Đề án Kinh tế Du lịch
trên phạm vi toàn thế giới ngời ta đã rút ra nhiều bài học rất có giá trị đóng góp
vào lý luận và hoạt động của loại hình du lịch sinh thái.
Theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc biệt tổng hợp các mối quan
tâm cảm giác nhiều đến môi trờng thiên nhiên và tìm đến những vùng thiên nhiên
nhiều tiềm năng về môi trờng sinh thái để cải thiện kinh tế, phúc lợi xã hội, sức
khoẻ và hởng thụ, khám phá những cái mới, cái lạ, cái đẹp và sự trong lành của thế
giới tự nhiên , tạo ra mối quan hệ hữu cơ, hoà đồng giữa con ngời với thiên nhiên,
môi trờng đồng thời hành động có ý thức trách nhiệm làm cho thiên nhiên môi tr-
ờng bền vững, phong phú phục vụ trở lại lợi ích của con ngời cả ở hiện tại và tơng
lai.
1.3 Tất yếu về du lịch sinh thái tại Việt Nam
Phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du lịch sinh thái phát triển
nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng. Nhu cầu
này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo về tổng
thể một tơng lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với t cách là một ngành kinh tế.
Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do nhu cậu khách quan, xu thế này còn
không nằm ngoài xu thế chung về phát triển xã hội của loài ngời khi các giá trị tài
nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác cạn kiệt.
Việt Nam là một đất nớc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm
hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía
xích đạo. Vị trí đó đã tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao, ma
nhiều. Việt Nam có đờng bờ biển dài hơn 3000km, lng dựa vào dãy Trờng Sơn.
Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ động thực vật vô cùng
phong phú, đa dạng và độc đáo. Kết hợp vào đó có rất nhiều nét văn hoá dân tộc
đặc sắc, đậm đà. Những yếu tố đó đã tạo nên cho Việt Nam một lợi thế to lón
trong việc phát triển loại hình du lịch sinh thái. Cùng với việc nỗ lực bảo tồn, khai
thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá phục vụ phát triển kinh
tế thông qua du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Với t cách là một ngành kinh
tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có Du lịch sinh thái ngày càng khẳng định vị thế
của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Đề án Kinh tế Du lịch
1.4 Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
1.4.1 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức đợc du lịch sinh thái là sự tồn tại của các
hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự nhiên đ-
ợc hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao
gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology),
sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp ( agri-cultural ecology),
sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh
học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể
hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ
giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp
lên sự sống nh : đất, nớc, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco-systems)
và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo
công ớc đa dạng sinh học đợc thông qua tại Hộ nghị thợng đỉnh Rio de Jannero về
môi trờng).
Nh vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và
phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao
nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao hoạt
động du lịch sinh thái thờng chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên ( natural
reserve), đặc biệt ở các vờn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại những khu
rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. tuy nhiên điều này
không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hinh du lịch sinh thái phát triển ở những
vùng nông thôn ( rural tourism ) hoặc các trang trại ( farm tuorism) điển hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch
sinh thái ở 2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao đợc sự hiểu biết cho khách du lịch
sinh thái, ngời hớng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là ngời am hiểu
cac đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phơng. Điều này rất
quan trọng và có ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái,
khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm
hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở ngời hớng dẫn viên. trong nhiều
trờng hợp, cần thiết phải cộng tác vói ngời dân địa phơng để có đợc những hiểu
Đề án Kinh tế Du lịch
biết tốt nhất, lúc đó ngời hớng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một ngời phiên dịch
giỏi.
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có đợc ngời điều hành có nguyên
tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống tờng chỉ quan tâm đến lợi nhuận và
không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ
đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết đợc những giá trị tự nhiên và
văn hoá trớc khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi. Ngợc lại, các
nhà điều hành du lịch sinh thái phải có đợc sự cộng tác với các nhà quản lý các
khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phơng nhằm mục đích đóng góp vào
việc bảo vệ một cách lâu dai các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc
sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa ngời dân địa phơng và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trờng, theo đó du lịch sinh thái cần đợc
tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ cá quy định về sức chứa. Khái niệm sức
chứa đợc hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những
khía cạnh này có liên quan tới lợng khách đến một địa điểm vào cùng một thời
điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây đợc hiểu là số lợng tối đa khách du
lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về
không gian đối vớ mỗi du khách cũng nh nhu cầu sinh hoạt của họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chuuas là giói hàn về lợng du khách mà tại đó
bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống
văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thờng của cộng đồng
địa phơng có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa đợc hiểu là lợng khách tối đa mà khu du
lịch có khả năng phục vụ. Nếu lợng khách vợt quá giói hạn này thì năng lực quản
lý ( lực lợng nhân viên, trình đọ và phơng tiện quản lý ) của khu du lịch sẽ
khhong đáp ứng đợc yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát
hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hởng đến môi trờng và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lợng, vì vậy khó có thể
xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác
nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách
tơng đối bằng phơng pháp thực nghiệm.
Một điểm cần phải lu ý trong quá trình xác định sức chứa là quan niêm về
sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều
Đề án Kinh tế Du lịch
kiện phát triển xã hội khác nhau ( ví dụ giữa các nớc châu á và châu Âu, giữa các
nớc phát triển và đang phát triển ). rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến
hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các
quyết định về quản lý. Điều này cần đợc tiến hành đối với các nhóm đối tợng
khách/thị trờng khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ. Du lịch sinh thái
không thể đáp ứng đợc các nhu cầu của tất cả cũng nh mọi loại khách.
Yêu cầu thứ t là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách
du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh
nghiêm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thờng là rất khó khăn,
song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái.
Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau
công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.
1.4.2 Những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái.
Thị trờng du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh so với các thi trờng
khác. Song sự phát triển nhanh chóng này đe doạ tính bền vững của du lịch sinh
thái và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững. Du lịch
sinh thái bản thân nó bị giới hạn phạm vi, mức độ phát triển. Nó không thể tiếp
nhận một số lợng lớn du khách mà không phải là nguyên nhân dần dần làm thay
đổi dẫn đến sự phá huỷ lý do mà nó tồn tại. Vì vậy vấn đề trọng tâm trong việc
phát triển du lịch sinh thái bền vững là sự kiểm soát hạn chế những nguyên tắc sử
lý và thực hiện.
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trởng liên tục về du lịch. Đây là điểm
khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ
tăng trởng của du lịch .
Du lịch sinh thái đợc phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về
mức độ giáo dục cao về môi trờng và sinh thái thông qua những hớng dẫn viên có
nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác động qua lậi lớn giữa
con ngời và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức đợc giáo dục nhằm biến chính
những khách du lịch thành những ngời đi đầu trong việc bảo vệ môi trờng. Phát
triển du lịch sinh thái làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hoá
và môi trờng, đảm bảo cho địa phơng đợc hởng nguồn lợi tài chính do du lịch
mang lại và cần trú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên
nhiên.
Đề án Kinh tế Du lịch
Sau đây là những nguyên tắc cơ bản về thế nào là du lịch sinh thái thực sự
- Du lịch sinh thái phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trờng,
tăng cờng và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trờng tự nhiên .
- Du lịch sinh thái là không đợc làm tổn hại đến tài nguyên, môi trờng, những
nguyên tắc về môi trờng không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên
bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhàm thu hút khách mà còn bên trong của nó.
- Du lịch sinh thái phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị
bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này .
- Các nguyên tắc về môi trờng và sinh thái cần phải đạt lên hàng đầu do đó
mỗi ngời khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của
nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trờng cho sự thuận tiện
cá nhân.
- Du lịch sinh thái phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa
phơng và đối với nghành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội
hay khoa học ).
- Du lịch sinh thái phải đa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi tr-
ờng tự nhiên, đó là những kinh nghiêm đợc hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi
tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cờng thể trạng cơ thể.
- ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi
sự chuẩn bị kỹ càng của cả ngời hớng dẫn và các thành viên tham gia .
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phơng,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trớc, trong và
sau chuyến đi).
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phơng, tăng cờng sự hiểu
biết và sự phối hợp với các ban nghành chức năng.
- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan
trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của nghành phải đa ra các nguyên tắc và các
tiêu chuẩn đợc chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
-Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ
quốc tế cho ngành.
Đề án Kinh tế Du lịch
Chơng 2
Thực tế phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
2.1 Một số điểm du lịch sinh thái đáng chú ý ở Việt Nam
Trong vùng du lịch phía Bắc và Bắc Trung Bộ có điều kiện hình thành tuyến
du lịch sinh thái phía Đông Bắc từ thành phố Hà Nôi-Bắc Ninh-Bắc Cạn-Lạng
Sơn-Cao Bằng phong phú và đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có của đất nớc. Chiều
dài của tuyến du lịch khá thuận tiện về đờng bộ, những năm gần đây nhiều đờng
xá đã đợc nâng cấp hoàn chỉnh nh đờng quốc lộ mới, đờng 32 v.v Về mặt lu trú
của du khách cũng có các khách sạn với tiện nghi hiện đại. Nhiều tổ chức lữ hành ,
phục vụ thông tin liên lạc, quảng bá v.v các Sở Du lịch, các công ty kinh doanh
du lịch về các làng bản, nhân dân địa phơng trên tuyến điểm du lịch đã có kinh
nghiệm tốt đảm bảo niềm tin gây cảm tình đối với du khách. Tuyến du lịch có thể
tổ chức dài từ 4-5 ngày đối với toàn tuyến, tuy nhiên có thể tuỳ theo yêu cầu của
du khách mà có thể phân thành một tuyến nhất định.
Điều đáng mừng là những năm gần đây nhiều tỉnh, thành trong cả nớc đã h-
ởng ứng tích cực loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này bớc đầu đã đợc
chú ý đầu t để thu hút nhiều khách tham quan, đồng thời hình thành và phát huy
chất lợng phục vụ của các tuor du lịch làm cho du khách thấy thoải mái, chủ động.
Sở Du lịch tỉnh Hà Tây đã mở thêm các tour du lịch sinh thái vờn lồng ghép
các tour du lịch làng nghề nh vuờn sinh thái ở Chơng Mỹ, ở Thờng Tín, khu du
lịch sinh thái Song Phơng, trang trại sinh thái Vân Canh ở Hoài Đức, vờn có Ngọc
Nhị ở Ba Vì v.v
ở Khánh Hoà củng mở các tour du lịch mới đa du khách đến khu vực Đầm
Môn , bãi tắm Xuân Đừng ở vịnh Văn Phong v.v các du khách boi thuyền trên
vịnh, thăm một số bãi biển trên vịnh, thăm làng nghề Hà Đằng từ nhiều năm còn
cách biệt với đất liền, thởng ngoạn Dốc Lết, tắm suối nớc nóng Tháp Bà v.v
Huyện Sa Pa nằm sâu trong rìa Tây Nam , là huyện từ khi ra đời đợc coi là
vùng khí hậu ôn đới đặc biệt của Việt Nam. đây là điểm du lịch sinh thái rất hấp
dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nớc.
Trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cần phải kể đến tiểu vùng
(hoặc khu vực) du lịch Cần Thơ có các yếu tố sinh thái đặc trng mà các tỉnh trong
vùng này khó hội đủ. Tình này là vùng đất màu mỡ của đồng bằng sông Cửu
Long, nên ngày từ thời còn thuộc Pháp ngời dân Nam Bộ đã mệnh danh Cần Thơ
Đề án Kinh tế Du lịch
là Tây Đô. ở đây chính quyền thực dân đã bố trí đầy đủ quyền lực để củng cố địa
vị độc tôn của họ về mặt chính trị-hành chính; còn về kinh tế xã hội cũng sớm phát
triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà đầu t, nhà khoa học, nhà văn hoá do các
yếu tố sinh thái đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn u thế về địa lý, giao thông, về thơng
mại, cả về du lịch nữa.
Riêng về địa lý tự nhiên ở đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên hàng
ngàn km chằng chịt bồi đắp phù sa màu mỡ của sông Hậu cho các cánh động, đảm
bảo năng suất cây lúa của miền Nam. Các khu vờn cây trái theo mùa vụ trĩu quả,
đậm đà hơng vị riêng biệt nh bởi, ổi, chôm chôm, quýt đờng, cam sành, sầu riêng,
xoài cát, đu đủ, măng cụt, mận, nhẵn v.v Cùng các khu vờn nhà của các hộ dân
c nông trờng Sông Hậu trên diẹn tích 7000 ha vừa gieo trồng các giống lúa mới đạt
năng suất cao, có chất lợng, các dòn rạch với hai bờ xanh cây bạch đàn và các loại
cây ăn quả về mô hình kinh tế sinh thái độc đáo Ruộng , vờn, ao, chuồng tiêu
biểu v.v
Sự hấp dẫn về du lịch sinh thái của vung Cần Thơ làm cho du khách trong cac
tuor du lịch cùng với việc tham quan cac yếu tố kinh tế xã hội đa dạng phong phú
đã tăng liên tục từ năm 2000 góp phần vào số doanh thu của ngành du lịch của
Việt Nam.
Từ năm 2002 ở Củ Chi thuộc thành phố HCM đã bắt đầu đón khách đến nghỉ
mát ở khu du lịch thuộc xã Nhân Đức trên diện tích rộ đến 180 ha gồm 3 khu vực :
một khu du lịch 25 ha gồm nhà lu niệm, vờn hoa, khu vui chơi trên nớc, khu các
bộ tộc Bana, Chơ Ro, Mờng, khu nhà hàng v.v khu thứ 2có các trại gia cầm, trại
cá gồm 19 ao với diện tích khoảng 20.000 m2 nuôi trên 1.000.000 vịt anh đào, có
diện tích riêng nuôi cá rô phi, cá chép Khu thứ 3 rộng trên 100ha trồng thuần
cây giống nhập từ Đài Loan là cây Ma-li-ba-lu có gốc từ Nam Mỹ đợc mệnh danh
là cây phát tài để xuất khẩu.
Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh quan tâm đầu t loại hình du lịch sinh thái
trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, trong đó có quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch sinh thái Cần Giờ, ghuẩn bị xây dựng một cầu cảng du lịch tại Bình Thung ở
quận 7 để phát triển du lịch bằng đờng biển và đờng sông, tiếp tục triển khai kế
hoạch phát triển du lịch sinh thái ở khu vực Tây-Bắc thành phố cùng với dự án
hình thành khu phố văn hoá-dịch vụ-du lịch ngời Hoa ở quận 5. Đồng thời trong
kế hoạch 2001-2010 nhằm phát triển loại hinh du lịch sinh thái - mô hình rất cần
thiết, các nhà quản lý du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh còn liên kết mật thiết với
một số tỉnh nh Quảng Nam, Bình Thuận, Tây Nguyên v.v để thu hút du khách
thực hiện các tour du lịch sinh thái.
Đề án Kinh tế Du lịch
Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 19 km về phía Bắc thuộc ph-
ờng Tân Phú ở quận 9, Khu du lịch Suối Tiên có diện tích khoảng 100 ha từ năm
1999 đã trở thành một điểm hẹn du lịch mới ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vốn
là một nơi hoang dã có một dòng suối nhỏ chảy qua từ nhiều năm trớc cho đến
mãi cuối năm 1995 các nhà quản lý của Công ty xuất nhập khẩu lâm sản, mỹ
nghệ, thơng mại và du lịch Suối Tiên về phát triển du lịch nên đã thống nhất nhạnh
dạn hợp tác đầu t thành điểm du lịch sinh thái.
ở điểm này có các công trình nh Đền Vua Hùng, cổng Thần Tiên, Cầu Kiệu,
cung Kỳ Lân, Giếng Mỵ nơng v.v là những cảnh quan nghệ thuật gọi cho du
khách về truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam. Gần đấy có khu vui chơi
giải trí cùng với hệ thống cáp treo từ trên cao nhìn xuống công trình Long - Lân -
Quy - Phụng nên khu Suối Tiên đợc ngời đơng thời gọi là vùng đất tứ linh.
Trong năm 2002 công trình biển Tiên Đồng bao bọc cả dãy núi gọi là Giả
Sơn cùng những di tích văn hoá sinh thái là nui Lạc Long Quân đối diện với nui
Âu Lạc v.v Phía bên trong các dãy Giả Sơn có những hang động mô phỏng các
hang động nh Phong Nha, Nam thiên đệ nhất Động v.v Khi du khách leo đến
bậc đá cuối cùng ở núi Lạc Long Quân là nhìn thấy cảnh quan bát ngát của thành
phố Hồ Chí Minh.
ở làng du lịch sinh Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du lịch Than
Niên thành phố Hồ Chí Minh và công ty lơng thực tỉnh Bình Thuận đã đầu t trên
diện tích ở bãi Mũi Né sát biển dới các hàng phi lao thoáng mát cùng gió biển
gồm các nhà nghỉ bằng bê tông kết hợp các loại vật liệu dân tộc nh gỗ, mây, tre,
dừa, trang trí phù điêu bằng thạch cao, bằng gạch men theo phong cách cổ truyền
bộ tộc Chăm-Pa. Trong các tháng đầu năm 2003 này các nhà quản lý làng nghỉ
mát Xi-Va lần lợt tổ chức các chuyến đi cho du khách dạo chơi bằng ca-nô, đánh
bắt hải sản, tham quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề. Thăm quan tìm hiểu các hòn
đảo gần kề, thăm làng thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các tiết mục múa Chăm có trình
diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du khách có dịp thuận tiện tìm hiểu thởng thức
các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v
Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án phát
triển loại hình du lịch sinh thái nh dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài, dự án khu
du lịch sinh thái thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc Hồng Hà, khu
du lịch Cam Ranh thế kỷ XXI. Tại vịnh Văn Phong du khách thồng bơi thuyền
thăm các bãi biển gần nh nguyên sơ, thăm làng Hà Đằng từ nhiều năm vẫn còn
cách biệt với đất liền, thởng ngoạn dốc Lết, tắm suối nớc nóng Tháp Bà
Đề án Kinh tế Du lịch
Cùng với các hang động nh đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ sinh
thái rừng-núi-hang động của Việt Nam có trên 400 suối nớc nóng Kim Bôi ở tỉnh
Hoà Bình, suối nớc nóng Hội Vân ở tỉnh Bình Định v.v Đồng thời không ít vùng
còn có nhiều thác nớc mát nổi tiếng nh thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên
Nà Hang cách thị xã Tuyên Quang 100 km tạo nên một cảnh quan hấp dẫn; thác
Bản Giốc ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng trên dòng sông Quầy Sơn chảy
vòng quanh lãnh thổ Việt Nam đến xã Đàm Thuỷ và từ độ cao trên 30m dòng nớc
trắng xoá đổ xuống qua các bậc đá vôi. Tại tỉnh Bắc Kạn có thác Đầu Đẳng cách
hồ Ba Bể khoảng 3km. Tỉnh Nghệ An có thác Khe Kẻm trong khu bảo tồn thiên
nhiên Pù Mạt thuộc huyện Côn Cờng. Tỉnh Gia Lai có thác Xung Khoeng thuộc
huyện Ch Pờ Rông. Tỉnh Đắc Lắc có thác Drây Sáp. Tỉnh Lâm Đồng có thác
Prenn, thác Pong Gua, thác Đam-bờ Ri, thác Cam Ly, thác Đan Ta La, thác Gou
Gah v.v cũng cách thành phố Đà Lạt chừng 7 km về phía Đông-Bắc từ thời Pháp
có thung lũng khá đẹp do một số du khách nớc này đặt tên là Thung Lũng Tình
Yêu (Valléc damour) có một cảnh hồ rộng chừng 6 ha với cai tên là hồ Đa Thiện
đợc du khách, đặc biệt là giới trẻ thờng đến vãn cảnh đẹp.
Cùng với các loại tài nguyên du lịch tự nhiên, Việt Nam còn có nhiều di sản
văn hoá lịch sử cổ đại, hiệ đại quý mà các loại hình du lịch cần khai thác để phát
triển du lịch sinh thái. Lịch sử lâu đời của đất nớc cho thấy trớc khi có nhà nớc
khoảng 2000-4000 năm những ngời tiền sử đã sống, hái lợm, lao động sản xuất,
phát triển tập quán, phong tục và để lại những di chỉ có giá trị. Tiếp theo các thế
hệ liên tục vừa xây dựng nền kinh tế, phát triển đời sống vật chất và tinh thần,
không ngừng đấu tranh bảo vệ nền độc lập của đất nớc làm cho các di sản văn hoá
phát triển vừa đa dạng, vừa độc đáo. kho tàng tài nguyên du lịch về di sản văn hoá
phi vật thể và những tài nguyên văn hoá đơng đại nói chung quả là lớn góp phần
tạo thêm cơ sở vật chất ổn định để ngành du lịch có điều kiện khai thác, bảo tồn
nhằm góp phần tích cực, có hiệu quả vào sự tăng trởng của nền kinh tế đất nớc.
Tính ra trong cả nớc từ miền xuôi đến miền ngốcc đến hàng ngàn tục lễ đậm
đà tính chất truyền thông xã hội - nhân văn biểu hiện rõ tình cảm quý giá đối với
các nhân vật anh hùng, liệt sỹ có công. Nhng nói chung đều ghi nhớ những đóng
góp vô giá của các tiền nhân lịch sử và là những di sản văn hoá phi vật thể mà 54
dân tộc anh em VIệt Nam rất tự hào.
Các lễ hội đều thờng diễn ra vào các tháng đầu năm âm lịch; có lễ hội kéo dài
qua nhiều ngày. Nếu đúng dịp diễn ra lễ hội mà có các đoàn khách trong các tuor
du lịch thì quả là cơ hội hiếm có đối với họ. Các du khách có thể hoà nhịp cùng lễ
Đề án Kinh tế Du lịch
hội, những giọng hát chân thành, êm dịu, cùng tham gia các diệu múa v.v là
chắc chắn khi về họ mãi nhớ những buổi hội ngộ lắng đọng đối với họ.
2.2 Tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Với 107 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.381.791 ha, trong đó có 12
Vờn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử nên Việt
Nam có lợi thế hơn nhiều nớc trong khu vực trong việc phát triển du lịch sinh thái.
Hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm 12 loại điển hình:Hệ sinh thái rng nhiệt đới
;Hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thờng xanh trên núi đá vôi ; Hệ sinh thái rừng
khô hạn.; Hệ sinh thái núi cao; Hệ sinh thái đất ngập nớc; Hệ sinh thái đầm lầy;
Hệ sinh thái đầm phá; Hệ sinh thái san hô; Hệ sinh thái ngập mặn ven biển;Hệ
sinh thái biển - đảo Hệ sinh thái cát ven biển; Hệ sinh thái nông nghiệp.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và
225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có
77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh
duyên hải Trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập mặn ẩn chứa
nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với Đồng Tháp
Mời là vùng ngập nớc tiêu biểu cho khu vực Đông Nam á. Hệ thống rừng đặc
dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học
với 12.000 loài thực vật ( 1.200 loài đặc hữu). 15.575 loài động vật (172 loài đặc
hữu). Với tiềm năng phong phú và đa dạng, nên ngay từ thời gian đầu của quá
trình đổi mới đất nớc, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam đã đợc coi
trọng. Nếu nh năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn lợt khách quốc tế đến các vùng tự
nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số tơng ứng đã lên đến 620 ngàn và dự
tính 1triệu lợt khách cho cả năm 2000. Bên cạnh đó hàng năm cũng có thêm 3.5
đến 5 triệu lợt khách du lịch nội địa ghé các vùng tự nhiên. nhờ vậy doanh thu của
hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên cũng nh vùng đệm hiện
chiếm khoảng 25-30% trong tổng số doanh thu hàng năm của ngành du lịch. Số
liêu này la đợc tham khảo từ tài liệu tạp chí du lịch Việt Nam
Hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều tra
cơ bản quy hoạch những vùng tiềm năng nh Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phơng, Nam Cát
Tiên, Yok đôn, Côn Đảo, Bình Châu-Phớc Bửu
Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn ở Việt
Nam sẽ đợc phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu. Không gian du lịch sinh thái vùng
nui và ven biều Đông Bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc
Cạn, Bắc Thái. Các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao đợc chọn khu vực này
là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên ( Lạng Sơn), rừng văn hoá lịch sử
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét