Chuyên đề thực tập
- Dự án BT: Là những dự án được đầu tư theo hợp đồng Xây dựng - Chuyển
giao.
*Theo nguồn vốn:
- Dự án đầu tư có nguồn vốn trong nước.
- Dự án đầu tư có nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
- Dự án đầu tư có viện trợ phát triển của nước ngoài.
*Theo lĩnh vực đầu tư:
- Dự án đầu tư cho lĩnh vực sản xuât kinh doanh.
- Dự án đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ.
- Dự án đầu tư cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng.
- Dự án đầu tư cho lĩnh vực văn hoá xã hội.
1.1.2.3. Yêu cầu của một dự án đầu tư:
Một dự án đầu tư có tính thuyết phục đòi hỏi phải đảm bảo đầy đủ các yêu
cầu chủ yếu sau:
- Tính khoa học: Tính khoa học của DAĐT thể hiện ở tính trung thực của
thông tin, đảm bảo độ chính xác của các số liệu và phương pháp tính toán; lý giải
các nội dung dự án phải logic, chặt chẽ. Về hình thức phải sạch đẹp, rõ ràng.
- Tính khả thi: DAĐT có khả năng ứng dụng vào thực tế.
- Tính pháp lý: Việc lập và trình bày DAĐT phải tuân theo những quy định
chung, không được vi phạm những điều cấm về an ninh, quốc phòng, môi trường,
thuần phong mỹ tục, không trái với luật pháp, chính sách của Nhà nước.
- Tính hiệu quả: Tính hiệu quả của DAĐT được phản ánh thông qua chỉ tiêu
kinh tế - xã hội mà dự án mang lại.
1.1.2.4. Chu trình của dự án đầu tư:
Chu trình dự án đầu tư gồm 3 thời kỳ:
Thời kỳ 1: Chuẩn bị dự án
Trong thời kỳ này của dự án bao gồm các giai đoạn sau:
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
Thời kỳ 2: Thực hiện dự án
Trong thời kỳ này của dự án bao gồm các giai đoạn:
Thời kỳ 3: Kết thúc dự án
Trong thời kỳ này của dự án bao gồm các giai đoạn:
1.2. THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1. Khái niệm:
Thẩm định tài chính dự án đầu tư là quá trình kiểm tra đánh giá lại dự án (đã
được soạn thảo) một cách khách quan, khoa học và toàn diện trên các nội dung của
dự án để ra quyết định đầu tư.
Trong hoạt động NHTM, thẩm định tài chính dự án đầu tư là sử dụng các
công cụ và kĩ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của
dự án mà khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.
Lý Văn Tú - TCDN48B
Giai đoạn 2
Nghiên cứu tiền khả
thi (dự kiến quy mô
vốn, thị trường, kỹ
thuật, công nghệ, môi
trường, tài chính, quản
lý, nhân lực )
Giai đoạn 1
Nghiên cứu cơ hội đầu
tư (hình thành ý tưởng
đầu tư, bản giới thiệu
cơ hội đầu tư, tìm đối
tác đầu tư)
Giai đoạn 2
Nghiên cứu tiền khả thi (dự
kiến quy mô vốn, thị
trường, kỹ thuật, công
nghệ, môi trường, tài chính,
quản lý, nhân lực )
Giai đoạn 1
Nghiên cứu cơ hội đầu tư
(hình thành ý tưởng đầu tư,
bản giới thiệu cơ hội đầu
tư, tìm đối tác đầu tư)
Giai đoạn 3
Nghiên cứu
khả thi (hồ sơ
thẩm định, hồ
sơ phê duyệt)
Giai đoạn 1
Xây dựng công trình dự án (chuẩn
bị xây dựng, thiết kế chi tiết, xây
lắp, nghiệm thu đưa vào họat động)
Giai doạn 1
Đánh giá dự án sau khi thực hiện
(thành công, thất bại, nguyên nhân)
Giai đoạn 2
Thanh lý, phát triển dự án mới
Chuyên đề thực tập
1.2.2. Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư:
Trong hoạt động của NHTM, thẩm định tài chính DAĐT là vấn đề rất quan
trọng, là công việc không thể thiếu trong cho vay của ngân hàng. Khác với lập dự án
đầu tư, thẩm định tài DAĐT chỉ phân tích và hiểu được tính chất khả thi thực sự của
dự án về mặt tài chính đứng trên góc độ của ngân hàng. Khi lập dự án, khách hàng
do mong muốn được vay vốn có thể đã thổi phồng và dẫn đến ước lượng quá lạc
quan về hiệu quả tài của dự án. Do vậy, thẩm định tài chính dự án cần phải xem xét
đánh giá đúng thực chất của dự án.
Thông qua thẩm định tài chính DAĐT, ngân hàng đánh giá chính xác về tính
khả thi, tính hiệu quả và khả năng trả nợ của DAĐT. Hơn nữa trong quá trình thẩm
định, ngân hàng có thể tham gia đóng góp ý kiến cho chủ đầu tư với mục đích nâng
cao hiệu quả hoạt động của dự án đầu tư cũng là góp phần giảm rủi ro cho ngân
hàng. Thẩm định DAĐT giúp ngân hàng xác định được số tiền cho vay tối đa, thời
hạn cho vay, phương thức vay, lãi suất cho vay, vấn đề bảo đảm tiền vay, dự kiến
tiến độ giải ngân, mức độ thu nợ hợp lý và đặc biệt giúp ngân hàng đánh giá được
mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay. Thẩm định tài chính DAĐT một
cách đúng đắn, khách quan, theo đúng quy trình là cách tôt nhất giúp ngân hàng hạn
chế rủi ro.
1.2.3 Nội dung thẩm định DAĐT nói chung của NHTM
1.2.3.1. Sự cần thiết phải đầu tư
Đối với bất kỳ dự án nào, việc phân tích, đánh giá nhằm làm rõ được sự cần
thiết phải đầu tư là xuất phát điểm để tiếp tục hoạch định các nội dụng khác: Lựa
chọn hình thức đầu tư, địa điểm, quy mô, thời điểm, các giải pháp công nghệ, thiết
bị để đánh giá, lựa chọn dự án, lĩnh vực, quy mô đầu tư phù hợp.
Thông thường việc đánh giá sự cần thiết phải đầu tư dựa trên một số nội
dung sau:
- Tính chất, mục tiêu đầu tư dự án.
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
- Căn cứ vào chiến lược /quy hoạch phát triển ngành, phát triển của địa
phương, chiến lược đầu tư của Công ty.
- Căn cứ vào quy mô, hình thức đầu tư.
- Căn cứ vào tình hình SXKD, khả năng hoạt động, tình hình vay và trả nợ
vay với các tổ chức tín dụng.
Các nội dung trên sẽ tiếp tục được đánh giá, phân tích cụ thể tại các phần
sau. Việc đánh giá ở phần này chỉ mang tính chất tổng quát để thấy được những
đánh giá khái quát về dự án. Đây là những cơ sở khái quát để có thể thấy rõ được
những thuận lợi, khó khăn của dự án và là cơ sở để ngân hàng quyết định việc đầu
tư dự án có hợp lý không. Nếu hợp lý, tiếp tục phân tích các nội dung trên cụ thể
trong các nội dung dưới đây.
1.2.3.2. Thẩm định khía cạnh pháp lý của chủ đầu tư và dự án
Trước khi đi vào đánh giá khía cạnh pháp lý của dự án, cán bộ thẩm định
(CBTĐ) xem xét, đánh giá lịch sử hoạt động của khách hàng, tư cách và năng lực
pháp lý của chủ đầu tư. Những thông tin này được CBTĐ sử dụng để đánh giá
chung về khả năng hiện tại cũng như tính cạnh tranh của công ty trong tương lai.
Đây là điều cần thiết để biết liệu công ty có thể đứng vững trước những thay đổi
bên ngoài cũng như khả năng trả nợ của chủ đầu tư trong tương lai.
Thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án, CBTĐ phải xem xét từ tổng quát tới
chi tiết về dự án, kiểm tra sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế xã
hội, quy hoạch phát triển của ngành vùng, quy hoạch xây dựng. Với những dự án
chưa nằm trong diện quy hoạch thì phải có giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về
quy hoạch.
Bên cạnh đó CBTĐ xem xét, đánh giá sự tác động của dự án tới các vấn đề
về an ninh, môi trường, đất đai, sử dụng lao động,…
Sau khi có những đánh giá về khía cạnh pháp lý của chủ đầu tư cũng như dự
án đạt yêu cầu theo đúng quy định CBTĐ tiến hành thẩm định các nội dung tiếp
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
theo của dự án.
1.2.3.3. Thẩm định khía cạnh thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm,
dịch vụ đầu ra của dự án
Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án đóng vai trò rất quan
trọng, quyết định việc thành bại của dự án. Vì vậy, CBTĐ cần xem xét, đánh giá kỹ
về phương diện này khi thẩm định dự án. Các nội dung chính cần xem xét, đánh giá
gồm:
* Đánh giá tổng quan về nhu cầu sản phẩm của dự án:
- Phân tích quan hệ Cung - Cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án;
- Định dạng sản phẩm của dự án;
- Đặc tính nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án. Tình hình sản
xuất, tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ thay thế đến thời điểm thẩm định dự án.
- Xác định tổng nhu cầu hiện tại và dự đoán nhu cầu tương lai đối với sản
phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án.
* Đánh giá về cung sản phẩm:
- Xác định năng lực sản xuất, cung cấp đáp ứng nhu cầu trong nước hiện tại
của sản phẩm dự án.
- Dự đoán biến động của thị trường trong tương lai khi có các dự án khác, đối
tượng khác cùng tham gia thị trường sản phẩm và dịch vụ đầu ra của dự án.
- Dự đoán ảnh hưởng của các chính sách xuất khẩu khi Việt Nam tham gia với
các nước trong khu vực và quốc tế (AFTA, WTO, APEC; Hiệp định thương mại
Việt - Mỹ,…) đến thị trường sản phẩm của dự án.
- Đưa số liệu dự kiến về tổng cung, tốc độ tăng trưởng về tổng cung sản phẩm,
dịch vụ.
Ngoài ra, trong đánh giá khía cạnh thị trường về sản phẩm, dịch vụ của dự án
CBTĐ còn chú ý tới các nội dung:
* Thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án
* Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối
* Đánh giá, dự kiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án.
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
* Đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào.
1.2.3.4. Đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào
Trên cơ sở hồ sơ dự án đánh giá khả năng đáp ứng cung cấp nguyên vật liệu
đầu vào cho dự án:
- Nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, chi phí đầu tư vùng/nguồn
nguyên liệu đầu vào để đưa vào tổng mức đầu tư của dự án (nếu có).
- Các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào: một hay nhiều nhà cung cấp,
đã có quan hệ từ trước hay mới thiết lập, khả năng cung ứng, mức độ tín nhiệm.
- Chính sách của Nhà nước đối với việc nhập khẩu các nguyên vật liệu
đầu vào (nếu có);
- Biến động về giá mua, nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào, những biến
động của thị trường quốc tế, tỷ giá ngoại tệ trong trường hợp phải nhập khẩu.
1.2.3.5. Đánh giá, nhận xét các nội dung về phương diện kỹ thuật
Đây là nội dung tiếp theo trình tự thẩm định dự án đầu tư. Thẩm định phương
diện kĩ thuật của dự án được tiến hành sau thẩm định khía cạnh thị trường và nó
là cơ sở cho thẩm định tài chính dự án đầu tư. Đây có thể nói là khâu thẩm định
tốn nhiều thời gian và tương đối phức tạp đòi hỏi cán bộ thẩm định tại các Ngân
hàng nói chung phải có những hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của dự án mới có
thể đưa ra những nhận xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học và chính
xác về dự án đang xem xét.
Nội dung thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án bao gồm:
* Địa điểm xây dựng: Đánh giá tổng quan về địa điểm đầu tư dự án có thuận
lợi/khó khăn gì về các mặt: hạ tầng kĩ thuật, hạ tầng xã hội như: hệ thống giao
thông, điện, nước, thông tin liên lạc; Trình độ dân trí, mật độ dân cư, mật độ xây
dựng… Xem xét địa điểm xây dựng có gần các nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu
vào của dự án, có nằm trong quy hoạch hay không,điều kiện địa hình, địa chất, khí
tượng thuỷ văn tại địa điểm xây dựng công trình.
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
* Quy mô sản xuất và sản phẩm của dự án: thẩm định công suất thiết kế dự
kiến của dự án, trình độ quản lý; Sản phẩm của dự án là sản phẩm mới hay đã có
sẵn trên thị trường…
* Công nghệ, dây chuyền thiết bị: có tiên tiến và phù hợp với trình độ hiện
tại, tương lai không, lý do lựa chọn công nghệ này…
* Quy mô, giải pháp xây dựng: CBTĐ xem xét quy mô xây dựng, giải pháp
kiến trúc có phù hợp với dự án hay không, các giải pháp thi công các công
trình/hạng mục công trình phức tạp, mang tính chất đặc thù (nếu có).
* Đền bù, di dân tái định cư, môi trường, phòng cháy chữa cháy: Các nội
dung cần thẩm định bao gồm:
- Diện tích đất phải đền bù các loại và chi phí đền bù (nếu có);
- Vấn đề di dân, tái định canh, định cư và các chi phí liên quan…
- Xem xét, đánh giá các giải pháp về môi trường, PCCC của dự án.
1.2.3.6. Đánh giá về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án.
- Xem xét kinh nghiệm, trình độ tổ chức vận hành của Chủ đầu tư dự án.
Trong trường hợp Chủ đầu tư chưa có kinh nghiệm trong việc quản lý, điều hành dự
án thì phương án của Chủ đầu tư là gì ?
- Xem xét năng lực, uy tín các nhà thầu: tư vấn, thi công, cung cấp thiết bị-
công nghệ (nếu đã có thông tin).
- Đánh giá về nguồn nhân lực của dự án: số lượng lao động dự án cần, đòi hỏi
về tay nghề, trình độ kỹ thuật, kế hoạch đào tạo và khả năng cung ứng nguồn nhân
lực cho dự án.
1.2.3.7. Thẩm định khía cạnh tài chính dự án đầu tư
Đây là nội dung quan trọng nhất, phức tạp nhất và tốn kém thời gian nhất
trong tất cả các nội dung thẩm định của dự án. Nội dung này có tính chất quyết định
đến tính khả thi của dự án và xem xét Ngân hàng có ra quyết định tài trợ vốn cho dự
án hay không. Nội dung này sẽ được nghiên cứu cụ thể ở phần sau.
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
1.2.4 Nội dung thẩm định tài chính DAĐT của NHTM
1.2.4.1. Thẩm định tổng vốn đầu tư và tính khả thi phương án nguồn vốn:
* Tổng vốn đầu tư dự án:
Tổng vốn đầu tư là toàn bộ số tiền cần thiết để xây dựng và đưa dự án đi vào
hoạt động, tổng vốn đầu tư là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng công trình của
dự án.
Thẩm định vốn đầu tư là việc phân tích và xác định nhu cầu vốn đầu tư cần thiết
dành cho một dự án. Thẩm định tổng vốn đầu tư là rất quan trọng. Đặc điểm của các dự án
là thường yêu cầu một lượng vốn lớn và sử dụng trong một thời gian dài. Tổng vốn đầu tư
này trước khi trình Ngân hàng thì đã được xác định và đã được nhiều cấp, ngành xem xét,
phê duyệt. Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn cần phải thẩm định lại trước khi cho vay vì: Để
tránh trường hợp trong quá trình thực hiện dự án, vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm
xuống quá lớn so với dự kiến ban đầu sẽ ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của dự án.
Xác định tổng vốn đầu tư chính xác là cơ sở để tính toán hiệu quả tài chính và dự
kiến đúng khả năng trả nợ của dự án.
Khi thẩm định tổng vốn đầu tư, cần xem xét các yếu tố làm tăng chi phí do trượt
giá, phát sinh thêm khối lượng, biến động tỷ giá (nếu dự án sử dụng ngoại tệ).
Trường hợp dự án mới ở giai đoạn duyệt chủ trương hoặc tổng mức vốn đầu
tư mới ở dạng khái toán, CBTĐ phải dựa vào số liệu đã thống kê để nhận định,
đánh giá và tính toán.
* Xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án:
Phải xem xét được tiến độ thực hiện dự án và nhu cầu cho từng giai đoạn,
xem xét tính hợp lý của tỷ lệ từng nguồn vốn tham gia vào các giai đoạn. thông
thường vốn tự có phải tham gia đầu tư trước.
Việc xác định tiến độ thực hiện cũng như nhu cầu vốn làm cơ sở cho việc dự
kiến tiến độ giải ngân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác định thời
gian vay và trả nợ.
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
1.2.4.2 Thẩm định về nguồn vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn
Các phương án tài trợ cho dự án đầu tư thông thường bao gồm các nguồn chính là:
Vốn tự có của chủ đầu tư, vốn vay NHTM, vốn vay quỹ hỗ trợ phát triển, vốn do Ngân
sách cấp, nguồn vốn khác. Nhiệm vụ thẩm định các nguồn vốn tài trợ cho dự án là để xem
xét về số lượng, thời gian, tỷ trọng các nguồn trong tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn có hợp lý
và tối ưu. Vốn chủ sở hữu tham gia dự án thường phải chiếm 30% tổng vốn đầu tư.
Nguồn vốn chủ sở hữu cho biết năng lực tài chính của chủ đầu tư, đây cũng là chỉ
tiêu cho biết độ rủi ro sau khi giải ngân và khả năng trả nợ sau khi dự án hoàn thành
của chủ đầu tư. Mặt khác, cơ cấu nguồn vốn sẽ chi phối việc xác định dòng tiền phù hợp
cũng như lựa chọn lãi suất chiết khấu hợp lý để xác định NPV của dự án. Trong quá trình
thẩm định các nguồn tài trợ cho dự án, Ngân hàng phải xem xét cơ sở pháp lý và cơ sở
thực tế của các nguồn vốn để có thể khẳng định chắc chắn rằng các nguồn đó là có thực.
1.2.4.3. Thẩm định các thông số xác định doanh thu và chi phí của dự án:
* Thẩm định các thông số xác định doanh thu:
Các thông số dự báo thị trường là những thông số dùng làm căn cứ để dự báo
tình hình thị trường và thị phần của doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, qua đó, có
thể ước lượng được doanh thu của dự án. Do vậy, mức độ chính xác của doanh thu
ước lượng phụ thuộc rất lớn vào những thông số này. Các thông số này sử dụng rất
khác nhau tùy thuộc vào từng loại sản phẩm. Nhìn chung các thông số thường gặp
gồm:
Dự báo nhu cầu thị trường về loại sản phẩm dự án sắp đầu tư.
Ước lượng thị phần thị trường của doanh nghiệp trước và sau khi đầu tư dự án.
- Dự báo tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế.
- Dự báo tỷ lệ lạm phát.
- Dự báo tốc độ tăng giá.
- Dự báo tỷ giá hối đoái.
….
* Thẩm định các thông số xác định chi phí:
Lý Văn Tú - TCDN48B
Chuyên đề thực tập
Tương tự dự báo thị trường và doanh thu, cũng có các thông số dùng để làm
căn cứ dự báo chi phí hoạt động của dự án. Các thông số này rất đa dạng và thay đổi
tùy theo đặc điểm công nghệ sử dụng trong từng loại dự án. Thông thường các
thông số này do các chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia kế toán quản trị ước lượng
và đưa ra. Các thông số này thường bao gồm:
- Công suất máy móc thiết bị sử dụng trong dự án.
- Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động.
- Đơn giá các loại chi phí.
- Phương pháp khấu hao, tỷ lệ khấu hao
…
1.2.4.4. Thẩm định dòng tiền hay ngân lưu của dự án:
Ngân lưu hay dòng tiền tệ là bảng dự toán thu chi trong suốt thời gian tuổi
thọ của dự án, nó bao gồm những khoản thực thu (dòng tiền vào) và thực chi (dòng
tiền ra) của dự án tính theo từng năm.
Trong công tác lập và phân tích dự án đầu tư, người ta thường quy ước ghi
nhận dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án đều ở thời điểm cuối năm. Do vậy,
dòng tiền sử dụng để phân tích hiệu quả của dự án là dòng tiền cuối kì. Dòng tiền
này là dòng tiền dự báo chứ không phải là dòng tiền đã xảy ra nên thường được gọi
là dòng tiền kỳ vọng.
Khi phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính của dự án, chúng ta sử dụng
dòng tiền kỳ vọng chứ không phải sử dụng lợi nhuận như là cơ sở để đánh giá dự
án. Vậy vì sao cơ sở dùng để đánh giá hiệu quả tài chính dự án không phải là lợi
nhuận mà lại là dòng tiền? Điều đó được giải thích là: vì lợi nhuận không phản ánh
chính xác thời điểm thu và chi tiền của dự án, vì vậy không phản ánh một cách
chính xác tổng lợi ích của dự án theo thời giá tiền tệ.
a) Thẩm định cách thức xử lý các loại chi phí khi ước lượng dòng tiền
* Chi phí cơ hội: là những khoản thu nhập mà công ty phải mất đi do sử
dụng nguồn lực của công ty vào dự án. Chi phí cơ hội không phải là khoản thực chi
nhưng vẫn được tính vào dòng tiền vì đó là một khoản thu nhập mà công ty phải
Lý Văn Tú - TCDN48B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét