định và thực hiện các giao dịch mua bán qua chuyển khoản. Do đó, quan hệ tài
chính giữa doanh nghiệp và các ngân hàng trở thành quan hệ vốn có bền vững.
Với thị trờng vốn: Doanh nghiệp có thể tạo đợc nguồn vốn dài hạn bằng cách
phát hành các chứng khoán cuả mình nh: cổ phiếu, kỳ phiếu mặt khác doanh
nghiệp có thể tiến hành kinh doanh chứng khoán trên thị trờng này để kiếm lời.
c. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị tr ờng khác:
Với t cách là chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp quan hệ với thị trờng cung cấp
đầu vào và thị trờng phân phối tiêu thụ đầu ra, đó là thị trờng hàng hoá dịch vụ, thị
trờng sức lao động Thông qua các thị tr ờng này, doanh nghiệp có thể xác định
nhu cầu sản phẩm và dịch vụ cung ứng, trên cơ sở đó doanh nghiệp xác định số
tiền vốn đầu t sản xuất, nghiên cứu thị trờng nhằm thoả mãn các nhu cầu thị tr -
ờng và thu đợc lợi nhuận tối đa với lợng chi phí bỏ ra thấp nhất, có khả năng cạnh
tranh cao nhất.
d. Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp :
Biểu hiện của quan hệ này là sự luân chuyển vốn trong doanh nghiệp. Đây là
các quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh với nhau, giữa các
đơin vị thành viên với nhau, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các
quan hệ này đợc biểu hiện thông qua chính sách tài chính của doanh nghiệp nh:
Chính sách phân phối thu nhập, chính sách về cơ cấu nguồn vốn, chính sách về đầu
t và cơ cấu đầu t
e. Các quan hệ tài chính khác :
Bên cạnh các quan hệ tài chính Nhà nớc, các thị trờng và nội bộ doanh nghiệp,
cần có các quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các nhà đầu t, các nhà quản
lý trong việc quyết định đầu t hay rút lui đầu t của doanh nghiệp và các quan hệ
tài chính giữa các doanh nghiệp với nhau.
Thông qua việc giải quyết mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp với môi tr-
ờng xung quanh giúp doanh nghiệp xác định nhu cầu các yếu tố đầu vào, khả năng
- 5 -
cung ứng hàng hoá và dịch vụ đầu ra, tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động đủ,
kịp thời nghuồn vốn phục vụ kinh donh, sử dụng linh hoạt các công cụ huy động
vốn, xác định chính xác giá trị doanh nghiệp trên thị trờng nhằm thúc đẩy doanh
nghiệp không ngừng hoàn thiệ các phơng thức kinh doanh để đạt hiệu quả cao hơn.
1.2.Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tài chính hiện hành của doanh nghiệp với quá khứ hay so sánh giữa
các doanh nghiệp khác nhau trong cùng một ngành kinh tế. Thông qua việc phân
tích tình hình tài chính, ngời sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng hiệu quả
kinh doanh cũng nh những rủi ro trong tơng lai và triển vọng của doanh nghiệp.
Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của
nhiều nhóm ngời khác nhau nh: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhà đầu t,
các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, các nhà quản lý, các nhân viên
ngân hàng, các nhà bảo hiểm, kể cả các cơ quan chính phủ và ngời lao động. Mỗi
một nhóm ngơig này có những nhu cầu thông tin khác nhau nên có những cách
nhìn khác nhau về tình hình tài chính của công ty. Song trên thực tế, những nhóm
ngời này đều dựa trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần quan tâm để đa
ra các quyết định đầu t đúng đắn nhất, phù hợp với họ nhất.
Đối vói doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng
đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Thông thờng, để tối đa hoá
nguồn vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp thờng có xu hớng sử dụng đòn bẩy tài
chính. Nhng cái gì cũng có mặt trái của nó đó là rủi ro rất cao có thể dẫn tới nguy
cơ phá sản của doanh nghiệp do tính thanh khoản của các dòng tiền thấp, không có
đủ khả năng trả nợ. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không đi vay, không huy động
thêm vốn để mở rộng khả năng kinh doanh của mình thì nguồn vốn chủ sỏ hữu của
doanh nghiệp có thể bị bào mòn dần và sẽ không tiếp tục kinh doanh đợc. Do đó,
- 6 -
đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, điều đặc biệt cần lu ý đó là phải có
các chính sách bổ sung kịp thời nhằm điều tiết sự chênh lệch giữa việc huy động
vốn và sử dụng vốn của mình một cách hợp lý thông qua việc phân tích các chỉ tiêu
từ các bản báo cáo tài chính.
Đối với các chủ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, mối quan tâm của họ
chủ yếu hớng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đăc biệt chú ý tới
số lợng tiền mặt, các chứng khoán khả mại, các khoản phải thu, hàng tồn kho tức
tài sản lu động của doanh nghiệp và khả năng chuyển đổi thành thành tiền nhanh
của chúng, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết đợc khả năng thanh toán tức
thời của doanh nghiệp đó. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các tổ chức tín dụng
còn quan tâm tới nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bởi vì đó chình là khoản
bảo hiểm cho họ trong trờng hợp doanh nghiệp kinh doanh gặp phải rủi ro. Do vậy,
việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho họ tránh đợc những
rủi ro đáng tiếc trong quan hệ tín dụng nh hiện tợng thông tin không cân xứng hay
rủi ro đạo đức.
Đối với các nhà đầu t, họ cần có những thông tin về điều kiện tài chính, tình
hình hoạt động và kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trởng của doanh
nghiệp để nắm đợc các yếu tố về rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng
thanh toán vốn. Đồng thời, các nhà đầu t cũng quan tâm tới việc điều hành hoạt
động và tính hiệu quả của công tác quản lý. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an
toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu t đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế Việt
Nam hiện nay đang bắt đầu thành lập thị trờng chứng khoán buộc các doanh
nghiệp đăng ký niêm yiết chứng khoán phải công khai tình hình tài chính thông
qua các báo cáo tài chính- kế toán dới sự giám sát của các công ty kiểm toán.
Đối với các nhà cung ứng sản phẩm hàng hoá đầu vào họ cần phải xem xem
có nên cho doanh nghiệp mua chịu hàng hoá hay không. Do đó họ cần phải biết
- 7 -
khả năng thanh toán của khách hàng hiện tại và thời gian sắp tới cũng nh uy tín của
khách hàng trong quan hệ vay mợn, thanh toán nợ.
Phân tích tài chính còn rất cần thiết đối với các co quan thuế, cơ quan tài
chính, thống kê, chủ quản những ngời lao động Sở dĩ họ cần những thông tin này
là do họ có liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp nh nghĩa vụ
nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng
nh quyền lợi đợc hoàn lại thuế và hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp từ phía
Chính phủ.
Nh vậy, phân tích tình hình tài chính là rất cần thiết, nhó đó mà giúp những
ngời ra quyết định lựa chọn phơng án kinh doanh tối u và đánh giá chính xác thực
trạng, tiềm năng của doanh nghiệp.
II. Hệ thống báo cáo tài chính công cụ để phân tích tình
hình tài chính của doanh nghiệp .
2.1. Mục đích và nội dung của báo cáo tài chính .
* Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn
và công nợ cũng nh tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp. Những báo cáo này do kế toán soạn thoả theo định kỳ nhằm mục đích
cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Bởi vậy, hệ
thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp đợc lập với mục đích sau:
+ Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản,
công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong một kỳ hạch toán nh: Tài sản lu động, tài sản cố định, nợ ngắn hạn, nợ dài
hạn, nguồn vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán hay doanh thu, thu nhập tr-
- 8 -
ớc lãi và thuế, thu nhập sau thuế trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp .
+ Cung các các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình
hình và kết quả hoạt động, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt
động đã qua và những dự đoán trong tơng lai. Thông tin của báo cáo tài chính là
căn cứ quan trọng để đè ra những quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh, hoặc đầu t vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, các nhà đầu t, các
chủ nợ hiện tại và tơng lai của doanh nghiệp.
*Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp gồm 4 biểu mẫu báo cáo:
+ Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
+ Báo cáo lu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN)
+ Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B04-DN)
Ngoài ra còn tồn tại một số báo cáo khácphục vụ các yêu cầu của doanh
nghiệp nh báo cáo giá thanhf sản phẩm dịch vụ, báo cáo chi tiết kết quả kinh
doanh, báo cáo chi tiết công nợ
Nội dung phơng pháp tính toán, hình thức trình bày các chỉ tiêu trong từng báo
cáo quy định trong chế độ này đợc áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp.
2.2.Trách nhiệm, thời hạn lập báo cáo tài chính .
+ Tất cả các doanh nghiệp độc lập ( không nằm trong cơ cấu tổ chức của
một doanh nghiệp khác) có t cách pháp nhân đầy đủ đều phải lập và gửi báo cáo tài
chính theo đúng quy định. Riêng báo cáo lu chuyển tiền tệ, tạm thời cha quy định
là phải lập và gửi nhng Nhà nớc đang khuyến khích các doanh ghiệp thực hiện điều
này.
- 9 -
+ Báo cáo tài chính quý:
Đối với các doanh nghiệp Nhà nớc nh các doanh nghiệp trong tổng công ty
và các doanh nghiệp hạch toán độc lập không nằm trong tổng công ty lập và gửi
báo cáo tài chính quý chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý.
Đối với doang nghiệp cấp tổng công ty lập và gửi chậm nhất là 45 ngày kể
từ ngày kết thúc quý.
+ Báo cáo tài chính năm:
Đối với các doanh nghiệp hạch toán độc lập và hạch toán phụ thuộc tổng
công ty ; các doanh nghiệp hạch toán độc lập không nằm trong tổng công ty thòi
hạn lập và gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm.
Đối với tổng công ty, thời hạn lập và gửi báo cáo chậm nhất là 90 ngày kể từ
ngày kết thúc năm.
Đối với các doanh nghiệp t nhân, công ty hợp danh, thời hạn lập và gửi
chậm nhất là 30 ngày.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác, nếu có năm tài chính khác với năm
lịch thì thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết
thúc năm tài chính.
- 10 -
2.3.Bảng cân đối kế toán .
2.3.1. Bản chất và ý nghĩa của bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng
quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh
nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Số liệu trên BCĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp
theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành các tài sản đó. Căn
cứ vào BCĐKT có thể nhận xét, đành giá khái quát tình hình tài chính của doanh
nghiệp.
2.3.2 Nội dung và kết cấu của BCĐKT
BCĐKT đợc chia làm 2 phần: Phần Tài sản và Phần Nguồn vốn
* Phần Tài Sản: Các chỉ tiêu ở phần Tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản
hiện có của doanh nghiệp tai thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn
tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản đợc phân chia
nh sau:
+ Tài sản lu động và đầu t ngắn hạn gồm: Tiền ( tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân
hàng, tiền đang chuyển); Các khoản phải thu ( phải thu của khách hàng, trả trớc
cho ngời bán, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác, dự phòng các khoản phải
thu khó đòi ); Hàng tồn kho (TSLĐ nằm trong quá trình dự trữ chuẩn bị sản xuất,
TSLĐ đang trong quá trình trực tiếp sản xuất, TSLĐ nằm trong quá trình dự trữ
tiêu thụ, dự phòng giảm giá hàng tồn kho) ; TSLĐ khác nh tạm ứng cho ngời lao
động, chi phí trả trớc, các khoản cầm cố, ký quỹ ngắn hạn, ký cợc ; Vốn lu động
thờng xuyên cần thiết
Tài sản đầu t ngắn hạn bao gồm những tài sản đầu t tài chính có thời hạn thu
hồi vốn không quá 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.
+Tài sản cố định và tài sản đầu t dài hạn
Tài sản cố định bao gồm nhà xởng, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp.
- 11 -
Tài sản đầu t dài hạn gồm những tài sản đầu t tài chính có thời hạn hồi vốn
trên một năm.
Về mặt ý nghĩa kinh tế: Qua xem xét phần tài sản cho phép đánh giá tổng
quát năng lực và trình độ sử dụng tài sản.
Về mặt ý nghĩa pháp lý: Thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản
lý sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu đợc các khoản lợi ích trong tơng lai.
*Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành tải sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý
của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sự dụng của doanh nghiệp.
Nguồn vốn đợc chia ra:
+ Nợ phải trả
+ Nguồn vốn chủ sở hữu
Mỗi phần của BCĐKT đều đợc phản ánh theo 3 cột: Mã số, số đầu năm, số
cuối kỳ.
Về mặt ý nghĩa kinh tế: Ngời sử dụng thấy đợc thực trạng kinh tế của doanh
nghiệp.
Về mặt pháp lý: Ngời sử dụng BCĐKT thấy đợc trách nhiệm của doanh
nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh của Nhà Nớc, về số tài sản đợc hình
thành từ các nguồn vay ngân hàng, vay của các đối tợng khác cũng nh trách
nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với ngời lao động, với Nhà Nớc, với nhà cung
cấp
Hai phần của BCĐKT là tài sản và nguồn vốn có số tổng bao giờ cũng bằng
nhau cụ thể là:
Tổng Tài Sản = Tổng Nguồn Vốn
Hoặc Tổng Tài Sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Hay Tài sản lu động + Tài sản cố định = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở
hữu
- 12 -
Ngoài ra, BCĐKT còn có thêm các phần phụ phản ánh các chỉ tiêu dài hạn
không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nh: Ngoại tệ các loại, vốn khấu hao,
tài sản thuê ngoài, hàng hoá nhận gia công chế biến
2.3.3. Cơ sở số liệu để lập BCĐKT
+ Căn cứ vào BCĐKT kỳ trớc
+ Căn cứ vào số liệu từ sổ cái các khoản tổng hợp và chi tiết.
+ Căn cứ vào các tài liệu khác.
+ Căn cứ vào bảng cân đối tài khoản.
2.3.4. Phơng pháp lập BCĐKT
* Các công việc phải làm tr ớc khi lập BCĐKT :
+ Kiểm tra kỹ nội dung phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kế
toán có liên quan.
+ Khoá sổ và rút số d các tài khoản.
+ Đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán có liên quan
* Ph ơng pháp lập :
+ Cột sốđầu năm căn cứ vào số liệu ở cột số cuối kỳ trên bảng cân đối tài
sản ngàu 31/12 năm trớc để ghi vào các chỉ tiêu tơng ứng.
+ Đối với số cuối kỳ của những chỉ tiêu phản ánh ở phần tài sản căn cứ vào
số d bên nựo của các tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 trong soỏ cái tơng ứng để ghi. Đối
với chỉ tiêu điều chỉnh giảm tài sản nh : Dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn (TK
129); Dự phòng các khoản phải thu khó đòi ( TK 139); Dự phòng giảm giá hàng
tồn kho ( TK159); Giá trị hao mòn luỹ kế (TK214); Dự phòng giảm giá đầu t dài
hạn ( TK 229) luôn có số d bên Có khi lập BCĐKT vẫn phải phản ánh ở phần tài
sản nhng đợc ghi đỏ.
+ Đối với cột số cuối kỳ của những chỉ tiêu ở phần nguồn vốn thì đợc ghi
bằng cách lấy số d bên Có của các tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 tơng ứng. Nhng
riêng các chỉ tiêu: Chênh lệch đánh giá lại tài sản( TK 412), Chênh lệch tỷ giá( TK
- 13 -
413); và lãi cha phân phối( TK 421) có cả d Nợ và d Có. Vì vậy, nếu các tài khoản
này có số d bên Có thì ghi bằng mực đen bình thờng vì là nguồn vốn chủ sử hữu
tăng lên. Ngợc lại, nếu các tài khoản đó có số d bên Nợ thì đợc ghi với số âm.
+ Đối với các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán thì đợc ghi theo sổ cái
các tài khoản tơng ứng.
BCĐKT tuy là báo cáo quan trọng nhất trong các báo cáo tài chính nhng nó
chỉ phản ánh một cách toỏng quát tình thình tài sản của doanh nghiệp, nó không
cho biết về kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ nh các chỉ tiêu doanh thu, chi
phí, lọi nhuận. Nh vậy, để biết thêm các chỉ tiêu đó chúng ta cần xem xét trên báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
2.4. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (BCKQHĐSXKD)
2.4.1. Bản chất và ý nghĩa của BCKQHĐSXKD
BCKQHĐSXKD là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình
và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt
động kinh doanh chính và các hoạt động khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ với
Nhà Nớc về thuế và các khoản phải nộp khác.
2.4.2 Nội dung và kết cấu của BCKQHĐSXKD
Báo cáo gồm 3 phần:
+ Phần 1: Lãi, lỗ: phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động khác. Tất cả các chỉ
tiêu trong phần này đều trình bày số liệu của kỳ trớc ( để so sánh) tổng số phát sinh
trong kỳ báo cáo và số luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo.
+ Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nớc nh nộp thuế, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và các khoản nộp khác. Tất cả các chỉ
tiêu trong phần này đều đợc trình bày: Số còn phải nộp kỳ trớc chuyển sang; Số
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét