Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

giáo trình toàn tập mạng máy tính

Chương 2
Những khái niệm cơ bản của mạng máy tính
Với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, hiện nay các mạng máy tính đã phát triển một
cách nhanh chóng và đa dạng cả về quy mô, hệ điều hành và ứng dụng. Do vậy việc nghiên
cứu chúng ngày càng trở nên phức tạp. Tuy nhiên các mạng máy tính cũng có cùng các điểm
chung thông qua đó chúng ta có thể đánh giá và phân loại chúng.
I. Định nghĩa mạng máy tính
Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường truyền
theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại
cho nhau.
Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để chuyển
các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó biểu thị các
giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on - off). Tất cả các tín hiệu được truyền giữa
các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ. Tùy theo tần số của sóng điện từ có thể dùng
các đường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Ở đây đường truyền được kết nối
có thể là dây cáp đồng trục, cáp xoắn, cáp quang, dây điện thoại, sóng vô tuyến Các
đường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng. Hai khái niệm đường truyền và cấu trúc là
những đặc trưng cơ bản của mạng máy tính.
Hình 2.1: Một mô hình liên kết các máy tính trong mạng
Với sự trao đổi qua lại giữa máy tính này với máy tính khác đã phân biệt mạng máy
tính với các hệ thống thu phát một chiều như truyền hình, phát thông tin từ vệ tinh xuống các
trạm thu thụ động vì tại đây chỉ có thông tin một chiều từ nơi phát đến nơi thu mà không
quan tâm đến có bao nhiêu nơi thu, có thu tốt hay không.
Đặc trưng cơ bản của đường truyền vật lý là giải thông. Giải thông của một đường
chuyền chính là độ đo phạm vi tần số mà nó có thể đáp ứng được. Tốc độ truyền dữ liệu trên
đường truyền còn được gọi là thông lượng của đường truyền - thường được tính bằng số
lượng bit được truyền đi trong một giây (Bps). Thông lượng còn được đo bằng đơn vị khác
là Baud (lấy từ tên nhà bác học - Emile Baudot). Baud biểu thị số lượng thay đổi tín hiệu
trong một giây.
Ở đây Baud và Bps không phải bao giờ cũng đồng nhất. Ví dụ: nếu trên đường dây có 8
mức tín hiệu khác nhau thì mỗi mức tín hiệu tương ứng với 3 bit hay là 1 Baud tương ứng
với 3 bit. Chỉ khi có 2 mức tín hiệu trong đó mỗi mức tín hiệu tương ứng với 1 bit thì 1 Baud
mới tương ứng với 1 bit.
II. Phân loại mạng máy tính
Do hiện nay mạng máy tính được phát triển khắp nơi với những ứng dụng ngày càng đa
dạng cho nên việc phân loại mạng máy tính là một việc rất phức tạp. Người ta có thể chia
các mạng máy tính theo khoảng cách địa lý ra làm hai loại: Mạng diện rộng và Mạng cục bộ.
Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN) là mạng được thiết lập để liên kết
các máy tính trong một khu vực như trong một toà nhà, một khu nhà.
Mạng diện rộng (Wide Area Networks - WAN) là mạng được thiết lập để liên
kết các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau như giữa các thành phố hay
các tỉnh.
Sự phân biệt trên chỉ có tính chất ước lệ, các phân biệt trên càng trở nên khó xác định
với việc phát triển của khoa học và kỹ thuật cũng như các phương tiện truyền dẫn. Tuy nhiên
với sự phân biệt trên phương diện địa lý đã đưa tới việc phân biệt trong nhiều đặc tính khác
nhau của hai loại mạng trên, việc nghiên cứu các phân biệt đó cho ta hiểu rõ hơn về các loại
mạng.
III. Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng
Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc
độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin
trên mạng, dạng chuyển giao thông tin.
Địa phương hoạt động: Liên quan đến khu vực địa lý thì mạng cục bộ sẽ là mạng liên
kết các máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ. Khu vực có thể bao gồm một tòa nhà hay là
một khu nhà Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp được dùng để liên kết các
máy tính của mạng cục bộ (Hạn chế đó còn là hạn chế của khả năng kỹ thuật của đường
truyền dữ liệu). Ngược lại mạng diện rộng là mạng có khả năng liên kết các máy tính trong
một vùng rộng lớn như là một thành phố, một miền, một đất nước, mạng diện rộng được xây
dựng để nối hai hoặc nhiều khu vực địa lý riêng biệt.
Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Do các đường cáp của mạng cục
bộ đươc xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó ít bị ảnh hưởng bởi tác động của thiên
nhiên (như là sấm chớp, ánh sáng ). Điều đó cho phép mạng cục bộ có thể truyền dữ liệu
với tốc độ cao mà chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ. Ngược lại với mạng diện rộng do phải truyền ở
những khoảng cách khá xa với những đường truyền dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km. Do
vậy mạng diện rộng không thể truyền với tốc độ quá cao vì khi đó tỉ lệ lỗi sẽ trở nên khó
chấp nhận được.
Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100 Mbps
nếu dùng cáp quang. Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ
thấp hơn nhiều như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps.
(Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1 bit
được truyền trong một giây, ví dụ như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể truyền tối
đa 1 Megabit trong 1 giây trên đường truyền đó).
Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/10
7
-10
8
còn trong mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/10
6
- 10
7
Chủ quản và điều hành của mạng: Do sự phức tạp trong việc xây dựng, quản lý, duy
trì các đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạng diện rộng người ta thường sử dụng các
đường truyền được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch vụ truyền số
liệu. Tùy theo cấu trúc của mạng những đường truyền đó thuộc cơ quan quản lý khác nhau
như các nhà cung cấp đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia. Các đường truyền đó
phải tuân thủ các quy định của chính phủ các khu vực có đường dây đi qua như: tốc độ, việc
mã hóa.
Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt
mạng cục bộ thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó.
Đường đi của thông tin trên mạng: Trong mạng cục bộ thông tin được đi theo con
đường xác định bởi cấu trúc của mạng. Khi người ta xác định cấu trúc của mạng thì thông
tin sẽ luôn luôn đi theo cấu trúc đã xác định đó. Còn với mạng diện rộng dữ liệu cấu trúc có
thể phức tạp hơn nhiều do việc sử dụng các dịch vụ truyền dữ liệu. Trong quá trình hoạt
động các điểm nút có thể thay đổi đường đi của các thông tin khi phát hiện ra có trục trặc
trên đường truyền hay khi phát hiện có quá nhiều thông tin cần truyền giữa hai điểm nút nào
đó. Trên mạng diện rộng thông tin có thể có các con đường đi khác nhau, điều đó cho phép
có thể sử dụng tối đa các năng lực của đường truyền hay nâng cao điều kiện an toàn trong
truyền dữ liệu.
Dạng chuyển giao thông tin: Phần lớn các mạng diện rộng hiện nay được phát triển
cho việc truyền đồng thời trên đường truyền nhiều dạng thông tin khác nhau như: video,
tiếng nói, dữ liệu Trong khi đó các mạng cục bộ chủ yếu phát triển trong việc truyền dữ
liệu thông thường. Điều này có thể giải thích do việc truyền các dạng thông tin như video,
tiếng nói trong một khu vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi truyền qua những khoảng
cách lớn.
Các hệ thống mạng hiện nay ngày càng phức tạp về chất lượng, đa dạng về chủng loại
và phát triển rất nhanh về chất. Trong sự phát triển đó số lượng những nhà sản xuất từ phần
mềm, phần cứng máy tính, các sản phẩm viễn thông cũng tăng nhanh với nhiều sản phẩm đa
dạng. Chính vì vậy vai trò chuẩn hóa cũng mang những ý nghĩa quan trọng. Tại các nước
các cơ quan chuẩn quốc gia đã đưa ra các những chuẩn về phần cứng và các quy định về
giao tiếp nhằm giúp cho các nhà sản xuất có thể làm ra các sản phẩm có thể kết nối với các
sản phẩm do hãng khác sản xuất.
Chương 3
Mô hình truyền thông
I. Sự cần thiết phải có mô hình truyền thông
Để một mạng máy tính trở một môi trường truyền dữ liệu thì nó cần phải có những yếu tố
sau:
Mỗi máy tính cần phải có một địa chỉ phân biệt trên mạng.
Việc chuyển dữ liệu từ máy tính này đến máy tính khác do mạng thực hiện thông
qua những quy định thống nhất gọi là giao thức của mạng.
Khi các máy tính trao đổi dữ liệu với nhau thì một quá trình truyền giao dữ liệu đã được thực
hiện hoàn chỉnh. Ví dụ như để thực hiện việc truyền một file giữa một máy tính với một máy
tính khác cùng được gắn trên một mạng các công việc sau đây phải được thực hiện:
Máy tính cần truyền cần biết địa chỉ của máy nhận.
Máy tính cần truyền phải xác định được máy tính nhận đã saün sàng nhận thông tin
Chương trình gửi file trên máy truyền cần xác định được rằng chương trình nhận
file trên máy nhận đã saün sàng tiếp nhận file.
Nếu cấu trúc file trên hai máy không giống nhau thì một máy phải làm nhiệm vụ
chuyển đổi file từ dạng này sang dạng kia.
Khi truyền file máy tính truyền cần thông báo cho mạng biết địa chỉ của máy nhận
để các thông tin được mạng đưa tới đích.
Điều trên đó cho thấy giữa hai máy tính đã có một sự phối hợp hoạt động ở mức độ cao. Bây
giờ thay vì chúng ta xét cả quá trình trên như là một quá trình chung thì chúng ta sẽ chia quá
trình trên ra thành một số công đoạn và mỗi công đoạn con hoạt động một cách độc lập với
nhau. Ở đây chương trình truyền nhận file của mỗi máy tính được chia thành ba module là:
Module truyền và nhận File, Module truyền thông và Module tiếp cận mạng. Hai module
tương ứng sẽ thực hiện việc trao đổi với nhau trong đó:
Module truyền và nhận file cần được thực hiện tất cả các nhiệm vụ trong các ứng
dụng truyền nhận file. Ví dụ: truyền nhận thông số về file, truyền nhận các mẫu tin
của file, thực hiện chuyển đổi file sang các dạng khác nhau nếu cần. Module truyền
và nhận file không cần thiết phải trực tiếp quan tâm tới việc truyền dữ liệu trên mạng
như thế nào mà nhiệm vụ đó được giao cho Module truyền thông.
Module truyền thông quan tâm tới việc các máy tính đang hoạt động và saün sàng
trao đổi thông tin với nhau. Nó còn kiểm soát các dữ liệu sao cho những dữ liệu này
có thể trao đổi một cách chính xác và an toàn giữa hai máy tính. Điều đó có nghĩa là
phải truyền file trên nguyên tắc đảm bảo an toàn cho dữ liệu, tuy nhiên ở đây có thể
có một vài mức độ an toàn khác nhau được dành cho từng ứng dụng. Ở đây việc trao
đổi dữ liệu giữa hai máy tính không phụ thuộc vào bản chất của mạng đang liên kết
chúng. Những yêu cầu liên quan đến mạng đã được thực hiện ở module thứ ba là
module tiếp cận mạng và nếu mạng thay đổi thì chỉ có module tiếp cận mạng bị ảnh
hưởng.
Module tiếp cận mạng được xây dựng liên quan đến các quy cách giao tiếp với
mạng và phụ thuộc vào bản chất của mạng. Nó đảm bảo việc truyền dữ liệu từ máy
tính này đến máy tính khác trong mạng.
Như vậy thay vì xét cả quá trình truyền file với nhiều yêu cầu khác nhau như một tiến trình
phức tạp thì chúng ta có thể xét quá trình đó với nhiều tiến trình con phân biệt dựa trên việc
trao đổi giữa các Module tương ứng trong chương trình truyền file. Cách này cho phép
chúng ta phân tích kỹ quá trình file và dễ dàng trong việc viết chương trình.
Việc xét các module một cách độc lập với nhau như vậy cho phép giảm độ phức tạp cho việc
thiết kế và cài đặt. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong việc xây dựng mạng và các
chương trình truyền thông và được gọi là phương pháp phân tầng (layer).
Nguyên tắc của phương pháp phân tầng là:
Mỗi hệ thống thành phần trong mạng được xây dựng như một cấu trúc nhiều tầng
và đều có cấu trúc giống nhau như: số lượng tầng và chức năng của mỗi tầng.
Các tầng nằm chồng lên nhau, dữ liệu được chỉ trao đổi trực tiếp giữa hai tầng kề
nhau từ tầng trên xuống tầng dưới và ngược lại.
Cùng với việc xác định chức năng của mỗi tầng chúng ta phải xác định mối quan hệ
giữa hai tầng kề nhau. Dữ liệu được truyền đi từ tầng cao nhất của hệ thống truyền
lần lượt đến tầng thấp nhất sau đó truyền qua đường nối vật lý dưới dạng các bit tới
tầng thấp nhất của hệ thống nhận, sau đó dữ liệu được truyền ngược lên lần lượt đến
tầng cao nhất của hệ thống nhận.
Chỉ có hai tầng thấp nhất có liên kết vật lý với nhau còn các tầng trên cùng thứ tư
chỉ có các liên kết logic với nhau. Liên kết logic của một tầng được thực hiện thông
qua các tầng dưới và phải tuân theo những quy định chặt chẽ, các quy định đó được
gọi giao thức của tầng.
Hình 3.1: Mô hình phân tầng gồm N tầng
II. Mô hình truyền thông đơn giản 3 tầng
Nói chung trong truyền thông có sự tham gia của các thành phần: các chương trình ứng
dụng, các chương trình truyền thông, các máy tính và các mạng. Các chương trình ứng dụng
là các chương trình của người sử dụng được thực hiện trên máy tính và có thể tham gia vào
quá trình trao đổi thông tin giữa hai máy tính. Trên một máy tính với hệ điều hành đa nhiệm
(như Windows, UNIX) thường được thực hiện đồng thời nhiều ứng dụng trong đó có những
ứng dụng liên quan đến mạng và các ứng dụng khác. Các máy tính được nối với mạng và
các dữ liệu được trao đổi thông qua mạng từ máy tính này đến máy tính khác.
Việc gửi dữ liệu được thực hiện giữa một ứng dụng với một ứng dụng khác trên hai máy
tính khác nhau thông qua mạng được thực hiện như sau: Ứng dụng gửi chuyển dữ liệu cho
chương trình truyền thông trên máy tính của nó, chương trình truyền thông sẽ gửi chúng tới
máy tính nhận. Chương trình truyền thông trên máy nhận sẽ tiếp nhận dữ liệu, kiểm tra nó
trước khi chuyển giao cho ứng dụng đang chờ dữ liệu.
Với mô hình truyền thông đơn giản người ta chia chương trình truyền thông thành ba tầng
không phụ thuộc vào nhau là: tầng ứng dụng, tầng chuyển vận và tầng tiếp cận mạng.
Tầng tiếp cận mạng liên quan tới việc trao đổi dữ liệu giữa máy tính và mạng mà
nó được nối vào. Để dữ liệu đến được đích máy tính gửi cần phải chuyển địa chỉ của
máy tính nhận cho mạng và qua đó mạng sẽ chuyển các thông tin tới đích. Ngoài ra
máy gửi có thể sử dụng một số phục vụ khác nhau mà mạng cung cấp như gửi ưu
tiên, tốc độ cao. Trong tầng này có thể có nhiều phần mềm khác nhau được sử dụng
phụ thuộc vào các loại của mạng ví dụ như mạng chuyển mạch, mạng chuyển mạch
gói, mạng cục bộ.
Tầng truyền dữ liệu thực hiện quá trình truyền thông không liên quan tới mạng và
nằm ở trên tầng tiếp cận mạng. Tầng truyền dữ liệu không quan tâm tới bản chất các
ứng dụng đang trao đổi dữ liệu mà quan tâm tới làm sao cho các dữ liệu được trao
đổi một cách an toàn. Tầng truyền dữ liệu đảm bảo các dữ liệu đến được đích và đến
theo đúng thứ tự mà chúng được xử lý. Trong tầng truyền dữ liệu người ta phải có
những cơ chế nhằm đảm bảo sự chính xác đó và rõ ràng các cơ chế này không phụ
thuộc vào bản chất của từng ứng dụng và chúng sẽ phục vụ cho tất cả các ứng dụng.
Tầng ứng dụng sẽ chứa các module phục vụ cho tất cả những ứng dụng của người
sử dụng. Với các loại ứng dụng khác nhau (như là truyền file, truyền thư mục) cần
các module khác nhau.
Hình 3.2 Mô hình truyền thông 3 tầng
Trong một mạng với nhiều máy tính, mỗi máy tính một hay nhiều ứng dụng thực hiện đồng
thời (Tại đây ta xét trên một máy tính trong một thời điểm có thể chạy nhiều ứng dụng và
các ứng dụng đó có thể thực hiện đồng thời việc truyền dữ liệu qua mạng). Một ứng dụng
khi cần truyền dữ liệu qua mạng cho một ứng dụng khác cần phải gọi 1 module tầng ứng
dụng của chương trình truyền thông trên máy của mình, đồng thời ứng dụng kia cũng sẽ gọi
1 module tầng ứng dụng trên máy của nó. Hai module ứng dụng sẽ liên kết với nhau nhằm
thực hiện các yêu cầu của các chương trình ứng dụng.
Các ứng dụng đó sẽ trao đổi với nhau thông qua mạng, tuy nhiên trong 1 thời điểm trên một
máy có thể có nhiều ứng dụng cùng hoạt động và để việc truyền thông được chính xác thì
các ứng dụng trên một máy cần phải có một địa chỉ riêng biệt. Rõ ràng cần có hai lớp địa
chỉ:
Mỗi máy tính trên mạng cần có một địa chỉ mạng của mình, hai máy tính trong
cùng một mạng không thể có cùng địa chỉ, điều đó cho phép mạng có thể truyền
thông tin đến từng máy tính một cách chính xác.
Mỗi một ứng dụng trên một máy tính cần phải có địa chỉ phân biệt trong máy tính
đo. Nó cho phép tầng truyền dữ liệu giao dữ liệu cho đúng ứng dụng đang cần. Địa
chỉ đó được gọi là điểm tiếp cận giao dịch. Điều đó cho thấy mỗi một ứng dụng sẽ
tiếp cận các phục vụ của tầng truyền dữ liệu một cách độc lập.
Các module cùng một tầng trên hai máy tính khác nhau sẽ trao đổi với nhau một
cách chặt chẽ theo các qui tắc xác định trước được gọi là giao thức. Một giao thức
được thể hiện một cách chi tiết bởi các chức năng cần phải thực hiện như các giá trị
kiểm tra lỗi, việc định dạng các dữ liệu, các quy trình cần phải thực hiện để trao đổi
thông tin.
Hình 3.3 Ví dụ mô hình truyền thông đơn giản
Chúng ta hãy xét trong ví dụ (như hình vẽ trên): giả sử có ứng dụng có điểm tiếp cận giao
dịch 1 trên máy tính A muốn gửi thông tin cho một ứng dụng khác trên máy tính B có điểm
tiếp cận giao dịch 2. Úng dụng trên máy tính A chuyển các thông tin xuống tầng truyền dữ
liệu của A với yêu cầu gửi chúng cho điểm tiếp cận giao dịch 2 trên máy tính B. Tầng truyền
dữ liệu máy A sẽ chuyển các thông tin xuống tầng tiếp cận mạng máy A với yêu cầu chuyển
chúng cho máy tính B (Chú ý rằng mạng không cần biết địa chỉ của điểm tiếp cận giao dịch
mà chỉ cần biết địa chỉ của máy tính B). Để thực hiện quá trình này, các thông tin kiểm soát
cũng sẽ được truyền cùng với dữ liệu.
Đầu tiên khi ứng dụng 1 trên máy A cần gửi một khối dữ liệu nó chuyển khối đó cho tầng
vận chuyển. Tầng vận chuyển có thể chia khối đó ra thành nhiều khối nhỏ phụ thuộc vào yêu
cầu của giao thức của tầng và đóng gói chúng thành các gói tin (packet). Mỗi một gói tin sẽ
được bổ sung thêm các thông tin kiểm soát của giao thức và được gọi là phần đầu (Header)
của gói tin. Thông thường phần đầu của gói tin cần có:
Địa chỉ của điểm tiếp cận giao dịch nơi đến (Ở đây là 3): khi tầng vận chuyển
của máy B nhận được gói tin thì nó biết được ứng dụng nào mà nó cần giao.
Số thứ tự của gói tin, khi tầng vận chuyển chia một khối dữ liệu ra thành nhiều gói
tin thì nó cần phải đánh số thứ tự các gói tin đó. Nếu chúng đi đến đích nếu sai thứ tự
thì tầng vận chuyển của máy nhận có thể phát hiện và chỉnh lại thứ tự. Ngoài ra nếu
có lỗi trên đường truyền thì tầng vận chuyển của máy nhận sẽ phát hiện ra và yêu cầu
gửi lại một cách chính xác.
Mã sửa lỗi: để đảm bảo các dữ liệu được nhận một cách chính xác thì trên cơ sở
các dữ liệu của gói tin tầng vận chuyển sẽ tính ra một giá trị theo một công thức có
sãn và gửi nó đi trong phần đầu của gói tin. Tầng vận chuyển nơi nhận thông qua giá
trị đó xác định được gói tin đó có bị lỗi trên đường truyền hay không.
Bước tiếp theo tầng vận chuyển máy A sẽ chuyển từng gói tin và địa chỉ của máy tính đích
(ở đây là B) xuống tầng tiếp cận mạng với yêu cầu chuyển chúng đi. Để thực hiện được yêu
cầu này tầng tiếp cận mạng cũng tạo các gói tin của mình trước khi truyền qua mạng. Tại
đây giao thức của tầng tiếp cận mạng sẽ thêm các thông tin điều khiển vào phần đầu của gói
tin mạng.
Hình 3.4: Mô hình thiết lập gói tin
Trong phần đầu gói tin mạng sẽ bao gồm địa chỉ của máy tính nhận, dựa trên địa chỉ này
mạng truyền gói tin tới đích. Ngoài ra có thể có những thông số như là mức độ ưu tiên.
Như vậy thông qua mô hình truyền thông đơn giản chúng ta cũng có thể thấy được phương
thức hoạt động của các máy tính trên mạng, có thể xây dựng và thay đổi các giao thức trong
cùng một tầng.
III. Các nhu cầu về chuẩn hóa đối với mạng
Trong phần trên chúng ta đã xem xét một mô hình truyền thông đơn giản, trong thực tế việc
phân chia các tầng như trong mô hình trên thực sự chưa đủ. Trên thế giới hiện có một số cơ
quan định chuẩn, họ đưa ra hàng loạt chuẩn về mạng tuy các chuẩn đó có tính chất khuyến
nghị chứ không bắt buộc nhưng chúng rất được các cơ quan chuẩn quốc gia coi trọng.
Hai trong số các cơ quan chuẩn quốc tế là:
ISO (The International Standards Organization) - Là tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
hoạt động dưới sự bảo trợ của Liên hợp Quốc với thành viên là các cơ quan chuẩn
quốc gia với số lượng khoảng hơn 100 thành viên với mục đích hỗ trợ sự phát triển
các chuẩn trên phạm vi toàn thế giới. Một trong những thành tựu của ISO trong lãnh
vực truyền thông là mô hình hệ thống mở (Open Systems Interconnection - gọi tắt là
OSI).
CCITT (Commité Consultatif International pour le Telegraphe et la
Téléphone) - Tổ chức tư vấn quốc tế về điện tín và điện thoại làm việc dưới sự bảo

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét