Quan điểm triết học Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân
và cá nhân trong lịch sử được trình bày trong các giáo trình, các bài giảng
môn triết học Mác-Lênin và những tài liệu khác nhau, đặc biệt là các Giáo
trình triết học Mác-Lênin dùng trong các trường Cao đẳng, Đại học do Bộ
giáo dục và đào tạo biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, phát hành từ
năm 1992 đến nay.
Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh dùng trong các trường Cao đẳng,
Đại học do Bộ giáo dục và đào tạo, biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2003 đến 2009.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc”, của tác giả Phạm Bá
Lượng, Học Viện An Ninh, trên tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2005.
Luận văn thạc sỹ “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò quần
chúng nhân dân trong lịch sử và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam”,
của Trần Văn Đặng, Huế - 2006.
“Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quần chúng nhân dân và bài
học “Lấy dân làm gốc” trong giai đoạn hiện nay” của Dương Thị Thu Hương,
khóa luận tốt nghiệp, năm 2003.
Bài học “Lấy dân làm gốc” trong lịch sử tư tưởng Việt Nam với công
tác vận động quần chúng giai đoạn hiện nay”, của Nguyễn Thanh Niềm, khóa
luận tốt nghiệp, năm 2009.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi kế thừa có chọn lọc những kết quả
nghiên cứu đó, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa tư tưởng “Lấy
dân làm gốc” của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân và tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh, từ đó vạch ra ý
nghĩa của quan điểm này đối với giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
Nhiệm vụ:
5
Khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân.
Chỉ ra những nội dung cơ bản của tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của
Hồ Chí Minh.
Chỉ rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về “Lấy dân làm gốc” đã kế thừa và
phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân như thế nào.
Chỉ rõ ý nghĩa của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và
phương pháp luận biện chứng duy vật; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân.
Các phương pháp nghiên cứu của đề tài là: phương pháp phân tích-tổng
hợp, phương pháp logic-lịch sử, phương pháp đối chiếu-so sánh, v.v.
5. Đóng góp của đề tài
Khóa luận là một công trình nghiên cứu ở trình độ cử nhân. Vì vậy, tác
giả chỉ mong rằng được góp phần của mình vào việc làm rõ tư tưởng Hồ Chí
Minh về “Lấy dân làm gốc” đã kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân như thế nào.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể làm tài liệu học tập,
tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
khóa luận gồm 2 chương 4 tiết:
Chương1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân.
1.1. Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sử
1.2. Khái niệm và vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử
Chương 2: Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.
2.1. Cơ sở hình thành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh
6
2.2. Nội dung tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh và ý nghĩa
của nó trong giai đoạn hiện nay
7
NỘI DUNG
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ
VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
1.1. Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sử
1.1.1. Khái niệm quần chúng nhân dân
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định chủ thể chân chính sáng tạo ra và
quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử là quần chúng nhân dân. Quá
trình vận động, phát triển của lịch sử luôn diễn ra thông qua hoạt động của
đông đảo quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một cá nhân hay một tổ
chức, nhằm thực hiện những mục đích nhất định. Bởi vì, mọi lý tưởng giải
phóng xã hội, giải phóng con người tự nó không biến đổi được hiện thực, mà
phải thông qua sự tiếp thu (nhận thức) và hoạt động thực tiễn của quần chúng
nhân dân. C.Mác đã viết: Cố nhiên vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê
phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bằng lực lượng vật
chất. Nhưng mỗi khi lý luận thâm nhập vào quần chúng thì sẽ trở thành lực
lượng vật chất.
Tuy nhiên, trong lịch sử, vì lợi ích giai cấp mà người ta đã đưa ra nhiều
quan điểm khác nhau, thậm chí là đối lập nhau về vai trò của quần chúng nhân
dân và cá nhân trong lịch sử. Tư tưởng tôn giáo, cho rằng mọi sự thay đổi trong
xã hội là do ý chí của đấng tối cao “thượng đế”, “chúa trời”, “mệnh trời”, được
cá nhân thực hiện. Triết học duy tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử của
các bậc vua chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗi lạc; lịch sử do lực lượng siêu
nhiên gọi là “thượng đế”, “chúa trời”, “mệnh trời”, “tinh thần tuyệt đối” sáng
tạo, còn quần chúng nhân dân chỉ là “lực lượng tiêu cực”, là “phiến diện”, là
“công cụ” mà các vĩ nhân cần đến để đạt mục đích của mình. Nhìn chung giai
cấp thống trị bóc lột cho rằng vĩ nhân lãnh tụ đóng vai trò quyết định trong
việc sáng tạo ra lịch sử. Lý luận đó mang tính chất duy tâm và phản động với
mục đích cuối cùng là nhằm biện hộ cho sự bóc lột của giai cấp thống trị.
8
Cùng với quan điểm đúng đắn, khoa học về con người và bản chất của
con người, triết học Mác-Lênin đã lý giải một cách duy vật khoa học về quần
chúng nhân dân, cá nhân, vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ, về vai trò của quần
chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử.
Quần chúng nhân dân là khái niệm mang tính lịch sử, gắn với những
hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Trong bất cứ giai đoạn phát triển nào, quần
chúng nhân dân đều được xác định bởi: Những người lao động sản xuất ra của
cải vật chất, đây là bộ phận hạt nhân của quần chúng nhân dân; Bộ phận dân
cư chống lại những lực lượng xã hội phản động ngăn cản sự tiến bộ xã hội;
Những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Khái niệm quần chúng nhân dân có sự thay đổi và phát triển trong lịch
sử, gắn liền với từng giai đoạn lịch sử, với những hình thái kinh tế-xã hội nhất
định, do đó nó là một phạm trù lịch sử. Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội và
những nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời đại mà quần chúng nhân dân bao hàm
những thành phần, những giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, chứ không
phải toàn bộ mọi người trong xã hội. Quần chúng nhân dân thay đổi theo lịch
sử, có thể trong giai đoạn lịch sử này họ là quần chúng nhân dân nhưng trong
giai đoạn khác họ không phải là quần chúng nhân dân nữa. Nhưng trong bất
kỳ giai đoạn nào của lịch sử quần chúng nhân dân cũng đều được xác định bởi
các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và của
cải tinh thần cho xã hội, đây là lực lượng hạt nhân cơ bản của quần chúng
nhân dân, do đó thường có tên gọi là quần chúng nhân dân lao động.
Quần chúng nhân dân không phải tất cả các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội, mà nó là bộ phận đông đảo của xã hội, trước hết là người lao động
sản xuất của cải vật chất và của cải tinh thần cho xã hội, là nhân tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, lực lượng lao động cơ
bản của thời đại là giai cấp công nhân.
Chính nguời lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, đã
sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Với sức mạnh về vật lực và trí lực của
9
mình người lao động đã tác động vào giới tự nhiên, cải tạo các dạng vật chất
tự nhiên, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất, đáp
ứng cho nhu cầu ngày càng cao của con người và xã hội. Cũng chính quá
trình lao động sản xuất đó, người lao động đã không ngừng được phát triển cả
về số lượng lẫn chất lượng lao động cả về thể lực lẫn trí lực. Ngày nay, cùng
với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình
độ lao động của quần chúng nhân dân ngày càng được nâng cao một cách rõ
rệt.
Thứ hai: những bộ phận dân cư chống lại những lực lượng xã hội
lạc hậu, phản động, giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân
dân.
Quần chúng nhân dân không phải tất cả các bộ phận dân cư trong xã
hội, mà chỉ bao gồm các giai cấp, các tầng lớp xã hội bị thống trị áp bức bóc
lột, đó chính là lực lượng xã hội đối kháng với giai cấp thống trị áp bức, bóc
lột. Chính lực lượng xã hội này đã thực hiện những cuộc đấu tranh giai cấp
chống lại giai cấp thống trị áp bức bóc lột, làm nên những cuộc cách mạng xã
hội đưa lịch sử xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao. Đây chính là lực
lượng cơ bản, là động lực chủ yếu của mọi cuộc cách mạng xã hội trong lịch
sử.
Thứ ba: những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã
hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hay gián tiếp trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Quần chúng nhân dân không phải mọi lực lượng trong xã hội nói
chung, mà nó chỉ bao gồm các lực lượng tiến bộ trong xã hội. Là lực lượng
đối lập với giai cấp thống trị bóc lột, đối lập với bọn phản cách mạng, đối lập
với các lực lượng lạc hậu kìm hãm sự phát triển trong xã hội. Chính bằng các
hoạt động thực tiễn của mình, mà trước hết là lao động sản xuất của cải vật
chất, đấu tranh giai cấp và các hoạt động chính trị xã hội khác, quần chúng
nhân dân đã đóng vai trò quyết định làm thúc đẩy mọi mặt đời sống phát
triển, làm cho lịch sử xã hội không ngừng vận động, biến đổi từ thấp đến cao.
10
Ngày nay, quần chúng nhân dân bao gồm toàn bộ lực lượng tiến bộ của
nhân loại, trong đó lực lượng cơ bản là giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, đoàn kết đấu tranh phấn đấu thực hiện cho các mục tiêu cơ bản của thời
đại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Như vậy, quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích cơ bản
gắn liền với một hình thái kinh tế-xã hội nhất định, bao gồm những thành
phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh
đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định.
Thực chất quần chúng nhân dân là sự liên kết những cá nhân thành một
khối thống nhất được xây dựng trên cơ sở nền tảng là lợi ích cơ bản nhằm
thực hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Do đó quần chúng nhân dân là một
phạm trù lịch sử, vận động và biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
1.1.2. Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Con người sáng tạo ra lịch sử, song vai trò quyết định đối với sự phát
triển xã hội là ở một cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhân dân đông đảo?.
Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, các trường phái triết học trước
Mác đều chưa nhận thức được vai trò của quần chúng nhân dân. Tư tưởng tôn
giáo và chủ nghĩa duy tâm cho rằng mọi sự thay đổi trong lịch sử xã hội là do
ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên và trao quyền cho các cá nhân
thực hiện, lịch sử chỉ còn là lịch sử của cá nhân lãnh đạo, nắm quyền lực cùng
với tư tưởng của họ, quần chúng nhân dân chỉ là vật mang công cụ thực hiện
tư tưởng của các “đấng bề trên” mà thôi. Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẩn
chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về xã hội, khi cho rằng nhân tố quyết định
sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới
sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu. Khi đề cao vai trò quần chúng nhân
dân, thì lại phủ nhận vai trò vĩ nhân hoặc không lý giải được một cách khoa
học vai trò quần chúng nhân dân.
Với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh một cách
khoa học vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn
11
mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân kiệt xuất trong sự phát
triển của xã hội. Chính quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra
lịch sử, xã hội, và cá nhân kiệt xuất là sản phẩm của thời đại là người lãnh đạo
quần chúng nhân dân đấu tranh, làm cách mạng thắng lợi. Bởi vì, mọi lý
tưởng giải phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và
hoạt động của quần chúng nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự do không làm biến
đổi xã hội mà phải thông qua hoạt động cách mạnh, hoạt động thực tiễn của
quần chúng nhân dân (để biến lý tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đời
sống xã hội).
Chính lý luận sắc bén mang tính khoa học và cách mạng chủ nghĩa
Mác-Lênin đã bác bỏ luận điểm của các nhà triết học duy tâm và duy vật
không triệt để trước đó. Đây chính là bước chuyển biến cách mạng trong nhận
thức về lịch sử, về sự phát triển của xã hội. Đó chính là căn cứ khoa học để
giai cấp công nhân, để chính đảng vô sản xây dựng đúng đắn đường lối chiến
lược và sách lược đưa sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản đến thắng lợi
hoàn toàn. Đó cũng là biểu hiện tính khoa học, cách mạng và đậm đà tính
nhân văn, nhân bản của lý luận Mác-Lênin, vì mục đích giải phóng giai cấp,
giải phóng nhân loại đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho con người.
Vai trò của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất: quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã
hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển
của xã hội.
Chúng ta biết rằng, con người muốn tồn tại trước hết cần phải thỏa mãn
những nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, mặc Để đáp ứng những nhu cầu đó,
người ta phải không ngừng sản xuất. Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản
quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Hoạt động sản xuất vật chất là
hoạt động của toàn bộ xã hội, chứ không phải của một cá nhân nào. Trong đó
lực lượng cơ bản đông đảo và quyết định là quần chúng nhân dân. Trong quá
trình lao động sản xuất, loài người càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm và
hiểu biết về giới tự nhiên, cải tiến kỹ thuật sản xuất, công cụ sản suất, cải tiến
12
tổ chức quản lý nâng cao năng suất lao động. Nghĩa là không ngừng phát triển
lực lượng sản xuất. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự
thay đổi của quan hệ sản xuất cho phù hợp. Điều đó cũng làm cho phương
thức sản xuất của xã hội thay đổi và phát triển.
Lao động sản xuất ra của cải vật chất của quần chúng nhân dân là
yêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Quá
trình sản xuất vật chất, chế tạo và cải biến công cụ lao động là hoạt động
của toàn bộ xã hội chứ không phải của một cá nhân. Lực lượng sản xuất
cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm lao động chân
tay và lao động trí óc. Người ta chỉ có thể sản xuất được bằng cách hợp
tác với nhau theo một cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau.
Thực tiễn sản xuất của loài người, của quần chúng nhân dân là cơ sở và
là động lực, phát triển của khoa học-kỹ thuật. Khoa học không có lý do tồn tại
nếu không có hoạt động sản xuất. C.Mác, Ph.Ăngghen đã từng nói: “Chính
con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình
đã làm biến đổi cùng với sự tồn tại của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy
của mình”[12; 277].
Đến lượt nó khoa học lại thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất
lao động. Khoa học-kỹ thuật cũng không hoạt động riêng lẻ của một số cá
nhân nào. Ngày nay, nhân dân lao động trước hết là giai cấp công nhân và đội
ngũ trí thức là lực lượng cơ bản của nền sản xuất hiện đại, trí tuệ cao. Nền sản
xuất xã hội sẽ sa sút, kém hiệu quả nếu tài năng trí tuệ, năng suất lao động của
đông đảo những người lao động không được phát huy, không được nâng cao.
Trong trường hợp đó khoa học cũng khó phát triển. Đó là cơ sở để khẳng định
hoạt động sản xuất của quần chúng là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn
tại và phát triển của xã hội.
Thứ hai: quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội.
Quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng quyết định sự phát triển
của sản xuất, mà còn là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
13
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấp
thống trị và giai cấp lao động bị trị. Khi quan hệ sản xuất đã trở thành xiềng
xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến mâu thuẫn giai
cấp đối kháng không thể dung hòa, điều hòa được, tất yếu dẫn đến đấu tranh
giai cấp. Đấu tranh giai cấp phát triển đến giai đoạn đỉnh cao của nó sẽ thực
hiện cuộc cách mạng xã hội để xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thiết lập quan hệ
sản xuất mới, giải phóng lực lượng sản xuất hình thành phương thức sản xuất
cao hơn. Cách mạng xã hội sẽ xóa bỏ chế độ xã hội cũ, thiết lập chế độ xã hội
mới tiến bộ hơn.
Quần chúng nhân dân bao giờ cũng là lực lượng cơ bản của cách mạng,
đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng. Trong các cuộc
cách mạng vĩ đại làm thay đổi hình thái kinh tế-xã hội, quần chúng nhân dân
tham gia đông đảo, tự giác, tích cực thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi.
Cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân, là sự nghiệp của quần
chúng chứ không phải sự nghiệp riêng của một cá nhân, anh hùng nào. Lịch
sử của xã hội loài người đã chứng minh điều đó.
Chính trong thời kỳ bão táp cách mạng, vai trò chính trị của quần
chúng được thể hiện, đặc biệt nổi bật nhất là các cuộc cách mạng do giai
cấp vô sản lãnh đạo. Trong thời kỳ lịch sử này, quần chúng nhân dân được
thức tỉnh một cách mạnh mẽ với một tinh thần nhiệt huyết và tự giác cao
làm cho lịch sử tiến nhanh với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”.
Đánh giá về điều này Lênin nói: “Cách mạng là ngày hội của những
người bị áp bức và bị bóc lột. Không lúc nào như trong thời kỳ cách mạng mà
quần chúng nhân dân tỏ ra là người sáng tạo tích cực như thế trong việc xây
dựng trật tự mới. Trong những thời kỳ ấy nhân dân có thể làm nên những sự
việc kỳ diệu”[10; 13].
Cách mạng là sự nghiệp của bản thân quần chúng, không có sự
tham gia tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân thì không thể có
những chuyển biến cách mạng trong lịch sử. Các cuộc cách mạng xã hội
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét