Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Giáo trình môi trường và con người


5
3. Thành phần môi trường
Môi trường nói chung bao gồm tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao
quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật (Pepa,1997).
Môi trường sống của con người thường bao gồm các thành phần môi trường tự nhiên,
môi trường xã hội, môi trường nhân tạo.
Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh
học tồn tại khách quan, ngoài ý muốn con người hoặc ít chịu tác động chi phối
của con người.
Môi trường nhân tạo: gồm các yếu tố vật lý, sinh học, xã hội .v.v… do con
người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Môi trường xã hội: gồm mối quan hệ giữa con người với con người (con
người với tư cách là cá thể, cá nhân và nhân cách nghĩa là quan hệ giữa con
người với con người, con người với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng).
Ba thành phần môi trường này cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau và tương tác chặt chẽ
với nhau. Các thành phần môi trường luôn chuyển hóa và diễn ra theo chu kỳ. Thông
thường là ở dạng cân bằng động. Sự cân bằng này đảm bảo cho sự sống trên trái đất
phát triển ổn định. Các chu trình tuần hoàn phổ biến thường gặp là chu trình tuần hoàn
cacbon, nitơ, lưu huỳnh, phospho, …. gọi chung là chu trình sinh-địa-hóa học.
Sinh vật và môi trường xung quanh luôn có quan hệ tương hỗ với nhau về vật chất và
năng lượng thông qua các thành phần môi trường như khí quyển, thủy quyển, địa
quyển và sinh quyển, cùng các hoạt động của hệ mặt trời.
Sống là phương thức tồn tại với những thuộc tính đặc biệt của vật chất trong điều kiện
nhất định của môi trường. Trong quá trình xuất hiện, phát triển, tiến hóa, sự sống luôn
gắn chặt với môi trường mà nó tồn tại-không hề có sự sống tồn tại ngoài môi trường
và ngược lại, cũng không có môi trường không có sự sống. Không hề có sự sống tồn
tại trong môi trường mà lại không thích ứng.
Con người vừa là một thực thể sinh học, vừa là một thực thể văn hóa-môi trường sống
của con người-còn gọi là môi trường nhân văn, là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa
học, sinh học, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa bao quanh và có ảnh hưởng đến sự
sống và phát triển của từng cá nhân và của các cộng đồng người.
4.Các quyển trên trái đất
4.1.Khí quyển (Atmosphere)
4.1.1.Cấu trúc
Khí quyển hay môi trường không khí là một hỗn hợp các khí bao quanh bề
mặt trái đất, có khối lượng khoảng 5,2× 10
18
kg (0,0001% khối lượng trái đất).
Khí quyển đóng vai trò quyết định trong việc duy trì cân bằng nhiệt của trái
đất, thông qua quá trình hấp thụ bức xạ hồng ngoại từ mặt trời và tái phát xạ

6
khỏi trái đất. Khí quyển được chia thành nhiều tầng khác nhau theo sự thay đổi
chiều cao và chênh lệch nhiệt độ.
Tầng đối lưu (Troposphere): cao đến 10 km tính từ mặt đất, là tầng
tiếp giáp với bề mặt trái đất. Nhiệt độ và áp suất của tầng này giảm
theo chiều cao. Trên mặt đất có nhiệt độ trung bình là 15
o
C, lên đến độ
cao 10 km chỉ còn từ –50
o
C đến –80
o
C.
Tầng bình lưu (Stratosphere): ở độ cao từ 10-50 km. Nhiệt độ và áp
suất của tầng này tăng theo chiều cao. Các nhà khoa học giải thích rằng
sự gia tăng nhiệt độ là do càng lên cao càng gần với lớp ozone. Lớp
ozone là lớp không khí nơi đó có hàm lượng khí ozone rất cao, có khả
năng hấp thu tia cực tím của mặt trời. Lớp ozone xuất hiện ở độ cao
18-30 km. Nồng độ ozone cao nhất ở độ cao 20-25 km, cao hơn 1000
lần so với tầng đối lưu (khoảng 10 ppm).
Tầng trung lưu (Mesosphere) ở độ cao trên 50-90 km. Đặc điểm của
tầng này là nhiệt độ giảm dần từ đỉnh của tầng bình lưu (50 km) đến
đỉnh tầng trung lưu (90 km), nhiệt độ giảm nhanh hơn tầng đối lưu và
có thể đạt đến –100
o
C.
Thượng tầng khí quyển (Thermoshpere) và tầng ngoài (Exosphere).
Đặc điểm của tầng này là nhiệt độ tăng lên rất nhanh và rất cao. Mật độ
phân tử khí ở đây cực loảng.
4.1.2.Thành phần khí ở tầng đối lưu
Khí quyển thường gồm các thành phần: các khí không thay đổi như O
2

(20,95%), Ar (0,93%), N
2
(78,08%), một số khí khác như Ne (18,18 ppmV),
He (5,24 ppmV), Kr (1,14 ppmV), Xe (0,087 ppmV); các khí thay đổi như
nước (1-4% tùy theo nhiệt độ) và CO
2
(0,03%, thay đổi tùy theo mùa); các vệt
khí như như O
3
(ozone), NOx (oxid nitơ, x=1,2 ), SO
x
(oxid lưu huỳnh), CO
(monoxid cacbon). Các vệt khí này thường thay đổi, có hàm lượng rất thấp
(ppb, ppt) và thường là các chất ô nhiễm.
4.1.3.Vai trò
Khí quyển là nguồn cung cấp oxy (cần thiết cho sự sống trên trái đất), cung
cấp CO
2
(cần thiết cho quá trình quang hợp của thực vật), cung cấp nitơ cho vi
khuẩn cố định nitơ và các nhà máy sản xuất amôniac để tạo các hợp chất chứa
nitơ cần cho sự sống. Hơn nữa, khí quyển là phương tiện vận chuyển nước hết
sức quan trọng từ các đại dương tới đất liền như một phần của chu trình tuần
hoàn nước.
Khí quyển có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ sự sống trên trái đất. Nhờ có khí
quyển hấp thụ mà hầu hết các tia vũ trụ và phần lớn bức xạ điện từ của mặt
trời không tới được mặt đất. Khí quyển chỉ truyền các bức xạ cận cực tím, cận
hồng ngoại (3000-2500 nm) và các sóng rađi (0,1-40 micron), đồng thời ngăn
cản bức xạ cực tím có tính chất hủy ho
ại mô (các bức xạ dưới 300 nm).

7
4.2.Thủy quyển (Hydrosphere)
Thủy quyển bao gồm mọi nguồn nước ở đại dương, biển, các sông, hồ, băng
tuyết, nước dưới đất, hơi nước. Khối lượng thủy quyển ước chừng 1,38×
10
21
kg=0,03% khối lượng trái đất. Trong đó:
97% là nước mặn, có hàm lượng muối cao, không thích hợp
cho sự sống của con người;
2% dưới dạng băng đá ở hai đầu cực;
1% được con người sử dụng (30% tưới tiêu; 50% dùng để sản
xuất năng lượng; 12% cho sản xuất công nghiệp và 7% cho
sinh hoạt).
Nước là một yếu tố không thể thiếu được của sự sống và được con người sử
dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay nước mặt và nước
ngầm đang bị nhiễm bẩn bởi các loại thuốc trừ sâu, phân bón có trong nước
thải vùng sản xuất nông nghiệp, các loại chất thải sinh hoạt và công nghiệp.
Các bệnh tật được mang theo nước thải sinh hoạt đã từng gây tử vong hàng
triệu người.
Bảng 1. Thể tích các khí trong không khí và đại dương
Khí Trong không khí Trong đại dương
Nitơ (N
2
) 78,08% 48%
Oxy (O
2
) 20,95% 36%
Dioxid Cacbon (CO
2
) 0,035% 15%
4.3.Thạch quyển (Lithosphere)
Thạch quyển, còn gọi là môi trường đất, bao gồm lớp vỏ trái đất có độ dày
khoảng 60-70 km trên mặt đất và 2-8 km dưới đáy biển. Đất là một hỗn hợp
phức tạp của các hợp chất vô cơ, hữu cơ, không khí, nước, và là một bộ phận
quan trọng nhất của thạch quyển. Thành phần vật lý và tính chất hóa học của
thạch quyển nhìn chung là tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đến sự sống
trên mặt địa cầu. Đất trồng trọt, rừng, khoáng sản là những tài nguyên đang
được con người khai thác triệt để, dẫn đến những nguy cơ cạn kiệt.
4.4.Sinh quyển (biosphere)
Sinh quyển là nơi có sự sống tồn tại, bao gồm các phần của thạch quyển có độ
dày 2-3 km kể từ mặt đất, toàn bộ thủy quyển và khí quyển tới độ cao 10 km
(đến tầng ozone). Với chiều dày khoảng 16 km. Các thành phần trong sinh
quyển luôn tác động tương hỗ (ví dụ: khí O
2
và CO
2
phụ thuộc vào mức độ
sinh tồn của thực vật và khả năng hòa tan của chúng trong môi trường nước).
Sinh quyển có các cộng đồng sinh vật khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ
dưới nước đến trên cạn, từ vùng xích đạo đến các vùng cực trừ những miền
khắc nghiệt.

8
Sinh quyển không có giới hạn rõ rệt vì nằm cả trong các quyển vật lý và không
hoàn toàn liên tục vì chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện môi trường
nhất định. Trong sinh quyển ngoài vật chất, năng lượng còn có thông tin với
tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại, phát triển của các vật sống. Dạng
thông tin phức tạp và cao nhất là trí tuệ con người, có tác động ngày càng
mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển trên trái đất.
5. Chu trình sinh địa hóa học
5.1.Khái niệm
Là một chu trình vận động các chất vô cơ trong hệ sinh thái theo đường từ
ngoại cảnh chuyển vào trong cơ thể sinh vật, rồi được chuyển lại vào môi
trường. Chu trình vận động các chất vô cơ ở đây khác với sự chuyển hóa năng
lượng đi qua các bậc dinh dưỡng ở chỗ nó được bảo toàn chứ không bị mất đi
một phần nào dưới dạng năng lượng và không sử dụng lại.
Nguồn vật chất ↔ Môi trường ↔ Cơ thể sống
Trong số hơn 90 nguyên tố được biết trong thiên nhiên có khoảng 30-40
nguyên tố cần thiết cho cơ thể sống. Một số nguyên tố như cacbon (C), nitơ
(N
2
), oxy (O
2
), hydro (H
2
), phospho (P) … mà cơ thể đòi hỏi với một số lượng
lớn, còn có một số nguyên tố khác cơ thể chỉ đòi hỏi một lượng nhỏ, có khi
cực nhỏ (vi lượng), nhưng hết sức cần thiết như đồng (Cu), mangan (Mn) cần
cho phản ứng oxy hóa khử.
Chu trình sinh địa hóa học là một trong những cơ chế cơ bản để sự duy trì cân
bằng trong sinh quyển và đảm bảo sự cân bằng này được thường xuyên. Người
ta phân biệt 2 loại chu trình sinh địa hóa học:
Chu trình hoàn hảo: chu trình của những nguyên tố như C, N mà giai
đoạn ở dạng khí, chúng chiếm ưu thế trong chu trình và khí quyển là
nơi dự trữ chính của những nguyên tố đó, mặt khác từ cơ thể sinh vật
chúng trở lại ngoại cảnh tương đối nhanh.
Chu trình không hoàn hảo: chu trình của những nguyên tố như P, lưu
huỳnh (S). Những chất này trong quá trình vận chuyển một phần bị
đọng lại thể hiện qua chu kỳ lắng đọng trong hệ sinh thái khác nhau
của sinh quyển. Chúng chỉ có thể vận chuyển được dưới tác động của
những hiện tượng xãy ra trong thiên nhiên (sự xói mòn), hoặc dưới tác
động của con người.
5.2.Chu trình tuần hoàn nước
5.2.1.Vai trò của nước trong môi trường sinh thái
Nước rất quan trọng cho sự sống, cần cho tất cả sinh vật và con người. Nước
giúp quá trình trao đổi, vận chuyển thức ăn, tham gia vào các phản ứng sinh
hóa học và các mối liên kết cấu tạo trong cơ thể của con người, động vật, thực

9
vật. Ở đâu có nước, ở đó đã đang và sẽ có sự sống. Nhưng ngược lại ở đâu có
sự sống thì ở đó tất yếu phải có nước.
Trong cơ thể người 65% là nước và khi mất đi từ 6-8% nước, con người có
cảm giác mệt, nếu mất 12% sẽ hôn mê và có thể tử vong. Trong cơ thể động
vật 70% là nước, ở thực vật đặc biệt là dưa hấu có thể đến 90% là nước.
Ngoài ra nước còn cần cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cho y học, giao
thông vận tải, du lịch .v.v…
Bảng 2. Các dạng tồn tại của nước
Dạng nước
Thể tích (Km
3
×

10
6
)
Tỉ lệ (%)
Đại dương 507,2 97,22
Đá băng 11,2 2,15
Nước ngầm 3,2 0,61
Hồ ao nước ngọt 0,048 0,009
Biển nội địa 0,04 0,008
Độ ẩm của đất 0,025 0,005
Hơi nước trong không khí 0,005 0,001
Sông rạch 0,0005 0,0001
(Nguồn: Nace, U.S. Geological Survey, 1967 and The Hydrologic Cycle
(Pamphlet). U.S. Geological Survey, 1984)
Bảng 3. Thời gian tồn đọng của các dạng nước trong tuần hoàn
nước
Địa điểm Thời gian lưu trữ
Khí quyển
Các dòng sông
Đất ẩm
Các hồ lớn
Nước ngầm nông
Tầng pha trộn của các đại dương
Đại dương thế giới
Nước ngầm sâu
Chóp băng Nam Cực
9 ngày
2 tuần
2 tuần đến 1 năm
10 năm
10-100 năm
120 năm
300 năm
đến 10.000 năm
10.000 năm

10

Hình 1. Sơ đồ chu trình tuần hoàn nước
Trong chu trình tuần hoàn nước: nước vận chuyển không đổi giữa thủy quyển,
khí quyển, và sinh quyển nhờ năng lượng mặt trời và trọng lực. Tổng lượng
nước chảy tràn hàng năm từ đất liền ra đại dương khoảng 10,3× 10
15
gallon.
Nước luôn chuyển đổi liên tục qua nhiều trạng thái, phần lớn qua các dạng như
băng tuyết; bay hơi; sự thoát hơi nước ở thực vật, động vật, con người; mưa.
5.2.2.Tác động của con người
Tổng lượng nước trên trái đất là không đổi, nhưng con người có thể làm thay
đổi chu trình tuần hoàn nước.
Dân số tăng làm mức sống, sản xuất công nghiệp, kinh tế đều tăng,
tăng nhu cầu của con người đối với môi trường tự nhiên, tác động đến
tuần hoàn nước.
Nhu cầu nước cho sinh hoạt, nước cho sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp tăng làm giá nước tăng lên.
Các thành phố lớn, khu đô thị, nguồn nước sạch càng khan hiếm.
Đô thị hóa cùng với hệ thống thoát nước, cống rãnh xuống cấp làm
tăng sự ngập lụt, ảnh hưởng đến quá trình lọc, bay hơi, và sự thoát hơi
nước diễn ra trong tự nhiên.
Sự làm đầy tầng nước ngầm xảy ra với tốc độ ngày càng chậm.

11
Như vậy, con người có thể làm thay đổi chất lượng nước mà môi trường tự
nhiên dành cho con người và có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn nước
từ sông, hồ, nước ngầm và đến tất cả trên hành tinh này. Do đó, chúng ta cần
phải hiểu được vấn đề và bảo vệ nguồn nước.
5.3.Chu trình tuần hoàn Cacbon (C)
Các quá trình chính trong chu trình tuần hoàn cacbon gồm quá trình quang
hợp, quá trình phân hủy các sản phẩm bài tiết. Ngoài ra còn có quá trình hô
hấp, quá trình khuếch tán khí CO2 trong khí quyển.
Khí quyển là nguồn cung cấp cacbon (chủ yếu ở dạng CO
2
) chính trong chu
trình tuần hoàn C. CO
2
đi vào hệ sinh thái nhờ quá trình quang hợp và trở lại
khí quyển nhờ quá trình hô hấp và quá trình đốt cháy.
C có thể tồn tại thời gian dài ở các dạng vô cơ như CO
2
(hòa tan và dạng khí);
H
2
CO
3
(hòa tan); HCO
3
-
(hòa tan); CO
3
2-
(hòa tan, như CaCO
3
cacbonat
calcium) hoặc dạng hữu cơ như glucose; acid acetic, than, dầu, khí.

Hình 2. Chu trình tuần hoàn cacbon
Một số tác động của con người làm tăng lượng khí CO
2
trong không khí,
nước:
Đốt cháy nhiên liệu (xăng, than), đốt cháy củi, gỗ làm trái đất nóng
lên, tăng nhiệt độ trên trái đất-hiệu ứng nhà kính.

12
Việc tăng khí CO
2
và một số chất ô nhiễm khác (NO
x
, SO
x
), gây mưa
acid (pH ≤ 4,0), làm cá chết, thay đổi pH đất, ảnh hưởng đến cây trồng.
Sự nóng lên toàn cầu có thể làm băng tan ở Nam cực, tăng mực nước
biển, thay đổi khí hậu, thay đổi sản lượng ngũ cốc và lượng mưa.
5.4.Chu trình tuần hoàn Oxy (O
2
)
Quan sát chu trình tuần hoàn cacbon, chúng ta sẽ thấy trong chu trình cũng mô
tả sự vận chuyển oxy vì các phân tử này đều có sự hiện diện của oxy.
Trong chu trình tuần hoàn oxy thì oxy được thải vào không khí từ các sinh vật
tự dưỡng bằng quá trình quang hợp. Sinh vật tự dưỡng và dị dưỡng đều hấp
thu oxy thông qua quá trình hô hấp. Thật ra, tất cả oxy trong không khí đều là
nguồn gốc phát sinh sự sống. Đầu tiên, oxy được giải phóng từ quá trình
quang hợp của các sinh vật tự dưỡng (phần lớn là cyanobacteria) sống trong
môi trường nước. Trải qua 2 tỉ năm, nồng độ oxy tăng lên trong không khí và
hiện nay đạt 21% là nguồn gốc phát sinh các sinh vật đa bào, cũng như động
vật có xương sống-vì các loài này nhu cầu oxy rất cao.
5.5.Chu trình tuần hoàn Nitơ (N)
Chu trình tuần hoàn nitơ có vai trò quan trọng trong việc chuyển nitơ trong
không khí sang dạng mà thực vật và động vật có thể sử dụng được. N
2
chiếm
khoảng 78% trong khí quyển và hầu như ở dạng khí. Khí nitơ, chỉ phản ứng
hóa học ở những điều kiện nhất định. Hầu hết các sinh vật đều không thể sử
dụng nitơ trong không khí, chỉ sử dụng nitơ ở dưới dạng nitrat (NO
3
-
) hoặc
nitrit (NO
2
-
). Nếu không có nitơ, thì protein và acid nucleic không thể được
tổng hợp trong cơ thể động vật, thực vật cũng như con người.
Các quá trình chính trong chu trình tuần hoàn nitơ:
Cố định nitơ: Nitơ được các vi khuẩn cố định nitơ, thường sống trên
nốt sần rễ cây họ đậu, chuyển nitơ ở dạng khí sang dạng NO
3
-
.
Ammon hóa: các vi khuẩn phân hủy sẽ phân hủy các acid amin từ
xác chết động vật và thực vật để giải phóng NH
4
OH.
Nitrat hóa: các vi khuẩn hóa tổng hợp sẽ oxid hóa NH
4
OH để tạo
thành nitrat và nitrit, năng lượng được giải phóng sẽ giúp phản ứng
giữa oxy và nitơ trong không khí để tạo thành nitrat.
Khử nitrat hóa: các vi khuẩn kỵ khí phá vỡ các nitrat, giải phóng nitơ
trở lại vào khí quyển.
Một vài tác động gay gắt nhất của con người vào chu trình tuần hoàn nitơ
Sử dụng phân bón đạm để tăng năng suất cho các vụ mùa, làm tăng
tốc độ khử nitrit và làm nitrat đi vào nước ngầm. Lượng nitơ tăng trong

13
hệ thống nước ngầm cuối cùng cũng chảy ra sông, suối, hồ, và cửa
sông. Tại đây, có thể sinh ra hiện tượng phú dưỡng hóa.
Làm tăng sự lắng đọng nitơ không khí vì cháy rừng và đốt cháy nhiên
liệu. Cả 2 quá trình này đều giải phóng các dạng nitơ rắn ở trạng thái
bụi.
Chăn nuôi gia súc. Gia súc đã thải vào môi trường một lượng lớn
ammoniac (NH
3
) qua chất thải của chúng. NH
3
sẽ thấm dần vào đất,
nước ngầm và lan truyền sang các khu vực khác do nước chảy tràn.
Chất thải và nước thải từ các quá trình sản xuất.
5.6.Chu trình tuần hoàn Phospho (P)
Chu trình tuần hoàn phospho là chu trình không hoàn hảo. Phospho là chất cơ bản của
sinh chất có trong sinh vật cần cho tổng hợp các chất như acid nucleic, chất dự trữ
năng lượng ATP, ADP.
Nguồn dự trữ của phospho: trong thạch quyển dưới dạng hỏa nham,
hiếm có trong sinh quyển. Phospho có khuynh hướng trở thành yếu tố
giới hạn cho hệ sinh thái.
Sự thất thoát phospho là do trầm tích sâu hoặc chuyển vào đất liền
(do người đánh bắt cá hoặc do chim ăn cá …).

Hình 3. Chu trình tuần hoàn Phospho
Hiện nay, phospho là khâu yếu nhất trong mạng lưới dinh dưỡng. Với sự gia tăng nhu
cầu sử dụng phospho, xói mòn (do đốt phá rừng), thì nguồn dự trữ phospho có nguy
cơ sẽ cạn dần.Khi xảy ra sự mất cân bằng ở các chu trình tuần hoàn thì sẽ có sự cố về
môi trường, ảnh hưởng đến sự tồn tại của sinh vật và con người trong một khu vực
hay trên toàn cầu.

14
II. HỆ SINH THÁI
1.Khái niệm
Quần thể là một nhóm cá thể của một loài, sống trong một khoảng không gian xác
định, có nhiều đặc điểm đặc trưng cho cả nhóm, chứ không phải cho từng cá thể của
nhóm (E.P. Odium, 1971). Hoặc quần thể là một nhóm cá thể của cùng một loài sống
trong cùng một khu vực (Alexi Sharov, 1996).
Quần xã (community) bao gồm cả quần xã của nhiều loài khác nhau, loài có vai trò
quyết định sự tiến hóa của quần xã là loài ưu thế sinh thái.
Qu
ần xã sinh vật là tập hợp các sinh vật thuộc các loài khác nhau cùng sinh sống trên
một khu vực nhất định. Khu vực sinh sống của quần xã được gọi là sinh cảnh. Như
vậy, sinh cảnh là môi trường vô sinh. Trên thực tế để dễ nhận biết và phân biệt, người
ta dùng vật chỉ thị là thảm thực vật, vì yếu tố thực vật thường chiếm ưu thế trong một
sinh cảnh và có ảnh hưởng rõ rệ
t lên sinh cảnh.
Tập hợp các sinh vật, cùng với các mối quan hệ khác nhau giữa các sinh vật đó và các
mối tác động tương hỗ giữa chúng với môi trường, với các yếu tố vô sinh, tạo thành
một hệ thống sinh thái-ecosystem, gọi tắt là hệ sinh thái. Hệ sinh thái là hệ chức năng
gồm có quần xã, các cơ thể sống và môi trường của nó dưới tác động của năng lượng
mặt trời.
Năm 1935, nhà sinh thái học người Anh, A. Tansley đề xuất khái niệm hệ sinh thái
(ecosystem): “sinh vật và thế giới vô sinh (không sống) ở xung quanh có quan hệ
khắng khít với nhau và thường xuyên có tác động qua lại”.
Hệ sinh thái là một hệ thống tác động qua lại giữa thực vật, động vật và con người với
môi trường vật lý bao chung quanh chúng thể hiện qua dòng năng lượng từ đó tạo nên
chu trình vật chất.
Thuật ngữ hệ sinh thái có thể áp dụng cho những quy mô khác nhau như hệ
sinh thái
nhỏ (gốc một cây gỗ), hệ sinh thái tương đối nhỏ (một cái ao), hệ sinh thái vừa (một
khu rừng), hệ sinh thái lớn (đại dương), hệ sinh thái khổng lồ (trái đất). Hệ sinh thái
không nhất thiết phải là một khu vực rộng lớn, nhưng phải có quần xã sinh sống.
Để khảo sát một hệ sinh thái cần xem hai mặt: Cấu trúc của hệ sinh thái (các vấn đề
về số loài, số lượng các nhóm sinh v
ật và các đặc tính của môi trường); Chức năng
của hệ sinh thái (các vấn đề liên quan đến tốc độ của quá trình chuyển hóa năng lượng
và trao đổi chất).
2.Thành phần của hệ sinh thái
Hệ sinh thái hoàn chỉnh bao gồm các thành phần chủ yếu sau:
Các yếu tố vật lý (để tạo nguồn năng lượng): ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, áp
suất, dòng chảy …

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét