LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Đề án:Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân pptx": http://123doc.vn/document/1036199-tai-lieu-de-an-day-va-hoc-ngoai-ngu-trong-he-thong-giao-duc-quoc-dan-pptx.htm
4
bạn với các nước trên thế giới, chúng ta đã nhận thấy những bất cập của việc
dạy và học ngoại ngữ trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và trước nhu cầu
hội nhập, mở rộng giao lưu vượt ra khỏi phạm vi quốc gia của đông đảo nhân
dân. Tình trạng lãng phí, kém hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ, nhữ
ng
khó khăn trong việc trao đổi nguồn nhân lực trong phạm vi hợp tác song
phương hoặc đa phương… đòi hỏi chúng ta phải xem xét một cách nghiêm
túc thực trạng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân trong
những năm qua, từ đó nghiên cứu kĩ lưỡng, hoạch định một chiến lược dạy và
học ngoại ngữ vừa khả thi, vừa đáp ứng được nhữ
ng yêu cầu phát triển tương
lai của nước ta.
II. Thời cơ và thách thức
1. Thời cơ
Do chính sách mở cửa và sự phát triển kinh tế nhanh và ổn định của
Việt Nam trong thời gian qua, việc dạy và học ngoại ngữ ở nước ta đang có
những thời cơ hết sức quan trọng như sau:
- Chủ trương mở cửa hội nhập và quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng ch
ặt
chẽ và rộng mở giữa nước ta và các nước trên thế giới, đặc biệt là với các
nước có bản ngữ hoặc ngôn ngữ quốc gia phù hợp với ngoại ngữ được dạy và
học trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta, đã tạo tiền đề hết sức quan
trọng cho việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ với yêu cầu và chất lượ
ng,
hiệu quả ngày càng cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.
- Sự phát triển của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là những thành tựu về công
nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra những phương thức dạy học phù hợp
với điều kiện và đối tượng người học như : dạy học từ xa, dạy học qua mạng
và những phương tiện dạy và họ
c ngoại ngữ hiện đại, có hiệu quả như các
phương tiện nghe nhìn, internet, e-learning,
- Sự gia tăng số lượng các tổ chức quốc tế và các đối tác nước ngoài vào
đầu tư ở nước ta, nhu cầu xuất khẩu lực lượng lao động tăng mạnh và nhịp độ
giao lưu ngày càng cao về văn hóa, thể thao, nghệ thuật giữa nước ta và các
nước trên thế giới đã tạo nên nhu cầu thành th
ạo ngoại ngữ đối với đội ngũ
lao động các cấp, nhất là đối với thế hệ trẻ trong việc tiếp tục học tập, tìm
kiếm cơ hội việc làm, sự thành công trong sự nghiệp, đồng thời cũng tạo nên
sự thay đổi về nhận thức của xã hội đối với vai trò và tầm quan trọng của việc
dạy và học ngoại ngữ.
2. Thách th
ức
Cùng với những thời cơ thuận lợi nêu trên, trong thời gian tới, việc dạy và học
ngoại ngữ sẽ phải đương đầu với một số thách thức cơ bản sau:
5
- Nhu cầu của xã hội về ngoại ngữ, nhất là ngoại ngữ thông dụng trong
giao dịch quốc tế ngày càng cao nhưng khả năng và điều kiện đầu tư của nhà
nước và xã hội về cơ sở vật chất - thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên còn
rất hạn hẹp.
- Chủ trương mở cửa hội nhập, đa d
ạng hóa, đa phương hóa các quan hệ
quốc tế, đặc biệt là quan hệ truyền thống giữa nước ta và những nước có bản
ngữ hoặc ngôn ngữ quốc gia đang được dạy và học trong hệ thống giáo dục
quốc dân của nước ta đòi hỏi phải mở rộng qui mô, phạm vi và số lượng ngoại
ngữ cần dạy và học nhiều hơn nữa, nhưng trước mắ
t, chúng ta chỉ có thể tập
trung đầu tư nguồn lực cho ngoại ngữ là ngôn ngữ thông dụng trong giao dịch
quốc tế.
- Sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin - truyền thông
đã tạo những tiền đề vật chất - kĩ thuật hết sức thuận lợi cho việc dạy và học
ngoại ngữ với quy mô và trình độ cao hơn, nhưng trình độ ứng d
ụng những
tiến bộ đó vào việc dạy và học ngoại ngữ còn rất hạn chế.
III. Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về dạy và học ngoại
ngữ
Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong công
cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều
văn kiện về vi
ệc đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân nước ta.
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số
43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ ở các trường đại
học, trung học chuyên nghiệp và các trường phổ thông. Chỉ thị nêu rõ dạy và
học một ngoại ngữ ở các trường cấp II và ph
ấn đấu dạy và học hai ngoại ngữ
ở các trường cấp III. Các thứ tiếng được dạy là: tiếng Nga, tiếng Trung Quốc,
tiếng Anh và tiếng Pháp.
Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 251-
TTg về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy và học ngoại ngữ trong
các trường phổ thông. Quyết định này tiếp tục khẳng định ngoại ngữ
là một môn học cơ
bản trong chương trình phổ thông từ cấp II trở
lên, nhấn mạnh việc dạy và học đồng thời hai ngoại ngữ (một chính,
một phụ) ở cấp III, mở các trường chuyên ngoại ngữ ở những nơi có điều
kiện, thành lập một trung tâm chuyên nghiên cứu việc dạy và học ngoại ngữ.
Điều 24 của Luật Giáo dục (1998) cũng khẳng định vị trí quan trọng
của ngoại ngữ trong nội dung học vấn phổ thông và đề ra yêu cầu bảo đảm
cho học sinh có kiến thức cơ bản về ngoại ngữ.
6
Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá 10 về đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông đã yêu cầu xây dựng đề án dạy và học ngoại ngữ ở
trường phổ thông đến năm 2010.
Ngày 11/6/2001, Thủ tướng chính phủ ra Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg
về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, trong đó yêu cầu xây
dựng đề án “Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong tr
ường phổ thông.”
Báo cáo của Chính phủ tại kì họp thứ 6 Quốc hội khoá XI (12/2004)
cũng đã nêu lên một trong những giải pháp đẩy mạnh khả năng chủ động hợp
tác quốc tế trong giáo dục là “Triển khai chiến lược dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân, tập trung chủ yếu vào tiếng Anh, khuyến
khích dạy và học ngoại ngữ thứ hai. Cho phép một số c
ơ sở giáo dục đại học
và sau đại học giảng dạy song ngữ (bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài) ở
một số môn học, ngành học.”
Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giáo dục (sửa
đổi), trong đó có quy định tại Điều 7, mục 3 như sau: “Ngoại ngữ được quy
định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng ph
ổ biến trong
giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo
dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả”.
IV. Kinh nghiệm dạy và học ngoại ngữ ở một số nước trên thế giới và
trong khu vực
Từ nửa sau của thế kỷ 20, các nước trên thế giới đều nhậ
n ra rằng sự
cùng tồn tại hòa bình phụ thuộc vào việc hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia,
sự coi trọng nhau như là những đối tác bình đẳng. Việc giao tiếp và trao đổi
thông tin nhằm tăng cường hiểu biết giữa các nền kinh tế, xã hội và văn hóa
đa dạng trở thành nền tảng cơ bản cho sự phát triển những chiến lược chung
vì lợi ích của tất cả. Chỉ nh
ững công dân có khả năng và kỹ năng ngôn ngữ
phù hợp trong bối cảnh giao tiếp đa văn hóa mới có thể thiết lập được những
kênh thông tin cần thiết cho việc hợp tác thành công. Điều này dẫn tới mối
quan tâm sâu sắc chưa từng thấy giữa các nhà hoạch định chính sách giáo dục
trong việc tăng cường dạy ngoại ngữ và trang bị hiểu biết về các nền văn hóa
tương
ứng.
1. Vị trí và vai trò của ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân
Năm 1976, Cộng đồng Châu Âu đã kêu gọi các quốc gia thành viên mở
rộng việc dạy và học ngôn ngữ và bảo đảm rằng tất cả học sinh đều học ít
nhất một ngoại ngữ trong khối Châu Âu. Năm 1995, trong Sách trắng của Uỷ
ban Châu Âu, phần ‘Dạy và học – hướng tới một xã hội học tập’
đã yêu cầu
rằng : “Khuyến khích thế hệ trẻ học ít nhất hai ngoại ngữ của Cộng đồng”.
7
Thống kê cho thấy, đối với cấp tiểu học, tại các nước Châu Âu, tiếng
Anh vẫn là ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất. Tuy vậy, tuỳ từng nước mà
tỷ lệ học sinh chọn môn ngoại ngữ này cũng khác nhau khá nhiều. Ví dụ ở Bồ
Đào Nha 93% học sinh chọn học tiếng Anh, ở Tây Ban Nha tỷ lệ này là 71%.
Tỷ lệ này tại Áo, Thuỵ Điển và Phầ
n Lan là 56%, 62% và 63%. Các nước
Đông Âu cũ có tỷ lệ khá thấp: khoảng 20%. Tiếng Pháp là ngoại ngữ đứng
thứ hai được lựa chọn. Đối với cấp trung học, tiếng Anh vẫn là thứ ngoại ngữ
được chọn học nhiều nhất (90%). Tỷ lệ này ở các nước Đông Âu cũ cũng khá
cao (55-82%).
Ở Đông Á (Trung quốc, Hàn quốc, Nhật bản) và Đông Nam Á (Thái
lan, Indonesia, Malaysia ) tất cả các nước đều dứt khoát chọ
n tiếng Anh là
ngoại ngữ bắt buộc. Còn các thứ tiếng khác có thể được dạy như môn tự chọn
hoặc bắt buộc thứ hai.
Do đặc điểm, tình hình cụ thể của từng nước, một số nước trên thế giới
đi theo sáng kiến sử dụng hình thức song ngữ (bằng tiếng nước ngoài và tiếng
mẹ đẻ). Vào những năm 60 và 70, một số các quốc gia Trung Âu và Đông Âu
đã thành lập hệ thống trường song ngữ dành cho những học sinh có thành tích
cao. Vào những năm 90, hệ thống này được dành cho mọi học sinh trong hệ
thống giáo dục phổ thông. Cũng trong giai đoạn này, các quốc gia thuộc Liên
minh châu Âu như Bỉ, Pháp, Hà Lan, Áo và Phần Lan đã cùng với Đức - một
quốc gia mà ngay từ cuối những năm 60 đã thành lập một số trường song ngữ,
thực hiện các chương trình song ngữ, thậm chí xây dựng các tr
ường song ngữ,
mà ở đó các môn học được dạy trực tiếp thông qua các ngoại ngữ như Đức,
Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha v.v
Ở các nước Đông Nam Á việc dạy và học song ngữ là truyền thống khá
lâu đời, đặc biệt ở các nước thuộc địa cũ như Malaysia, Philippines, Brunei,
Singapore. Thái lan, một nước chưa từng là thuộc địa bao giờ, gần đây cũng
có những bước cải cách hết sức mạnh dạ
n trong lĩnh vực song ngữ. Từ năm
2001 đất nước này đã thành lập một loạt các Trường học chương trình tiếng
Anh (English Program Schools - EP) và Trường chương trình mini tiếng Anh
(Mini English Program Schools - MEP). Các trường này dạy tiếng Anh với
thời lượng 18 tiết/tuần. Mục đích loại trường mới này nhằm hỗ trợ cuộc Cải
cách giáo dục Thái Lan và sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ dạy và học.
Mục đích cuối cùng c
ủa chương trình này chẳng có gì khác là nâng cao trình
độ thông thạo tiếng Anh của học sinh Thái lan. Trong các trường này các môn
học (trừ môn tiếng Thái và các môn xã hội) đều được dạy thông qua tiếng
Anh. Hiện nay Thái lan đã khởi xướng chương trình song ngữ tại 112 trường,
trong đó 56 trường theo chương trình EP và 56 trường theo chương trình
MEP. Tại các trường này, giáo viên tiếng Anh có đủ năng lực từ mọi nguồn,
không phân biệt quốc tịch được tuyển dụng rộng rãi và công khai.
8
2. Thời gian và thời lượng dạy và học ngoại ngữ
Nhìn chung, tất cả các nước đều quy định ngoại ngữ là môn học bắt
buộc trong chương trình và có xu hướng tăng thêm thời gian dạy bộ môn này,
trong đó có cả xu hướng bắt đầu dạy môn này từ lứa tuổi sớm hơn. Vào
những năm 80 và 90 ở phần lớn các nước Châu Âu ngoại ngữ đã trở thành
môn học bắt buộ
c trong chương trình tiểu học. Phần lớn các nước ở Châu Á
và Đông Nam Á (Malaysia, Thái lan, Indonesia, Brunei, Singapore,
Philippines) cũng đều bắt đầu dạy ngoại ngữ từ tiểu học.
Ở Châu Âu trong những năm đầu giảng dạy ngoại ngữ, trung bình môn
này được dành khoảng từ 3 tới 4 giờ một tuần. Khi học sinh học lên những
lớp cao hơn, các em dành nhiều thời gian hơn cho việc học ngoại ngữ. Tới
cấ
p trung học phổ thông, thời gian học ngoại ngữ thường bằng hoặc cao hơn
so với các môn cơ bản khác (Toán hoặc tiếng mẹ đẻ). Thời gian có thể lên tới
5 hay 6 giờ trên một tuần. Các nước Châu Á cũng có xu hướng tương tự như
vậy. Chẳng hạn ở Hàn Quốc, ngoại ngữ được dạy ngay từ các lớp đầu tiên ở
tiểu học với thời lượng từ 1
đến 2 giờ/tuần. Đến cấp trung học cơ sở thời
lượng được tăng lên khoảng 3 giờ/tuần, gần bằng thời lượng dành cho môn
Toán và tiếng Hàn Quốc. Đến cấp trung học phổ thông, thời lượng dành cho
môn ngoại ngữ là 4 giờ, bằng thời lượng dành cho hai môn Toán và tiếng Hàn
Quốc. Singapore chú trọng hơn về dạy tiếng Anh vì đất nước này thừa nhận
tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của h
ọ. Tiếng Anh được dạy ngay từ các
lớp đầu của Tiểu học cho đến các cấp cao hơn. Chẳng hạn ngay từ cấp tiểu
học, chương trình dành 80% thời gian cho các môn theo thứ tự: Anh văn,
tiếng mẹ đẻ và Toán
1
.
3. Phương pháp dạy và học ngoại ngữ
Trong tất cả các chương trình dạy và học ngoại ngữ của các quốc gia
đều đề cập đến khả năng giao tiếp như là mục tiêu căn bản của việc dạy ngoại
ngữ và cũng xác nhận rằng cách tiếp cận giao tiếp là phương pháp được ưa
chuộng để đạt được mục tiêu này. Những khuyến nghị về vi
ệc dạy và học
ngoại ngữ của tất cả các nước đều đề xuất rằng giáo viên nên khuyến khích
học sinh tự thể hiện trong lớp học càng thường xuyên và tự nhiên càng tốt.
1
Chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào khẳng định về việc bắt đầu tự học ngoại ngữ sớm có dẫn tới học ngoại
ngữ tốt hơn hay không? Uỷ ban Châu Âu đã bảo trợ một nghiên cứu đưa ra nhiều kiến nghị về những lợi ích
trong việc học ngoại ngữ sớm. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển tiếp liên tục và
nh
ẹ nhàng giữa các cấp độ giáo dục khác nhau liên quan tới các mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng
dạy. Mặc dù vẫn có thể có những nhược điểm trong việc giảng dạy ngôn ngữ ở độ tuổi nhỏ, nhưng đây là xu
hướng chung. Ở một số nước, giảng dạy ngoại ngữ đã trở nên bắt buộc với mọi học sinh, việc học bắt đầu ở
độ
tuổi 8 đến 11. Ở một số nước khác, những cải cách hiện tại còn đang giảm hơn nữa phạm vi độ tuổi này.
Thậm chí đôi khi việc giảng dạy ngoại ngữ sớm được thực hiện trong các nhà trường có đủ quyền tự chủ để
tự quyết định độ tuổi bắt đầu. Trong những trường như vậy, học sinh 3-4 tuổi đã bắt
đầu làm quen với các
ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ. Giai đoạn khởi đầu này thường chỉ tạo nhận thức ban đầu về các ngôn ngữ
và nền văn hóa khác.
9
Việc tiếp xúc tối đa với ngoại ngữ và sử dụng tối thiểu tiếng mẹ đẻ là vô cùng
quan trọng. Chính vì vậy, các nhà trường được khuyến khích đưa vào trong
chương trình của mình những kiến thức liên quan đến cộng đồng quốc tế, tạo
cơ hội cho các em biết trân trọng di sản văn hóa phong phú của những quốc
gia liên quan. Nhiều cơ quan nhà nước và tư nhân cũng tổ chức các ch
ương
trình trao đổi hoặc tạo điều kiện cho học sinh ra nước ngoài trong một khoảng
thời gian nhất định để các em có thể nâng cao các kỹ năng ngôn ngữ và có
được hiểu biết sâu sắc về các quan điểm văn hóa, tục lệ xã hội và lối sống phổ
biến của các cộng đồng người nước ngoài.
4. Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ
Tại một số
nước có bề dày truyền thống của việc dạy và học ngoại ngữ
ở cấp tiểu học, các kĩ năng giảng dạy phù hợp từ lâu đã là một phần trong quá
trình đào tạo giáo viên tiểu học. Những giáo viên này đã tự học các ngôn ngữ
trong công việc của mình ở nhà trường và thường củng cố lại các kiến thức
trong quá trình đào tạo giáo viên.
Đối với các nước mới giả
ng dạy ngoại ngữ ở cấp tiểu học trong chương
trình vào những năm 90, các giáo viên tiểu học thường thiếu những kĩ năng
chuyên môn cần có cho dạy ngoại ngữ. Một số nước tìm cách khắc phục điểm
yếu này thông qua các khóa đào tạo tại chức đặc biệt được tiến hành để trang
bị cho giáo viên các kĩ năng ngôn ngữ và giảng dạy cần thiết. Các nước khác
bắ
t đầu tuyển dụng giáo viên chuyên môn vốn được đào tạo để dạy ngoại ngữ
ở cấp trung học. Đây là chiến lược được ưa chuộng ở các nước Trung và Tây
Âu - những nước phải đối mặt với khó khăn nảy sinh khi đưa các ngoại ngữ
mới vào.
Ở các nước Đông Âu tiếng Nga đã từng là một ngoại ngữ chính trong
nhiều thập niên vừa qua. Hiện nay, tại thờ
i điểm thiết lập lại quan hệ với Liên
minh Châu Âu, các quốc gia này đang cố gắng để nâng cao các kĩ năng sử
dụng ngoại ngữ của những nước đối tác mới, chứ không chỉ là tiếng Nga. Để
đối phó với sự thiếu hụt trầm trọng giáo viên dạy các ngoại ngữ mới này,
nhiều nước đã bắt đầu tuyển dụng bất cứ ai có đủ kiế
n thức về ngoại ngữ và
có bằng cấp tối thiểu về giảng dạy ngoại ngữ.
Cho đến những năm gần đây, việc đào tạo giáo viên ở cả cấp tiểu học
và trung học đã dần dần được điều chỉnh theo những yêu cầu mới của chương
trình. Hiện nay, giáo viên được đào tạo cách khuyến khích học sinh giao tiếp,
kích thích mối quan tâm củ
a các em về những nền văn hóa và ngôn ngữ khác
và hướng dẫn các em khám phá những môi trường bên ngoài.
Một số nước khuyến khích những giáo sinh học ngoại ngữ nên dành
một khoảng thời gian nhất định, có thể là một phần của khóa đào tạo, để tới
10
những nước đang sử dụng ngoại ngữ mình học. Tuy nhiên, đa số các nước
khác coi những khóa học tại đất nước của ngôn ngữ bản xứ này là hoạt động
tự chọn.
Lý do chính của việc này là chi phí cho những khóa như vậy khá cao.
Vì vậy, đào tạo tại chức được coi như quyền lợi và nghĩa vụ của giáo viên và
là công cụ quan trọng để đảm bảo nhữ
ng yêu cầu của chương trình mới được
thực hiện thành công trong thực tế lớp học. Các khoá đào tạo có xu hướng tập
trung vào phương pháp giảng dạy, nhưng có thể bao trùm nhiều vấn đề,
chẳng hạn phân tích sách giáo khoa mới, dạy ngôn ngữ cho học sinh có nhu
cầu giáo dục đặc biệt, phát triển chương trình, học ngôn ngữ từ sớm, hoặc ứng
dụng các kỹ năng ngôn ngữ vào công việc.
V. Thực tr
ạng dạy và học ngoại ngữ ở nước ta hiện nay
1. Tình hình dạy và học ngoại ngữ trong trường phổ thông
Một số nét chung:
Từ sau khi hoà bình được lập lại đến nay, việc dạy
và học ngoại ngữ trong trường phổ thông Việt Nam có thể chia thành hai giai
đoạn chủ yếu:
- Từ năm 1956 đến năm 1975: ở miền Bắc, tiếng Nga và tiếng Trung
Quốc được dạy và học phổ biến trong các trường cấp III và ở một số trường
cấp II, tiếng Anh và tiếng Pháp cũng được đưa vào giảng dạy trong nhà
trường, nhưng với quy mô nhỏ hơn; ở miền Nam, tiếng Anh và tiếng Pháp
được dạy và học trong các trường phổ thông, chủ yếu ở các thành phố lớn,
tiếng Trung Quốc cũng được dạy và học, nhưng với quy mô nhỏ.
- Từ năm 1975 đến nay: cả 4 thứ tiếng trên được dạy và học ở THCS
(cấp II) và THPT (cấp III) theo chương trình thống nhất trên phạm vi cả nước.
Số tr
ường học có dạy ngoại ngữ phát triển nhanh. Tính đến năm học
2003 - 2004, cả nước có 91,1% trường THCS và 97,7% trường THPT có dạy
ngoại ngữ.
Hình thức dạy và học ngoại ngữ đa dạng: ngoại ngữ là môn học bắt
buộc ở cấp trung học và là môn học tự chọn ở cấp tiểu học. Tiếng Anh, tiếng
Pháp và tiếng Nga, tiếng Trung Quốc trở thành những môn chuyên ở các
trường THPT chuyên; tiế
ng Pháp được dạy tăng cường để có thể trở thành
một chuyển ngữ ở một số địa phương.
Ngoại ngữ đã trở thành môn thi tốt nghiệp của cấp THPT, số lượng học
sinh học và tham gia thi tốt nghiệp môn ngoại ngữ ngày càng tăng. Theo số
liệu của Vụ Giáo dục Trung học, năm học 2001-2002 có 593.644 học sinh
(90,36%) thi tốt nghiệp tiếng nước ngoài.
11
57/64 tỉnh, thành phố có lớp chuyên ngoại ngữ, có học sinh tham gia thi
học sinh giỏi quốc gia; một số địa phương có học sinh tham gia và đạt giải ở
các kì thi Olympic tiếng Nga quốc tế.
Chương trình và sách giáo khoa: Đã xây dựng được các bộ chương
trình và SGK tiếng nước ngoài để giảng dạy trong trường phổ thông từ cấp
tiểu học đến cấp trung học. Một số bộ chương trình và SGK (tiếng Anh, tiếng
Nga, tiếng Pháp) được xây dựng, biên soạn với sự hợp tác của chuyên gia bản
ngữ nên đã phản ánh được xu thế mới của thế giới trong dạy và học ngoại
ngữ. Đặc biệt, từ năm học 2000 – 2001, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai thí
điểm việc dạy và học theo chương trình và sách giáo khoa mới từ lớp 6 THCS
đến hết lớp 12 THPT.
Đội ngũ giáo viên: Đã xây d
ựng được đội ngũ giáo viên cho cấp
trung học. 75,4% giáo viên ngoại ngữ của trường THCS có bằng tốt nghiệp
cao đẳng ngoại ngữ và 97,3% giáo viên ngoại ngữ của trường THPT có bằng
tốt nghiệp đại học. Đa số giáo viên được bồi dưỡng luân phiên hàng năm về
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm; một số lượng nhất định đã được tham dự
các khoá tập huấn nâng cao trình độ ngoại ng
ữ và kĩ năng sư phạm tại nước
ngoài. Tuy vậy nhìn chung, đội ngũ giáo viên, chưa đảm bảo đủ về số lượng,
chưa đạt yêu cầu về chất lượng theo yêu cầu của chương trình.
Nội dung và phương pháp dạy và học chưa tập trung đúng mức
vào quá trình phát triển kĩ năng giao tiếp đích thực cho học sinh. Vì vậy, sau
khi tốt nghiệp phổ thông, hầu hết học sinh không có kh
ả năng giao tiếp bằng
tiếng nước ngoài như mục tiêu đề ra.
Thiết bị dạy và học: Cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học ngoại ngữ còn
nghèo nàn, đơn giản. Theo kết quả khảo sát tháng 7/2004 tại 8 tỉnh đại diện
cho 8 vùng địa lý kinh tế của nước ta thì bình quân số phòng học ngoại ngữ
tính cho từng trường THCS là 0,07, tỷ lệ học sinh THCS / thiết bị nghe nhìn
là khoảng 1.229 HS/1 thiết bị; số lượng băng đĩa ghi hình/ ghi âm phục vụ
cho việc học ngoại ngữ của 1 trường, tính bình quân, là 7,69; số tranh ảnh tư
liệu phục vụ dạy và học ngoại ngữ, tính bình quân, là 2,13 chiếc/ trường.
Các chương trình ngoại ngữ khác:
Chương trình môn tự chọn tiếng Anh cấp Tiểu học
: Chương trình này
được theo quy định của Bộ GD và ĐT, bắt đầu học từ lớp 3 với thời lượng 2
tiết/tuần ở các trường lớp 2 buổi ngày. Bộ vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ
thể về tài liệu dạy học. Hiện nay các địa phương tiến hành giảng dạy theo các
bộ sách khác nhau như: Bộ sách của NXBGD theo chương trình cũ, Bộ sách
Let's Go của NXB Oxford (Vương qu
ốc Anh), Bộ sách của Trung tâm công
nghệ giáo dục. Tới nay có 32,2% số trường tiểu học có đạy ngoại ngữ,
12
Chương trình tiếng Anh tăng cường:
Các thành phố lớn như TP Hồ
Chí Minh đã và đang triển khai thí điểm chương trình tiếng Anh tăng cường
liên thông từ tiểu học đến trung học phổ thông, bắt đầu từ lớp 1 đến lớp 12
với thời lượng 8 tiết/tuần.
Chương trình dạy tăng cường tiếng Pháp và bằng tiếng Pháp (Chương
trình song ngữ): Chương trình này có chương trình môn học riêng từ lớp 1
đến lớp 12 và đã triển khai ở 19 tỉnh thành, bao gồm 104 trường và 650 lớp
học.
Chương trình dạy tiếng Pháp như ngoại ngữ thứ hai:
Đến năm 2006,
Chương trình này đã triển khai trong 26 tỉnh thành, thu hút trên 50.000 học
sinh. Từ năm học 2006 – 2007, tiếng Pháp được chính thức triển khai như một
môn tự chọn ở THCS và như môn tự chọn không bắt buộc ở THPT.
Tổ chức quản lý: Thiếu sự chỉ đạo thống nhất, mang tính chiến lược.
Không bảo đảm sự liên thông trong dạy và học giữa các cấp học. Chương
trình còn tản mạ
n : chương trình THPT 3 năm, chương trình 7 năm cho THCS
và THPT, chương trình tăng cường tiếng Pháp… khiến cho công tác chỉ đạo
quản lý, tổ chức kiểm tra đánh giá gặp nhiều khó khăn. Hình thức kiểm tra
đánh giá trình độ ngoại ngữ của học sinh hiện nay, chủ yếu là kiểm tra và thi
viết, chưa có điều kiện đánh giá toàn diện cả 4 kĩ năng là: nghe, nói, đọc, viết.
Nhận xét chung: Nhìn chung, chất lượng dạy và họ
c chưa cao do mục
tiêu dạy và học ngoại ngữ đặt ra chưa rõ ràng, thời lượng dạy và học ngoại
ngữ chưa đủ, đội ngũ giáo viên ngoại ngữ thiếu về số lượng và kém về chất
lượng, cơ sở vật chất còn nghèo nàn. Trình độ sử dụng ngoại ngữ của học sinh
thấp
2
.
2. Tình hình dạy và học ngoại ngữ trong các trường dạy nghề
Một số nét chung: Tổng số trường dạy nghề hiện nay là 233. Trước
2003, ngoại ngữ chưa được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức trong
các trường dạy nghề, trừ một số ngành nghề có tính đặc thù như tin học, lễ
2
Khi chuẩn bị Dự thảo “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007-
2020”, Ban soạn thảo dự định tiến hành khảo sát trình độ ngoại ngữ của học sinh hiện nay, song sau đã từ
bỏ ý định này vì nếu dựa vào các tiêu chuẩn đánh giá hiện hành khó mà kết luận về trình độ ngoại ngữ thực
sự của học sinh. Về vấn đề
này, các tổ chức quốc tế uy tín như Hội đồng Anh và Trung tâm giáo dục và đào
tạo Apollo ở Việt Nam đã cung cấp kết quả đánh giá về trình độ tiếng Anh theo chuẩn quốc tế của 20 nước.
Theo đánh giá này thì học sinh Việt Nam xếp thứ 8/20 về khả năng viết và đọc, nhưng xếp thứ 18-19/20 về
khả năng nghe và nói tiếng Anh. Họ cho rằng trình độ tiếng Anh của học sinh THPT ướ
c chừng đạt đến sơ
cấp hoặc tiền trung cấp (Elementary và Pre-intermediate), khoảng dưới 300 TOEFL hoặc 3 IELTS (tương
đương với Bậc 2 của Khung năng lực ngoại ngữ (KNLNN), xem trang 26). Gần đây có một số công trình
nghiên cứu lẻ tẻ (Nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả đào tạo tiếng Anh như một ngoại ngữ tại các trường đại
học trên địa bàn TP. HCM” của TS Vũ Thị Phương Anh và ThS. Nguyễn Bích Hạ
nh) đã sử dụng các bậc
trình độ TOEFL và IELTS để đánh giá trình độ tiếng Anh của sinh viên đại học và đi đến kết luận rằng
trình độ tiếng Anh của sinh viên ta rất thấp, chỉ tương ứng với 360-370 điểm TOEFL hoặc 3,5 điểm IELTS
(chưa tới Bậc 3 của KNLNN). Với trình độ như vậy sinh viên chưa có khả năng diễn đạt ý tưởng của mình.
13
tân, hướng dẫn viên du lịch Ngày 27/02/2003, Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội ra Quyết định số 212/2003/QĐ-BLĐTBXH quy định môn ngoại
ngữ sẽ là môn học bắt buộc hoặc tự chọn, tuỳ theo nghề đào tạo, với quỹ thời
gian là 60 giờ học đối với khoá học12 tháng, 75 giờ học – khoá 18 tháng, 90
giờ học – khoá 24 tháng, 120 giờ học – khoá 30 tháng và và 150 tiết đối với
khoá học 36 tháng. Kết quả là chỉ
trong 2 năm (2002 và 2003) tỷ lệ học sinh
học ngoại ngữ trong các trường dạy nghề đã tăng đáng kể, từ 69,27% năm
2002 lên 76,00% năm 2003. Các trường dạy nghề được lựa chọn dạy ít nhất
một trong bốn ngoại ngữ là Nga, Anh, Pháp, Trung. Tuy vậy, tỷ lệ học sinh
học tiếng Anh chiếm tới 98,6%. Tỷ lệ học sinh học tiếng Pháp, Nga và một số
các thứ tiếng khác chiếm số
còn lại. Không có học sinh học tiếng Trung.
Chương trình và sách giáo khoa: Chương trình, giáo trình phần lớn do
giáo viên của các trường tự biên soạn theo hai loại: đại cương và chuyên
ngành. Nhà trường tự tiến hành thẩm định giáo trình, chưa có chương trình
đào tạo chính quy về ngoại ngữ. Tài liệu dạy và học chủ yếu lấy từ sách nước
ngoài từ nhiều nguồn và với tên sách khác nhau.
Đội ngũ giáo viên: Giáo viên dạy ngoại ngữ hiện nay còn mỏng, chỉ
chiếm 5,6% tổng số giáo viên trong trường vào năm 2002 và 5,8% vào năm
2003. Nhiều trường phải thuê GV hợp đồng bên ngoài. Giáo viên ngoại ngữ
trong các trường dạy nghề có bằng cao đẳng trở lên chiếm một tỷ lệ lớn (76%
năm 2003). Tuy vậy số giáo viên có chứng chỉ A, B, C được dạy ngoại ngữ
chiếm tới 24%. Trình độ sư phạm của GV là một vấn đề đáng quan tâm. Số
GV có trình độ đại học s
ư phạm chiếm trên 50%, có trình độ sau đại học sư
phạm chưa tới 1%. Họ có rất ít cơ hội và điều kiện đề bồi dưỡng, nâng cao
trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm.
Thiết bị dạy và học: Các trang thiết bị dạy và học ngoại ngữ ở các
trường nghề còn nghèo nàn. Bình quân số học sinh trên một phòng học ngoại
ngữ là 637. Bình quân số học sinh trên một thi
ết bị nghe nhìn là 206, cứ 91
học sinh thì có một băng đĩa/hình/tiếng. Bình quân mỗi trường chỉ có 6,6
tranh ảnh, tư liệu ngoại ngữ.
Tổ chức quản lý: Công tác quản lý chỉ đạo chưa thống nhất, chưa đồng
bộ, chưa có chương trình liên thông giữa các cấp bậc học. Đặc biệt chưa có
quy chế rõ ràng về việc thi cử, bằng cấp. Phần lớn hình thức đánh giá h
ọc sinh
dựa vào các bài kiểm tra viết. Do vậy chất lượng đào tạo ngoại ngữ chưa cao.
3. Tình hình dạy và học ngoại ngữ trong trường trung cấp chuyên
nghiệp
Một số nét chung: Tính đến tháng 6/2006 cả nước đã có 292 trường
trung cấp chuyên nghiệp trong tổng số 515 trường, các cơ sở có đào tạo trung
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét