai
sót do bản chất và hạn chế vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và
kiểm toán.
Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý để KTV chính thực hiện các bước
tiếp theo của cuộc kiểm toán và có ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của
KTV đối với khách hàng. Sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết, công ty
kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của khách hàng.
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở
1.2.2.2.1 Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
Những yếu tố, đặc điểm, nghiệp vụ đặc thù trong từng lĩnh vực kinh
doanh có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc kiểm tra của KTV
hoặc đến báo cáo kiểm toán. Để nhận biết những yếu tố này, KTV cần tìm
hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng. Những hiểu biết về ngành nghề
kinh doanh của khách hàng bao gồm những hiểu biết chung về nền kinh tế,
lĩnh vực hoạt động của khách hàng và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức và
hoạt động của khách hàng. KTV còn phải tìm hiểu những khía cạnh đặc thù
của một tổ chức cụ thể như: cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản
xuất, cơ cấu vốn, chức năng và vị trí của kiểm toán nội bộ… để hiểu rõ các
nghiệp vụ và các hoạt động có thể tác động đến BCTC và để thực hiện quá
trình so sánh khách hàng này với các đơn vị khác trong ngành đó.
1.2.2.2.2 Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán
chung
Hồ sơ kiểm toán của các năm trước thường chứa đựng nhiều thông tin
về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm
hoạt động khác. Ngoài ra, đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ
kiểm toán chung đối với khách hàng. Hồ sơ này có các bản sao của các tài
liệu như: sơ đồ tổ chức bộ máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế
toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về công
việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập nhật và xem xét sổ sách của
công ty rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên không chỉ xác định được các
quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của Nhà nước, đối với
chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp kiểm toán viên
hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên
các BCTC được kiểm toán.
1.2.2.2.3 Thăm quan nhà xưởng
Việc thăm quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy
tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng và nó cũng cho
phép kiểm toán viên gặp các nhân vật chủ chốt cũng như cung cấp cho
kiểm toán viên một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách
hàng. Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, phát
hiện những vấn đề cần quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy
móc lạc hậu… Ngoài ra, KTV cũng có được những nhận định ban đầu về
phong cách quản lý của BGĐ, tính hệ thống trong việc sắp đặt công việc.
1.2.2.2.4 Nhận diện các bên hữu quan
Các bên hữu quan là các bộ phận trực thuộc các chủ sở hữu chính thức
của công ty khách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân tổ chức
đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các
chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng.
Theo nguyên tắc kế toán được thừa nhận, bản chất mối quan hệ giữa các
bên hữu quan phải được tiết lộ trên các sổ sách, báo cáo và qua mô tả các
nghiệp vụ kinh tế. Do vậy, các bên hữu quan và các nghiệp vụ giữa các bên
hữu quan có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng BCTC. KTV
phải xác định các bên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này
ngay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấn BGĐ, xem sổ theo
dõi cổ đông, theo dõi khách hàng… Từ đó, KTV dự đoán các vấn đề có thể
phát sinh giữa các bên hữu quan để hoạch định một kế hoạch kiểm toán
phù hợp.
1.2.2.2.5 Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài
Trong một số trường hợp, công ty kiểm toán cho rằng không ai trong
nhóm kiểm toán có chuyên môn hoặc có khả năng về lĩnh vực nào đó để
thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết. Chủ nhiệm kiểm toán xác định
được nhu cầu sử dụng các chuyên gia bên ngoài phục vụ cho cuộc kiểm
toán. Khi sử dụng chuyên gia, KTV phải đánh giá khả năng chuyên môn,
hiểu mục đích, phạm vi công việc của họ cũng như sự phù hợp của việc sử
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng tư liệu đó cho các mục tiêu dự định. Đồng thời, xem xét mối quan hệ
giữa chuyên gia với khách hàng, những yếu tố có ảnh hưởng tới tính khách
quan của chuyên gia đó.
1.2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
1.2.2.3.1 Giấy phép thành lập và điều lệ công ty
Việc thu thập các tài liệu này giúp KTV hiểu được quá trình hình thành,
mục tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị cũng
như cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các phòng ban…
1.2.2.3.2 Các Báo cáo tài chính, Báo cáo kiểm toán, thanh tra của năm hiện
hành hay trong vài năm trước
Các BCTC cung cấp dữ liệu về tình hình tài chính và kết quả hoạt động
kinh doanh của đơn vị, giúp kiểm toán viên nhận thức được tổng quát vấn
đề và dựa trên cơ sở đó, áp dụng các kỹ thuật phân tích các báo cáo này để
nhận thức được xu hướng phát triển của khách hàng. Đây là tài liệu quan
trọng nhất trong một cuộc kiểm toán BCTC. Ngoài ra, việc xem xét các
Báo cáo kiểm toán, các biên bản kiểm tra, thanh tra sẽ giúp kiểm toán viên
nhận thức rõ hơn về thực trạng hoạt động của đơn vị khách hàng và dự kiến
phương hướng kiểm tra.
1.2.2.3.3 Biên bản cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc
Đây là những tài liệu chính thức và tóm lược về những vấn đề quan
trọng nhất đã được thảo luận và quyết định chính thức trong các cuộc họp
đó. Các biên bản này thường chứa đựng những thông tin quan trọng như:
công bố về cổ tức, phê chuẩn việc hợp nhất hoặc giải thể đơn vị trực
thuộc… Điều này giúp KTV xác định những dữ kiện có ảnh hưởng quan
trọng đến việc hình thành và trình bày trung thực trên BCTC. Trước khi
cuộc kiểm toán hoàn thành, KTV cần phải kiểm tra đối chiếu các kết quả
thu được trong quá trình kiểm toán với các quyết định đưa ra trong các
cuộc họp để đảm bảo là ban giám đốc đã tuân thủ các biện pháp được hội
đồng quản trị đề ra.
Vũ Thị Minh Nguyệt Kiểm toán 46B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét