Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Nâng cao chất lượng tín dụng trong giai đoạn hiện nay của Ngân hàng Công Thương Viêt Nam Chi nhánh Ba Đình

thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn,
tài trợ cho các tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.
• Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian.
(1) Phân tích tín dụng trước khi vay
(2) Ngân hàng trực tiếp phát tiền cho khách hàng
(3) Các tổ chức trung gian thu nợ hộ ngân hàng
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu hoạt động cho vay sang các tổ chức
trong gian như thu nợ, phát tiền vay Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra tín
chấp cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho một
thành viên vay.
1.3.3. Cho thuê tài sản ( thuê – mua )
Là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng
thuê với thời gian đủ cho ngân hàng thu gần đủ ( hoặc đủ ) giá trị của tài sản cho
thuê cộng lãi. Hết hạn thuê khách hàng có thể mua lại tài sản đó.
(1) Khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê. Sau khi
phân tích dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng thuê
mua với khách hàng.
(2) Khách hàng gặp người sản xuất để nêu yêu cầu về qui cách, chất lượng tài
sản thuê, người sản xuất có thể phải cam kết bảo hành cho người thuê.
(3) Ngân hàng kí hợp đồng mua tài sản với người sản xuất
(4) Người bán giao tài sản cho người thuê
(5) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê, hoặc thu
hồi tài sản nếu thấy người thuê vi phạm
1.3.4. Bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh.
• Các loại bảo lãnh phân theo mục tiêu:
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư
( chủ thầu ) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các
qui định trong hợp đồng dự thầu.
5
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất
hộ khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây
tổn thất cho bên thứ ba.
- Bảo lãnh đảm bảo trả tiền ứng trước: Nhiều nhà cung cấp yêu cầu khách hàng
phải đặt trước một phần tiền trong giá trị hợp đồng cung cấp. Tuy nhiên, đề phòng
người cung cấp không cung cấp hàng đồng thời lại không trả tiền đặt cọc, bên mua
yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnh của ngân hàng về việc sẽ trả tiền ứng trước.
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay ( bảo lãnh vay vốn ): nhiều tổ chức tín
dụng khi cho vay đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc bằng hàng hoá, chứng khoán, bất
động sản, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba… Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín
dụng có nhu cầu vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu.
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán
tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân
hàng không thanh toán đủ.
1.4 Vai trò của hoạt động tín dụng.
Tín dụng là hoạt động cơ bản mang lại thu nhập chính cho các ngân hàng. Chính
vì thế hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, nó quyết
định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, nhất là trong nền kinh tế thị trường với
nhiều thách thức và cạnh tranh gay gắt. Tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao 70 –
80 % trên tổng tài sản của ngân hàng, và vì thế mà tín dụng mang lại lợi nhuận
nhiều nhất cho ngân hàng. Ở các nước phát triển thì tín dụng mang lại khoản 60%
cho các ngân hàng còn ở Việt Nam thì khoảng gần 90 %. Như vậy ta có thể thấy
tầm quan trọng của tín dụng đối với ngân hàng, không những thế mà tín dụng còn
có ảnh hưởng đến cả nền kinh tế.
Ngân hàng huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thông qua tín dụng
ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp cũng như các cá nhân
khác đang cần vốn để kinh doanh hoặc thực hiện các kế hoạch đầu tư của mình.
Nhờ đó mà việc sản xuất kinh doanh được mở rộng, hiệu quả sử dụng vốn được
nâng cao, tăng cường vốn đầu tư vào nền kinh tế, thông qua đó mà vốn tiền tệ được
6
luân chuyển trong nền kinh tế một cách liên tục, góp phần tăng tích luỹ cơ bản và
tăng trưởng kinh tế thông qua nguồn thu từ việc cung cấp tín dụng.
Tín dụng ngân hàng góp phần cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế thị
trường luôn có các trạng thái phát triển đối lập nhau. Các ngành có sự phát triển
lâu đời, điều kiện thuận lợi sẽ phát triển được mạnh mẽ, nhưng một số ngành khác
không có điều kiện được như thế thí sẽ gặp nhiều khó khăn.
1.5 Chất lượng tín dụng của NHTM:
1.5.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng.
Tín dụng thực chất là quan hệ giữa hai chủ thể ngân hàng và khách hàng., do đó
hoạt động tín dụng được đánh giá là có chất lượng khi nó đáp ứng được nhu cầu
của cả hai chủ thể.
Về phía ngân hàng, chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ phạm vi và giới
hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng. Đồng thời phải
đảm bảo được tính cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Chất lượng tín dụng
phải được gắn liền với độ an toàn của vốn vay
Về phía khách hàng, một khoản tín dụng có chất lượng khi khoản tín dụng
đó đáp ứng được nhu cầu về vốn của khách hàng . Khoản tín dụng đó phải phù hợp
về lãi suất, kì hạn khoản vay, đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng về cả khối
lượng vốn và thời gian sử dụng vốn.
1.5.2 Một số chỉ tiêu về chất lượng tín dụng.
1.5.2.1 Doanh số cho vay.
Ngân hàng là người cho vay của nền kinh tế, hoạt động chính của ngân hàng là
cho vay vì thế nên doanh số cho vay thể hiện rõ hoạt động của ngân hàng có hiệu
quả không. Doanh số cho vay mang tính thời kì, nó thể hiện quy mô hoạt động tín
dụng trong năm của ngân hàng. Đây cũng là chi tiêu để đánh giá ngân hàng một
cách chính xác. Các số liệu sẽ được so sánh với nhau để nhận thấy sự thay đổi giữa
các năm, tình hình hoạt động của ngân hàng tốt hay xấu cũng sẽ thể hiện qua chi
tiêu này.
1.5.2.2 Nợ quá hạn.
7
Nợ quá hạn chính là các khoản nợ đến hạn thanh toán của hợp đồng mà khách
hàng đã kí với ngân hàng thế nhưng khách hàng không trể trả được. Đây là một chỉ
tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, nó thể hiện tình
hình thu nợ của ngân hàng, các khó khăn mà ngân hàng gặp phải trong quá trình
hoạt động. Ngân hàng là người cho vay xong cũng lại là người đi vay nên khi
khách hàng không thể trả được nợ đúng hạn như cam kết thì khó khăn của ngân
hàng sẽ rất lớn, trong báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng mà tỷ lệ nợ quá
hạn quá cao thì gây ảnh hửơng xấu tới uy tín của ngân hàng, khó khăn hơn trong
hoạt động kinh doanh về sau.
1.5.2.3 Thời hạn hoàn vốn và vòng quay vốn.
Thời hạn hoàn vốn : Là khoảng thời gian được tính từ lúc cho vay ra đến khi
ngân hàng thu hết nợ.Thời hạn hoàn vốn lớn hơn tốc độ luân chuyển vốn thì người
sử dụng vốn vay sẽ sử dụng vốn để thực hiện mục đích khác , gây khó khăn trong
việc thu nợ của ngân hàng và hơn nữa còn chứa đựng những rủi ro tiềm tàng. Nếu
thời hạn cho vay ngắn thì sẽ tạo áp lực về thời gian đối với khách hàng , khiến cho
khách hàng không thể trả nợ cho ngân hàng đúng thời hạn.Chính vì vậy, ngân hàng
cần phải xác định chính xác thời gian cho vay hợp lí và tạo điều kiện thuận lợi cho
cả khách hàng và chính ngân hàng.
Vòng quay vốn tín dụng : Vòng quay của vốn tín dụng càng cao càng chứng tỏ
nguồn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh , tham gia càng nhiều vào chu kì sản
xuất và lưu thông hàng hoá. Một đồng vốn khi cho vay được nhiều lần sẽ đem lại
nhiều lợi nhuận hơn.Tuy nhiên , cần xét đến yếu tố quan trọng là :”Dư nợ bình
quân”.Khi dư nợ bình quân thấp sẽ làm cho vòng quay lớn nhưng lại không phản
ánh chất lượng khoản tín dụng là cao bởi thực tế nó thể hiện khả năng cho vay kém
của ngân hàng. đồng thời, nếu tốc độ quay quá nhanh cũng thể hiện cơ cấu tín
dụng chưa hợp lí, cần sửa đổi.
1.5.2.4 Thu nhập từ hoạt động cho vay.
Công thức tính :
Tỉ trọng thu nhập từ
hoạt động tín dụng =
Thu nhập từ hoạt động tín dụng
8
Tổng thu nhập
Thu nhập từ hoạt động cho vay là chỉ tiêu cần thiết để đo lường khả năng sinh lời
của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại.Chính vì vậy ngoài việc giảm tỉ lệ
nợ quá hạn thì ngân hàng còn phải tăng được thu nhập từ hoạt động cho vay. Thu
nhập từ hoạt động cho vay thể hiện hoạt động cho vay của ngân hàng phát triển
đến đâu, đương nhiên là khi thu nhập cao nghĩa là ngân hàng hoạt động có hiệu
quả và chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt.
1.5.2.5 Hiệu suất sử dụng vốn.
Công thức tính :
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng dư nợ
Tổng vốn huy động
Tỉ lệ này trên thực tế giao động từ 30% đến 100%.Thông thường vào khoản trên
80% là tốt ,còn nếu dưới hoặc trên mức độ đó , thậm chí xấp xỉ 100% có thể gây
ảnh hưởng không tốt cho ngân hàng.Lúc đó tính thanh khoản của ngân hàng sẽ bị
đe doạ do khối lượng dự trữ không được đảm bảo .Tuy nhiên , để xác định một tỉ
lệ thế nào là phù hợp còn phụ thuộc kết cấu của vốn lưu động, lĩnh vực ngân hàng
tập trung tài trợ và nhiều nhân tố khác.
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHTM:
1.6.1 Nhân tố chủ quan.
1.6.1.1 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Đây là một trong số các nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
tín dụng của ngân hàng. Các ngân hàng có thể đưa ra kế hoạch kinh doanh, các
chiến lược thực hiện mục tiêu của mình qua đó cải thiện tình hình kinh doanh cũng
như chất lượng tín dụng. Tuy nhiên không phải lúc nào các chiến lược để mở rộng
thị trường hay cải thiện tình hình kinh doanh cũng đạt được kết qủa tốt nhất.
1.6.1.2 Chính sách tín dụng của ngân hàng.
Để đạt được các mục tiêu trong kinh doanh các ngân hàng đều phải đưa ra các
chính sách để thực hiện. Với tín dụng cũng thế, để cải thiện chất lượng tín dụng
9
ngân hàng cần nghiên cứu thảo luận để có thể đưa ra các chính sách thiết thực để
có thể nâng cao chất lượng tín dụng, các chính sách được đưa ra phải phù hợp với
tình hình hoạt động của ngân hàng, phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội.
1.6.1.3 Đội ngũ cán bộ tín dụng.
Đây chính là nguyên nhân rất quan trọng đối với chất lượng tín dụng, cán bộ tín
dụng là người trực tiếp thực hiện chiến lược kinh doanh và các chính sách của
ngân hàng. Chính vì thế đây là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng của ngân hàng. Về cán bộ tín dụng thì có một số điều đáng lưu ý như trình độ
của cán bộ tín dụng, đạo đức nghề nghiệp…
1.6.1.4 Quy trình phát triển tín dụng.
Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các cán bộ tín dụng vì khi thực hiện công tác
của mình họ cần làm theo đúng qui trình tín dụng đã được đưa ra, thế nhưng do
tình hình kinh tế ngày càng phát triển va thay đổi, ngân hàng cũng phải thay đổi bổ
sung để phù hợp hơn với những thay đổi của nền kinh tế. Để phù hợp hơn với quá
trình phát triển của nên kinh tế thì các quy trình tín dụng cũng cần được thay đổi,
nhận thức và cách làm việc cũng cần thay đổi để phù hợp hơn
1.4.1.5 Vấn đề về kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
Đây cũng là vấn đề quản lý về thanh tra về bản thân ngân hàng, yếu tố này cũng
rất quan trọng. Kiểm tra kiểm soát về nội bộ sẽ tránh được các sai sót trong việc
thực hiện các chính sách cũng như việc làm sai trái của cán bộ tín dụng. Đây có thể
coi là bước cuối cùng trong các biện pháp để nâng cao chất lượng tín dụng trong
ngân hàng.
1.6.2 Nhân tố khách quan.
1.6.2.1 Các nhân tố từ phía khách hàng.
Khoản tín dụng ngân hàng chỉ được gọi là đạt chất lượng khi khách hàng sử
dụng đúng mục đích và tạo lợi nhuận từ khoản vay đó, mà việc đó lại phụ thuộc
vào các nhân tố về năng lực, kinh nghiệm quản lý của khách hàng trong kinh
doanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay các yếu tố kinh doanh thường
xuyên biến động như nhu cầu thị trường, giá cả và nguồn cung cấp nguyên vật liệu
10
…các yếu tố này dẫn đến sự sai lệch trong tính toán của doanh nghiệp về tiến độ
sản xuất kinh doanh hay thời gian thu hồi vốn.
Nhân tố liên quan đến uy tín và đạo đức của người đi vay: đây được coi là một
trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến chất lượng tín dụng của các ngân
hàng. Trên thực tế đã chứng minh đạo đức và khả năng chi trả của khách hàng có
thể thay đổi sau khi thực hiện kế hoạch sử dụng vốn. Nhiều trường hợp khách hàng
mạo hiểm với nguồn vốn vay được để kì vọng thu lại lợi nhuận cao hơn, chính vì
thế mà họ sẵn sàng làm sai với kế hoạch ban đầu đã được ngân hàng chấp nhận, để
thực hiện điều này họ đã sử dụng rất nhiều cách để ứng phó với việc kiểm tra giám
sát của ngân hàng như: cung cấp thông tin sai, mua chuộc cán bộ ngân hàng… Như
thế ta có thể thấy uy tín và đạo đức của khách hàng là rất quan trọng đối với ngân
hàng, nó có thể là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng hợp tác làm việc tiếp tục của
khách hàng đó với ngân hàng.
1.6.2.2 Môi trường kinh tế xã hội.
Môi trường pháp lý thống nhất và ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp, vì thế nó cũng tác
động đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Các chính sách kinh tế có tác động
trực tiếp và rất lớn đến lĩnh vực tài chính ngân hàng : chính sách tiền tệ, chính sách
tài khoá… Chỉ một sự thay đổi nhỏ trong chính sách của Nhà nước cũng dẫn đến
sự chuyển hướng của các hoạt động kinh tế ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn vì
ngân hàng là trung gian tài chính trong nền kinh tế. Trên thực tế thì tại Việt Nam
môi trường pháp lý vẫn chưa ổn định, pháp luật vẫn phải sửa đổi để phù hợp với
đường lối phát triển chính vì vậy ngành tài chính ngân hàng vẫn chịu rất nhiều tác
động không tốt từ những việc trên.
Môi trường kinh tế ổn định cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các ngân hàng phát triển. Bên cạnh đó
môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ tạo áp lực khiến ngân hàng phải hoàn thiện,
nâng cao khả năng làm việc, uy tín của mình để mở rộng thị trường và thu hút
thêm khách hàng mới. Không chỉ môi trường kinh tế trong nước có tác động đến
11
chất lượng tín dụng mà sự thay đổi của nền kinh tế thế giới cũng có ảnh hưởng
không nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện tốt cho hệ thống ngân hàng
hoạt động cũng như các doanh nghiệp cũng sẽ yên tâm và mạnh dạn đưa ra các kế
hoạch kinh doanh mới có hiệu quả cao hơn. Nếu tình hình chính trị xã hội có nhiều
bất ổn sẽ mang lại nhiều rủi ro cho các hoạt động của các ngân hàng và doanh
nghiệp chính vì thế sẽ ảnh hưởng đến cả nền kinh tế
CHƯƠNG 2
Khái quát về Ngân Hàng Công Thương Việt Nam
Chi nhánh Ba Đình.
2.1. Lịch sử hình thành của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam
Chi Nhánh Ba Đình.
Chi nhánh Ngân hàng công thương khu vực Ba Đình ra đời từ năm 1959 với tên
gọi ban đầu là Chi điểm Ngân hàng Ba Đình trực thuộc Ngân hàng Hà Nội. Địa
điểm đặt trụ sở tại phố Đội Cấn – Hà Nội (nay là 142 phố Đội Cấn ).
Ngày 01/07/1988, thực hiện Nghị định 53 của Hội đồng Bộ trưởng ngành ngân
hàng chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý hành chính, kế hoạch sang hạch toán
kinh tế kinh doanh sang mô hình quản lý Ngân hàng 2 cấp (Ngân hàng Nhà nước –
NHTM). Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Ba Đình cũng đã chuyển đổi thành một
Chi nhánh NHTM quốc doanh với tên gọi Chi nhánh Ba Đình trực thuộc Ngân
hàng Công thương thành phố Hà Nội.
Trước những khó khăn vướng mắc từ mô hình tổ chức quản lý, bắt đầu từ 01/04/
1993, Ngân hàng Công thương Việt Nam thực hiện thí điểm mô hình tổ chức quản
lý 2 cấp (Cấp TW- Quận), xoá bỏ cấp trung gian là NHCT Thành phố Hà Nội. Do
vậy, ngay sau khi nâng cấp quản lý cùng với việc đổi mới cơ chế hoạt động, Ngân
hàng Công thương Ba Đình đã có sức bật mới, hoạt động kinh doanh theo mô hình
một NHTM đa năng, có đầy đủ năng lực, uy tín để tham gia cạnh tranh một cách
tích cực trên thị trường
12
Từ năm 1995 đến nay hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba
Đình liên tục được NHCT Việt Nam công nhận là một trong những chi nhánh xuất
sắc nhất trong hệ thống NHCT Việt Nam. Năm 1998 được Thủ tướng Chính phủ
trao bằng khen, năm 1999 được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng
Ba, liên tục trong các năm 2000 – 2005 được nhiều cấp khen thưởng: Chủ tịch
UBND Thành phố Hà Nội tặng bằng khen, được HĐTĐ- KT nghành Ngân hàng đề
nghị Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen.
2.1.1.Sơ đồ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Ba Đình.
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ba Đình
13
Các PGĐ và
Kế toán trưởng
P.Tiền
tệ, kho
quỹ
Khối
Kinh doanh
P. Tổ
chức
hành
chính
P. Tổng
hợp
P. Kế
toán
P. Khách
hàng DN
lớn
P. Khách
hàng cá
nhân.
P. Khách
hàng DN
vừa và
nhỏ
Phòng
CNTT
Khối
CNTT
Giám đốc
Khối
Dịch vụ
Khối
Hỗ trợ
Khối Quản
lý RR
Tổ thẻ
P. Thanh
toán
XNK
P. Thẩm
định và
quản lý RR
PG
Tây Hồ

“Nguồn: Chi nhánh Ba Đình”.
Bộ máy hoạt động của Chi nhánh Ba Đình có trên 300 cán bộ - nhân viên
(Trong đó trên 85% có trình độ đại học và trên Đại học, 10% có trình độ trung cấp
và đang đào tạo Đại học, còn lại là lao động giản đơn) với 12 phòng nghiệp vụ, 1
phòng giao dịch và 12 quỹ tiết kiệm hoạt động trên một địa bàn rộng bao gồm các
quận: Ba Đình – Hoàn Kiếm – Tây Hồ.
2.2. Hoạt động và kết quả kinh doanh của Chi nhánh Ba Đình.
2.2.1. Hoạt động huy động vốn.
Xác định huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng, giúp ngân
hàng mở rộng quy mô và chiếm lĩnh thị trường, do đó Chi nhánh Ba Đình rất
chú trọng đẩy mạnh công tác huy động vốn.
Bảng 1.2: Kết quả huy động vốn
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm
Loại tiền gửi
2004 2005
Tăng/
giảm
2006
Tăng/
giảm
2007
Tăng/
giảm
Tổng nguồn vốn
huy động
3.639 4.164 14,42% 4.846 16,38% 5.141 6,09%
VNĐ 2.984 3.469 16,25% 4.000 15,30% 4.040 1%
Tỷ trọng 82% 83,30% 82,50% 78,58%
Ngoại tệ quyVNĐ 655 695 6,10% 846 21,70% 1.101 30,14%
Tỷ trọng 18% 16,70% 17,50% 21,42%
“ Nguồn: Báo cáo tổng kết năm của chi nhánh Ba Đình”
Năm 2005, tổng số vốn huy động đạt 4164 tỷ đồng, tăng 14,42% so với năm
2004. Trong đó tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng xấp xỉ
nhau, tuy nhiên tiền gửi từ dân cư vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn: 50,76% với 2.114 tỷ
đồng, tăng so với năm 2004 là 281 tỷ đồng; bên cạnh đó tiền gửi từ các tổ chức
kinh tế cũng tăng 244 tỷ.
Năm 2006, tốc độ tăng trưởng huy động vốn đạt 16,38%. Tốc độ này khá cao
hơn so với tốc độ tăng trưởng của năm 2005,Điều này cho thấy chi nhánh đã chủ
động hơn trong việc huy động vốn với những đợt phát hành công cụ nợ để tăng
vốn theo nhu cầu của mình.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét