Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Lịch Sử Việt Nam

Lịch sử Việt Nam được nhiều nhà sử học ghi nhận là có bề dày khoảng 3000 đến 4000
năm hoặc nhiều hơn thế
[1]
.
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam
từ thời kỳ Đồ đá cũ. Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn tại vùng
này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là nghệ thuật trồng lúa nước.
Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổ sông Hồng-Văn minh sông Hồng và sông Mã
này đã khai hóa đất để trồng trọt, tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự nước lụt của các
sông, đào kênh để phục vụ cho việc trồng lúa và đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn
hoá làng xã.
Khu vực nay là Việt Nam đã có người ở từ thời kỳ Đồ đá cũ. Các nhà khảo cổ đã tìm ra
các nơi cư ngụ tại Núi Đọ, Ninh Bình và Nga Sơn, Thanh Hóa
[cần dẫn nguồn]
. Các nhà khảo cổ
đã liên kết sự khởi đầu của nền văn minh người Việt ở cuối thời kỳ Đồ đá mới và đầu thời
kỳ đồ đồng (vào khoảng hơn 2500 năm trước Công Nguyên)
[cần dẫn nguồn]
. Nền văn hóa Phùng
Nguyên, nằm xung quanh tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ ngày nay, xuất hiện từ năm 2000
TCN đến năm 1400 TCN
[cần dẫn nguồn]
. Đến khoảng 1200 TCN, sự phát triển của kỹ thuật
trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn
đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng. Các vũ khí, dụng
cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn cho thấy sự ảnh hưởng lên Đông
Nam Á và cũng minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây. Nhiều mỏ
đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Nền văn hóa Đông Sơn có điểm
giống nhau với những nền văn hóa được khai quật khác tại Đông Nam Á (Khu mộ thuyền
Prâyviêng, Cánh đồng Chum - Lào, Các khu di tích khảo cổ Phukhet - Thái lan v.v )
[cần dẫn nguồn]
, ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và
bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen.
[sửa] Thời Hồng Bàng
Bài chi tiết: Hồng Bàng
[sửa] Nước Xích Quỷ
Theo một số tài liệu cổ sử chưa có căn cứ chắc chắn
[2]
., các tộc người Việt cổ (Bách Việt)
lập quốc đầu tiên ở miền Lĩnh Nam, bao gồm một vùng rộng lớn phía nam sông Trường
Giang của Trung Quốc hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền bắc Việt
Nam. Truyền thuyết cho biết nhà nước của người Việt được hình thành từ năm 2879 TCN
tại vùng Hồ Động Đình (Hồ Nam-Trung Quốc), đến thời Xuân Thu-Chiến Quốc (thế kỷ 8
TCN đến thế kỷ 3 TCN) do các sức ép từ các vương quốc Sở, Tần ở miền bắc Trung Quốc
và làn sóng người Hoa Hạ chạy tỵ nạn chiến tranh từ miền Bắc xuống nên dần dần các tộc
người Việt cổ bị mất lãnh thổ, bị đồng hóa vào người Hoa Hạ. Đỉnh điểm là vào thời Tần
Thủy Hoàng lãnh thổ của Trung Hoa kéo xuống tận ven biển phía nam Quảng
Đông
[cần dẫn nguồn]
.
Vương quốc của các tộc người Việt cổ (Xích Quỷ) thời kỳ này có thể nói đây là một "liên
bang" lỏng lẻo giữa các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở
Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu
Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền bắc Việt Nam
[3]

[sửa] Nước Văn Lang
Lãnh thổ nước Văn Lang năm 500 TCN
Theo tục truyền, các đời Hùng Vương trị vì nước Văn Lang của người Lạc Việt (tên này
được ghi trong sử sách người Trung Quốc) được thành lập vào khoảng thế kỷ 7 TCN tại
khu vực miền bắc Việt Nam ngày nay, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ). Người Lạc Việt
được xem như là tổ tiên của người Việt Nam hiện đại.
• Các tài liệu nghiên cứu hiện đại
[4]
phần lớn đều đồng ý theo Việt sử lược về một
vương quốc Văn Lang của người Lạc Việt có niên đại thành lập vào thế kỷ 7 TCN
cùng thời Chu Trang Vương (696 TCN - 682 TCN) ở Trung Quốc. Vương quốc
này tồn tại ở vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam và đã có giao lưu với
nước Việt (Yue) của Việt vương Câu Tiễn (Lạc Câu Tiễn) ở khu vực hạ lưu sông
Trường Giang - Trung Quốc ngày nay.
[sửa] Nước Âu Lạc
Đến thế kỷ thứ 3 TCN, Thục Phán từ nước Thục (phía đông bắc Văn Lang) của người Âu
Việt đã bắt vua Hùng Vương thứ 18 nhường ngôi cho mình và lập nên nước Âu Lạc, đóng
đô tại Cổ Loa, ngày nay là huyện Đông Anh (Hà Nội).
[sửa] Thời Bắc thuộc
[sửa] Nam Việt
Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu - thời Chiến Quốc) là quan úy quận Nam Hải
(Quảng Đông ngày nay) nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chết của Tần Thủy Hoàng (210
TCN) đã cát cứ vùng đất quận Nam Hải, đánh chiếm các khu vực lân cận như Âu Lạc, Quế
Lâm (Quảng Tây).
Khi Lưu Bang lên ngôi nhà Hán, Triệu Đà khôi phục và thống nhất các khu vực ông quản
lý ở Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam ngày nay và tạo ra một vương quốc
tên là Nam Việt (南越). Chữ "Việt" ( 越 Yue) là tên được người Trung Quốc đặt cho những
người sống ở vùng đất phía nam của đế quốc nhà Hán, kể cả thổ dân đồng bằng sông
Hồng. Triệu Đà chia vương quốc Nam Việt thành 9 quận quân sự, ba quận phía nam - Hợp
Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân - là phần đất của Âu Lạc. Các Lạc hầu vẫn cai quản vùng châu
thổ sông Hồng, nhưng với địa vị chư hầu cho Nam Việt.
[sửa] Nhà Hán
Lãnh thổ Việt Nam thuộc nhà Hán năm 87 TCN
Năm 111 TCN, quân của Hán Vũ Đế xâm lược nước Nam Việt và sáp nhập Nam Việt vào
đế chế Hán. Người Trung Quốc muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng để có điểm dừng
cho tàu bè đang buôn bán với Ấn Độ và Indonesia
[cần dẫn nguồn]
. Trong thế kỷ thứ nhất, các
tướng Lạc vẫn còn được giữ chức. Trong thế kỷ thứ 1, Trung Quốc bắt đầu chính sách
đồng hóa các lãnh thổ bằng cách tăng thuế và cải tổ luật hôn nhân để biến Việt Nam thành
một xã hội phụ hệ để dễ tiếp thu quyền lực chính trị hơn. Một cuộc khởi nghĩa do Hai Bà
Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở quận Giao Chỉ, tiếp theo sau đó là các quận Cửu Chân, Nhật
Nam, Hợp Phố và các địa phương khác của vùng Lĩnh Nam (mà theo cổ sử Việt ghi nhận
là có tất cả 65 thành trì) hưởng ứng trong năm 40. Sau đó nhà Hán phái tướng Mã Viện
sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa bị tướng Mã
Viện đàn áp. Do bị cô lập và quân đội chưa tổ chức hoàn thiện nên không đủ sức chống cự
lại quân do Mã Viện chỉ huy, Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí
tiết. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được coi là sự kiện đấu tranh giành lại quyền độc
lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
[sửa] Sau nhà Hán
Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc khác thay nhau đô hộ Việt
Nam. Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán. Tuy nhiên, sau
1000 năm Bắc thuộc, người Việt giành được độc lập vào năm 938.
Trong hơn 1.000 năm bị Trung Hoa cai trị, người Việt chịu ảnh hưởng bởi thể chế chính
trị, xã hội và văn hóa của các chế độ phương Bắc.
Người Việt cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa đang phát triển ở Đông Á. Mặc
dù lúc đó Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo Nguyên thủy. Phật
giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Lão giáo và thêm vào đó là các tín ngưỡng dân
gian địa phương
[cần dẫn nguồn]
.
[sửa] Thời phong kiến độc lập
Bài chi tiết: Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ
[sửa] Xây dựng và bảo vệ đất nước
Lãnh thổ Việt Nam mở rộng sau các cuộc Nam tiến (1069-1757)
Năm 938, Việt Nam giành được độc lập. Năm 968, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, năm 1054
đổi tên thành Đại Việt. Đại Việt trải qua nhiều chế độ phong kiến: nhà Lý (thế kỷ 11, 12),
nhà Trần (thế kỷ 13, 14), nhà Hồ (đầu thế kỷ 15), nhà Hậu Lê (thế kỷ 15, 16, 17, 18), nhà
Tây Sơn (cuối thế kỷ 18).
Trong thời kỳ này các vương triều Trung Hoa mang quân sang xâm lược, nhưng đều bị
Việt Nam đẩy lùi: Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đẩy lui 2 lần quân nhà Tống (thế kỷ 10 và
11), nhà Trần đánh bại quân nhà Nguyên 3 lần (thế kỷ 13). Đầu thế kỷ 15 nhà Minh xâm
chiếm được Việt Nam và cai trị trong 20 năm, nhưng cũng bị Lê Lợi nổi lên đánh đuổi và
thành lập nhà Hậu Lê, cuối thế kỷ 18 nhà Thanh sang xâm lược cũng bị Nguyễn Huệ đánh
bại. Tuy nhiên, từ thế kỷ 18 trở đi phong kiến Việt Nam đã bắt đầu suy yếu.
Lịch sử Việt Nam, từ khi Đại Việt độc lập vào thế kỷ 10, mang dấu ấn của hai khuynh
hướng chính
[5]
. Dấu ấn đầu là sự phát triển nhà nước Nho giáo theo mô hình kiểu Trung
Hoa. Sang đến thế kỷ 15 thì Đại Việt có một cơ cấu chính quyền tương tự nước láng giềng
Trung Hoa; cơ cấu luật pháp, hành chính, văn chương và nghệ thuật đều theo kiểu Trung
Hoa.
Dấu ấn thứ hai là sự bành trướng xuống phương Nam. Với một quân đội có tổ chức hơn,
cuộc Nam tiến nhằm tìm đất nông nghiệp để cung cấp lương thực cho sự gia tăng dân số
của Đại Việt. Giữa thế kỷ 11 và 17, Đại Việt đã tiêu diệt vương quốc Champa (ngày nay là
miền Trung Việt Nam). Tiếp đó (thế kỷ 17, 18) xâm chiếm đồng bằng Nam Bộ của người
Khmer và vào đầu thế kỷ 19 cạnh tranh giành ảnh hưởng với Thái Lan ở Campuchia.
Việt Nam trong thời phong kiến phát triển vẫn dựa vào nông nghiệp mà chủ yếu là trồng
lúa nước để cung cấp lương thực, từng triều đại đã lần lượt cho đắp đê ngăn lũ lụt, đào
kênh dẫn nước cũng như giao thông đi lại, khai hoang các vùng đất đồng bằng ven biển để
tăng diện tích trồng trọt. Các hoạt động sản xuất, thương mại hầu như chưa phát
triển
[cần dẫn nguồn]
mặc dù vào thời nhà Lý, nhà Trần đã có buôn bán với các vương quốc trong
vùng tại cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), thời Trịnh - Nguyễn buôn bán với Châu Âu tại các
trung tâm như Thăng Long, Hội An.
[sửa] Chia cắt và tái thống nhất lãnh thổ
Bài chi tiết: Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1789-1802)
Vào thế kỷ 16, Việt Nam có nội chiến và đến thế kỷ 17 thì bị chia đôi: chúa Trịnh ở miền
Bắc và chúa Nguyễn ở miền Nam. Lấy ranh giới là sông Gianh thuộc châu Bố Chính, nay
là phía bắc Quảng Bình. Trong hai thế kỷ 17 và 18, các chúa Nguyễn ở miền Nam tiếp tục
mở rộng đất nước về phương Nam.
Sự khác biệt về văn hóa giữa hai miền có lẽ bắt nguồn từ cuộc Nam tiến này. Văn hóa Nho
giáo trong chính quyền miền Nam không phát triển nhiều, do họ chịu ảnh hưởng phần nào
của văn hóa Champa, Khmer và Thượng-Tây Nguyên. Ngày nay, người miền Bắc tiết
kiệm, bảo vệ nhóm, giỏi ứng xử; người miền Nam thoải mái trong đời sống, trong suy nghĩ
và thẳng thắn. Tổ chức hành chính cũng khác biệt. Cách tổ chức chính quyền tỉ mỉ ở miền
Bắc đã được đơn giản hóa ở miền Nam
[6]
.
Thời kỳ đất nước chia thành 2 lãnh thổ riêng biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong cũng là thời
kỳ hoạt động ngoại thương sôi động, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đều tham gia vào hệ
thống giao thương toàn cầu bởi các thương nhân Châu Âu, Nhật Bản, Trung Hoa đến Đại
Việt buôn bán. Người Hà Lan, Anh, Pháp lập các thương điếm tại Kẻ Chợ (Hà Nội), người
Bồ Đào Nha, Anh, Nhật Bản đặt các thương điếm tại Fairo (Hội An). Các mặt hàng chính
được xuất khẩu từ Đại Việt là tơ lụa, hồ tiêu, đồ sứ. Tuy nhiên sang đến thế kỷ 18 thì hoạt
động thương mại giảm sút ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài
[7]
.
Việt Nam thời Trịnh - Nguyễn phân tranh năm 1650
Từ giữa thế kỷ 18, các cuộc chiến liên tục với Xiêm, Chân Lạp ở Đàng Trong cũng như
các cuộc tranh chấp ở Đàng Ngoài làm cho đời sống người dân thêm cùng quẫn. Nhiều
cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra, song phần lớn chịu thất bại. Tới phong trào nổi dậy
của Tây Sơn bùng nổ năm 1771 tại Quy Nhơn - Bình Định là một cuộc "cách mạng nhân
dân"
[cần dẫn nguồn]
rộng lớn đánh bại hai chế độ cai trị của hai họ Nguyễn, Trịnh, chấm dứt
việc chia đôi đất nước, cũng như bãi bỏ nhà Hậu Lê vốn chỉ còn trên danh nghĩa. Nguyễn
Huệ trở thành vua Quang Trung của nhà Tây Sơn, đã đánh bại 5 vạn quân Xiêm (1784) tại
miền Nam và 20 vạn quân Mãn Thanh (1789) xâm lược tại miền Bắc.
Cuộc nổi dậy đẩy lùi cuộc xâm chiếm của Trung Hoa, thống nhất hầu hết lãnh thổ, và thay
đổi hệ thống thương gia người Hoa ở Việt Nam. Họ chỉ thực sự bị lúng túng khi điều hành
chính quyền thực tế
[cần dẫn nguồn]
. Do vậy triều Tây Sơn ngày càng suy yếu sau khi Quang
Trung chết năm 1792, nội bộ lục đục khiến thế nước càng ngày càng yếu, lòng người ly
tán.
Một người thuộc dòng dõi chúa Nguyễn ở miền Nam là Nguyễn Phúc Ánh, với sự hậu
thuẫn của một số người Pháp, đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802. Ông lên làm
vua, lấy niên hiệu là Gia Long và trở thành vua đầu tiên cai trị một đất nước thống nhất với
hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dải duyên hải.
An Nam Đại Quốc họa đồ năm 1838
Gia Long (1802-1820) đóng đô ở Huế (trung tâm của đất nước). Ông cho xây dựng Huế
tương tự như Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh. Gia Long và con trai Minh Mạng (cai trị 1820-
1841) đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm và phương pháp hành chính Trung
Hoa. Nhưng cố gắng này về lâu dài đã gây ra hậu quả xấu, đó là đất nước kém phát triển
rồi dẫn đến mất nước
[cần dẫn nguồn]
. Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam (đại diện tiêu
biểu là Nguyễn Trường Tộ) đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công
nghiệp - thương mại, nhưng họ chỉ là thiểu số. Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế
tục Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1847-1883) chọn chính sách đã lỗi thời là coi trọng
phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản) và ngăn cản Thiên chúa giáo, tôn giáo từ phương
Tây.
Những nhà truyền giáo người Pháp thực ra đã có mặt ở Việt Nam từ giữa thế kỷ 17. Họ
cũng hỗ trợ nhân lực và vật lực cho nhà Nguyễn trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn. Đến
giữa thế kỷ 19, có khoảng 450.000 người cải đạo sang Thiên chúa giáo
[cần dẫn nguồn]
. Chính
quyền thực sự lo ngại sự hình thành của một tôn giáo có tổ chức nên đã sát hại những
người theo đạo Thiên chúa giáo và san bằng nhiều xóm đạo.
[sửa] Thời Pháp thuộc
Quân Pháp tấn công quân Thanh tại Lạng Sơn năm 1885
Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn. Năm
1862, Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm
nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thực dân Cochinchine (Nam kỳ). Từ
năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua
những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc. Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do những mối bất
hòa giữa người Việt và người Hoa lưu vong. Chính quyền Việt Nam không thể kiểm soát
nổi mối bất hòa này. Cả Trung Hoa và Pháp đều coi khu vực này thuộc tầm ảnh hưởng của
mình và gửi quân đến đó, nhưng cuối cùng thì người Pháp đã chiến thắng.
Pháp tuyên bố là họ sẽ bảo hộ Bắc kỳ (Tonkin) và Trung kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy
trì các hoàng đế bù nhìn cho đến Bảo Đại (làm vua từ 1926 đến 1945 và quốc trưởng từ
1949 đến 1956). Năm 1885, các quan lại Việt Nam tổ chức phong trào kháng chiến Cần
Vương chống Pháp nhưng thất bại.
Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ
máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Ở trung ương là Phủ toàn
quyền Đông Dương. Đứng đầu Phủ toàn quyền gọi là Toàn quyền Đông Dương, là người
có quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị Pháp trên toàn cõi Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam
kỳ và Cao Miên. Đứng đầu ở 3 kỳ là: Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ
Bắc kỳ, cả ba đều nằm dưới quyền giám sát và điều khiển tối cao của viên Toàn quyền
Đông Pháp, trực thuộc bộ Thuộc địa. Đến năm 1893 quyền kiểm soát của Toàn quyền
Đông Pháp được mở rộng thêm, bao gồm cả Ai Lao.
Bản đồ Đông Dương năm 1886
Những người Việt cấp tiến đã thành lập Việt Nam Quốc dân đảng (giống Quốc Dân Đảng
ở Trung Hoa) năm 1927. Tuy nhiên, đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất
bại, Việt Nam Quốc dân đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm, một số thanh niên Việt
Nam theo chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng mau
chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận
Bình dân trong chính quyền Pháp.
Nhật Bản tấn công Đông Dương vào năm 1940 và nhanh chóng thỏa thuận được với chính
quyền Vichy ở Pháp để cho Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Chính quyền thực dân
Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật tấn công toàn bộ Đông Dương. Ngay sau
đó, Nhật thiết lập một chính quyền Bảo Đại bù nhìn với chính phủ do một nhà nho uy tín là
Trần Trọng Kim đứng đầu và quốc kỳ là cờ quẻ ly.
Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) thành lập năm 1941 với vai trò
một mặt trận của Đảng Cộng sản Đông Dương được điều hành từ Pắc Bó (ở biên giới Việt-
Trung) bởi Hồ Chí Minh khi ông trở về nước lần đầu tiên kể từ 1911 (năm ông rời Việt
Nam), mặc dù ông có liên hệ với những người Cộng sản trong nước trong các thập niên
1920 và 1930.
Đầu năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền
kinh tế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để
phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc kỳ và
Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói
này
[cần dẫn nguồn]
.
[sửa] Tuyên bố độc lập
Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lực lượng Việt Minh (dưới ngọn cờ
độc lập dân tộc hơn là xã hội chủ nghĩa) đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng
Tám, giành lấy quyền lực ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Họ kém thành công hơn ở
miền Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc
lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đầu năm 1946, một cuộc bầu cử đã
được tổ chức. Những người Cộng sản chiếm ưu thế, song các phe phái khác cũng được
mời tham gia chính phủ một cách rộng khắp. Quốc kì được chọn là cờ đỏ, sao vàng 5 cánh.
[sửa] Chiến tranh Đông Dương
Bài chi tiết: Chiến tranh Đông Dương
Tuy nhiên, Việt Nam chưa thực sự có được độc lập. Ở miền Bắc, Đồng Minh chỉ định
quân đội quốc gia Trung Hoa giải giới Nhật Bản. Quân Trung Hoa duy trì ở đó đến tháng 5
năm 1946 rồi chuyển giao cho Pháp trong sự chịu đựng của chính quyền Hồ Chí Minh.
Ngược lại, ở miền Nam, quân Nhật được giải giới bởi quân Anh-Ấn. Nhưng sau đó, quân
Anh-Ấn chán nản vì Sài Gòn quá hỗn độn đã chuyển giao cho Pháp. Cuối năm 1945, Pháp
trở lại miền Nam Việt Nam. Trong suốt năm 1946, chính quyền Hồ Chí Minh thương
lượng với Pháp, mặc dù hai bên cũng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh. Chiến tranh giữa
Việt Minh và Pháp bùng nổ tháng 12 năm 1946.
Đại đoàn 308 tiến vào tiếp quản thủ đô Hà Nội năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ
Vào đầu năm 1947, Pháp có vẻ thắng và nắm được toàn bộ vị trí chiến lược của Việt Nam.
Tuy nhiên, Việt Minh kiên trì với chiến lược "chiến tranh nhân dân", tổ chức và đào tạo
dân chúng cho một cuộc chiến vũ trang lâu dài. Trong thời gian này, Pháp dựng lên một
chính quyền bù nhìn đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại, với cờ quẻ ly là quốc kì. Chính
quyền này có sự tham gia của các quan lại cũ thân Pháp. Năm 1950, chính quyền cộng sản
Trung Hoa và Liên Xô bắt đầu trợ giúp Việt Minh với nhân lực và nguyên liệu. Bên kia,
Pháp được Mỹ hậu thuẫn. Nhưng đầu thập niên 1950, Pháp bắt đầu yếu đi ở Đông Dương.
Thất bại ở trận Điện Biên Phủ (gắn liền với tên tuổi nhà chiến lược quân sự Việt Minh Võ
Nguyên Giáp) vào tháng 5 năm 1954 đã kết thúc hoàn toàn nỗ lực của Pháp nhằm giữ Việt
Nam và toàn bộ Đông Dương.
[sửa] Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh
[sửa] Đất nước chia cắt
Sau trận chiến Điện Biên Phủ, các bên tham chiến đã họp tại Genève để tìm kiếm phương
cách giải quyết chiến tranh. Kết quả Hiệp định Genève được ký kết với nội dung là một
cuộc đình chiến và tạm phân đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Miền Bắc được lãnh đạo bởi Hồ
Chí Minh dưới tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam được lãnh đạo bởi Bảo Đại
(thoái vị năm 1945 và trở thành quốc trưởng bù nhìn dưới quyền Pháp năm 1949) dưới tên
Quốc gia Việt Nam. Một lượng lớn người theo Thiên chúa giáo ở miền Bắc là 1.100.000
đã di cư vào Nam
[cần dẫn nguồn]
.
Chính quyền Hồ Chí Minh xem Hiệp định Genève là một thắng lợi quan trọng vì hiệp định
này có dự định cho một cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956 để thành lập một quốc gia thống
nhất, một cuộc tuyển cử mà họ nghĩ là họ sẽ thắng vì vai trò phổ biến của Hồ Chí Minh lúc
đó. Cuộc tuyển cử đã không bao giờ diễn ra. Pháp triệt thoái, nhưng Mỹ hậu thuẫn Ngô
Đình Diệm, một tín đồ Thiên chúa giáo và một người quốc gia bảo thủ, lên làm Thủ tướng
dưới quyền Bảo Đại. Năm 1955, Ngô Đình Diệm thắng trong cuộc trưng cầu dân ý mà
nhiều người xem là giả tạo, cho phép ông lên làm Tổng thống của nền Đệ nhất Cộng hòa
của Việt Nam Cộng hòa. Bảo Đại lưu vong sang Pháp. Ngô Đình Diệm từ chối tham gia
vào tổng tuyển cử toàn quốc.
Hình:Peoplecourt4.jpg
Một vụ xử quyết diễn ra tại miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Cải cách ruộng đất
Ở miền Bắc, chính quyền Hồ Chí Minh kêu gọi những giá trị mang tính cộng đồng, hướng
lên xã hội chủ nghĩa, bao gồm nông nghiệp tập thể. Đa số dân chúng đã ủng hộ hết mình
cho chính quyền Hồ Chí Minh. Nhưng những sai lầm của công cuộc cải cách ruộng đất
theo chỉ dẫn của cố vấn Trung Quốc
[cần dẫn nguồn]
đã đấu tố giết hại hàng ngàn
[cần dẫn nguồn]
địa
chủ miền bắc. Cuộc thanh trừng Nhân văn Giai phẩm đưa đi cải tạo, kiểm điểm hoặc treo
bút nhiều trí thức, nhà văn, nhà báo vì họ viết bài không đúng ý nhà cầm quyền.
Tại miền Nam, Mỹ bắt đầu giúp chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một nền kinh tế thị
trường
[cần dẫn nguồn]
. Tuy nhiên những xáo trộn chính trị vào cuối thập niên 1950 tạo nên sự
mất ổn định. Chính quyền mới bắt đầu thực thi những chính sách "Tố cộng", "Diệt cộng",
đàn áp tôn giáo nhất là đạo Phật vốn chiếm số đông trong các tầng lớp dân chúng. Nhiều
cuộc thảm sát xảy ra như Vĩnh Trinh, Hướng Điền, (Quảng Trị), ở nhà tù Phú Lợi (tàn sát
hàng trăm tù nhân cộng sản bằng hơi độc).
Năm 1959, chính quyền miền Bắc hậu thuẫn cho tổ chức Mặt trận Giải phóng Dân tộc
(MTGPDT). MTGPDT kêu gọi lòng yêu nước và giá trị đạo lý của người Việt Nam, hứa
hẹn chống lại sự can thiệp Mỹ và thành lập chính quyền tốt đẹp hơn. Điểm lưu ý là vào
năm 1959, số người Mỹ tại miền Nam Việt Nam chỉ vào khoảng vài trăm người.
Đầu thập niên 1960, quân vũ trang của MTGPDT tấn công rộng lớn ở nông thôn miền
nam, và mở nhiều cuộc đánh bom
[cần dẫn nguồn]
ở Sài Gòn. Tổng thống Mỹ John F. Kennedy
tăng cường viện trợ cho Ngô Đình Diệm và gửi 17.500 "cố vấn" Mỹ đến Việt Nam vào
năm 1963 thực chất là để giật dây chính quyền này
[cần dẫn nguồn]
. Cả thế giới lên án chính
quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo khi một loạt các cuộc biểu tình của hàng vạn Phật
tử nổ ra ở các thành thị chủ yếu của miền nam. Điển hình có vụ nhà sư Phật giáo, hòa
thượng Thích Quãng Đức tự thiêu phản đối chế độ Ngô Đình Diệm. Thông cáo của Hoa
Kỳ gửi cho các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa kêu gọi họ chống lại những chính sách quá
khắt khe của Ngô Đình Diệm
[cần dẫn nguồn]
. Tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đảo
chính và ám sát Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng
hòa.
Không lâu sau khi Ngô Đình Diệm chết, Kennedy bị ám sát và Phó Tổng thống Lyndon B.
Johnson lên làm tổng thống Mỹ. Mới lên làm tổng thống, Johnson tuyên bố sẽ tiếp tục hỗ
trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa (ngày 24 tháng 11 năm 1963).
Cái chết của Ngô Đình Diệm làm cho miền Nam thêm không ổn định. Lãnh đạo quân sự
mới quá thiếu kinh nghiệm trong chính trị và không thể thâu tóm quyền lực trung ương
như dưới thời Ngô Đình Diệm. Việc đảo chính lan tràn khắp miền Nam đã cho chính
quyền miền Bắc nhiều lý do tin rằng đã đến lúc họ có thể trực tiếp can thiệp vào miền
Nam.
[sửa] Chiến tranh lan rộng
Bài chi tiết: Chiến tranh Việt Nam
Năm 1964, những trận đụng độ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tàu khu trục do thám
của Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ (ngày 7 tháng 4 năm 1964) là nguyên cớ khiến Johnson ra Nghị
quyết Vịnh Bắc Bộ, theo đó gửi quân đội Mỹ đến Việt Nam tham chiến. Về sau này người
ta mới được biết khi đó Hoa Kì sợ hiệu ứng domino cộng sản nên đã cố tình tìm cách can
thiệp vào Việt Nam và gây ra vụ này.
Chiến tranh Việt Nam bắt đầu bùng nổ năm 1964 ở khu vực Nam Việt Nam, các vùng biên
giới với Campuchia và Lào, và các trận không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam. Một bên
chiến cuộc là Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ, Hàn Quốc (Nam Hàn), Thái Lan, Úc, New
Zealand (Tân Tây Lan) và Philippines (Phi Luật Tân). Một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGP). Liên Xô và Trung
Quốc cung cấp hỗ trợ quân sự cho Bắc Việt Nam và MTDTGP nhưng không gửi quân sang
(cố vấn Trung quốc và Bắc Hàn được xác nhận đã hiện diện tại miền Bắc vào những năm
chiến tranh).
Việt Cộng cho nổ bom giữa Sài Gòn năm 1965
Ngày 8 tháng 3 năm 1965, 3.500 lính thuỷ quân lục chiến (Marine Corps) Hoa Kỳ trở
thành lính chiến đấu Mỹ đầu tiên đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, cộng thêm 25.000 cố
vấn Mỹ đang ở đây. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, Mỹ không kích Bắc Việt Nam. Ngày 29
tháng 7, 4.000 lính nhảy dù của Sư đoàn Không vận thứ 101 (của Hoa Kỳ) đến Việt Nam,
đổ bộ ở Vịnh Cam Ranh. Ngày 18 tháng 8, 5.500 hải quân Mỹ đụng độ trận đầu tiên với
MTDTGP ở đồn Vạn Tường (Quảng Ngãi).
Năm 1967, tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng hòa của
Việt Nam Cộng hòa, ông duy trì ghế Tổng thống đến năm 1975.
Ở miền Bắc, quân Mỹ ném bom phá huỷ làng mạc, nhà cửa, khu dân cư, làm hàng ngàn
người chết, hàng vạn người phải đi sơ tán
[cần dẫn nguồn]
. Cơ sở hạ tầng bị tàn phá nghiêm
trọng.
Chiến tranh lan rộng khắp miền Nam. Người dân miền Nam thường sống trong lo sợ vì
bom đạn đánh nhau ở mọi nơi. Chất độc màu da cam được quân đội Mỹ sử dụng gây ra
ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và làm gần 1 triệu người bị nhiễm độc
[cần dẫn nguồn]
.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 của quân Bắc Việt Nam và MTDTGP vào hầu hết
các thành phố chính của miền Nam Việt Nam (ngày 30 tháng 1 năm 1968) tuy thất bại về
mặt quân sự nhưng đã làm cho Johnson và dân chúng Mỹ mất lòng tin vào khả năng chiến
thắng của quân đội Mỹ ở Việt Nam.
Ngày 30 tháng 10 năm 1968, trong vòng đàm phán hòa bình tại Paris, Johnson tuyên bố
dừng hoàn toàn "tất cả cuộc không kích, pháo kích và hải chiến với Bắc Việt Nam", có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 11. Tuy nhiên, một năm sau, tổng thống kế nhiệm, Richard Nixon,
thông báo Mỹ quay trở lại Chiến tranh Việt Nam.
Nixon và cố vấn Henry Kissinger cho ra đời thuyết "Việt Nam hóa chiến tranh", theo đó:
giảm quân Mỹ và tăng viện trợ, tăng quân Nam Việt Nam ở mọi cấp độ, gia tăng không
kích cả Bắc và Nam Việt Nam, cũng như tại Campuchia để tiêu diệt quân Bắc Việt Nam
đang đồn trú ở đây.
Mỹ rút quân khỏi Việt Nam năm 1973, theo Hiệp định Paris
Cùng lúc đó hội đàm Paris đã được khởi động lại giữa Mỹ và Bắc Việt Nam/MTDTGP.
Mãi đến tháng 1 năm 1973, Hiệp định Hòa bình Paris mới được ký giữa Hoa Kỳ, Việt Nam
Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời của MTDTGP
sau sự thất bại nặng nề của các cuộc không kích vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố
khác ở miền Bắc Việt Nam do không lực Hoa kỳ tiến hành cuối năm 1972. Điều khoản đầu
tiên của hiệp định công nhận sự "độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" của
Việt Nam. Các điều khoản khác là đình chiến và giữ lãnh thổ của mỗi bên trước khi đình
chiến, hoãn tuyển cử để xác định chính quyền tương lai ở miền Nam. Hiệp định nói rõ Hoa
Kỳ phải triệt thoái quân hoàn toàn trong vòng 60 ngày.
Nhưng Chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp diễn, hai bên quân đội tại Việt Nam vẫn tiếp tục vi
phạm điều khoản đình chiến trong hiệp định Paris. Tháng 8 năm 1974, Nixon từ chức vì vụ
Watergate. Tinh thần quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng vì tổng thống
mới của Mỹ, Gerald Ford, không thuyết phục được Quốc hội Hoa Kỳ chi thêm nhiều tiền
cho chiến trường Việt Nam. Giữa tháng 3 năm 1975, quân đội VNDCCH/MTDTGP mở
cuộc tấn công ở Tây Nguyên khởi đầu những chiến dịch nối tiếp nhau. Tây Nguyên rồi
Huế, Đà Nẵng lần lượt thất thủ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân miền Bắc chiếm được
Sài Gòn, chính quyền của tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Người Mỹ cuối
cùng bỏ chạy khỏi đây chỉ 2 giờ trước đó, song song với cuộc tháo chạy của quân đội Việt
Nam Cộng hòa.
[sửa] Thống nhất và độc lập
Ngày 25 tháng 4 năm 1976, hai miền của Việt Nam được thống nhất thành một quốc gia có
tên chính thức là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.
Tuy nhiên, do những sai lầm của giới lãnh đạo, chủ trương thống nhất mọi mặt theo tiêu
chuẩn miền Bắc (thí dụ, kế hoạch xã hội hóa toàn bộ kinh tế miền Nam nhằm hợp nhất với
kinh tế miền Bắc) đã làm cho quốc gia mới này rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Nhóm
các nhà lãnh đạo chủ trương cấp tiến bị thất sủng, phe bảo thủ thắng thế, lên nắm quyền và
phạm liên tiếp các sai lầm
[cần dẫn nguồn]
. Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, một phần do thiên
tai và lũ lụt năm 1977 và 1978. Hậu quả của các sai lầm về lãnh đạo và kinh tế đã dẫn đến
khủng hoảng kinh tế và nạn đói, gây ra một làn sóng người vượt biên chưa từng có trong
lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 1978
[cần dẫn nguồn]
. Từ tiếng Anh boat people ("thuyền
nhân") lần đầu tiên xuất hiện cũng do sự kiện này.
Cuối năm 1978, Việt Nam đưa quân vào Campuchia và đánh đuổi chế độ diệt chủng
Khmer Đỏ của Pol Pot, sau khi quân Khmer Đỏ tấn công các tỉnh Tây Ninh và Kiên Giang.
Để trả đũa, Trung Quốc, vốn ủng hộ chế độ Pol Pot, tấn công biên giới phía bắc của Việt
Nam, gây ra cuộc Chiến tranh biên giới Trung-Việt năm 1979. Sự kiện này đã gây nên
cuộc khủng hoảng "nạn kiều" ở trong nước. Đầu thập niên 1980, nhiều người Hoa và Việt
gốc Hoa chạy khỏi Việt Nam về Trung Hoa hoặc gia nhập nhóm "thuyền nhân" chạy sang
nước khác.

Xem chi tiết: Lịch Sử Việt Nam


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét