Hao mòn máy móc:4 đôla Giá trị của máy móc đợc chuyển vào sợi:
4đôla
Tiền mua sức lao động trong một
ngày :3 đôla
Giá trị do lao động của công tạo ra trong 12
giờ lao động alf :6 đôla
Cộng :27 đôla Cộng 30 đô la
Nh vậy toàn bộ chi phí của nhà t bản để mua sức lao động và t liệu sản
xuất là 27 đôla . Trong mời 12 giờ lao động công nhân tạo ra một sản phẩm mới
(20kg sợi) có giá trị bằng 30 đôla lơn hơn giá trị ứng trớc là 3đôla. 27 đôla ứng
trớc chuyển thành 30 đôla mang lại giá trị thặng d là 3 đôla. Khi bán sản phẩm
thì nhà t bản sẽ thu đợc lợi nhuận là : 30 - 27=3đôla
Nh vậy nguồn gốc của lợi nhuận là t lao động thặng d của công nhân và
bản chất của lợi nhuận là giá trị thặng d.
c. Lợi nhuận:
Giữa gía trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn có một
khoảng chênh lệch, chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí thực
tế hay giá trị của hàng hoá, (c+v)<(c+V+m), cho nên sau khi bán hàng hoá nhà
t bản không những bù đắp đủ số t bản đã ứng ra mà còn thu đợc số tiền lời
ngang bằng với gía trị thặng d. Số tiền này gọi là lợi nhuận.
Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức:
gt = (c+v+m)=k+m) bây giờ sẽ chuyển thành gt= k+P (hay giá trị hàng hoá
bằng chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận)
Giá trị thặng d đợc so với toàn bộ t bản ứng trớc, đợc quan niệm là con đẻ
của toàn bộ t bản ứng trớc sẽ mang hình thức chuyển hoá là lợi nhuận.
d. Sự che dấu quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa của phạm
trù lợi nhuận.
gt = c+v+m=k+m=k+P.
Thoạt nhìn công thức, ta thấy rằng lợi nhuận và giá trị thặng d chỉ là một :
lợi nhuận chẳng qua là một hình thái thần bí hóa của giá trị thặng d, hình thái
mà phơng thức sản xuất t bản nghĩa tất phải đẻ ra. Mặc dù m và p đều có chung
một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê nhng
bản chất của m và p hoàn toàn khác nhau, m phản ánh nguồn gốc sinh ra từ v
còn p thì đợc xem nh toàn bộ t bản ứng trớc đẻ ra, do đó p đã che dấu quan hệ
bóc lột t bản chủ nghĩa che dấu nguồn gốc thực sự của nó. Điều đó là do những
nguyên nhân sau:
Một là, sự hình thành chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa đã xoá nhoà sự
khác nhau giữa c và v. Chúng ta biết rằng v tạo ra m nhng khi chi phí sản xuất t
bản chủ nghĩa hình thành thì sự khác nhau giữa c và v biến mất nên việc p đợc
5
sinh ra trong quá trình sản xuất nhờ bộ phận v bây giờ trở thành con đẻ của toàn
bộ t bản ứng trớc. Lao động là nguồn gốc của giá trị thì biến mất và giờ đây
hình nh toàn bộ chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa sinh ra p.
Hai là, do chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất
thực tế cho nên nhà t bản chỉ cần bán hàng hoá với giá cao hơn chi phí sản xuất
t bản chủ nghĩa là đã có lợi nhuận.
Nếu nhà t bản bán hàng với giá cao hơn giá trị thì m<p
Nếu nhà t bản bán hàng với giá thấp hơn giá trị thì m>p
Nếu nhà t bản bán hàng với giá bằng giá trị thì m = p
Chính sự không nhất trí giữa m và p che dấu thực chất bóc lột của chủ
nghĩa t bản. Đồng thời nó tạo ra ảo giác rằng lợi nhuận là do llu thông tạo ra do
tài kinh doanh của nhà t bản mà có.
e. Tỷ xuất lợi nhuận và vai trò của tỷ xuất lợi nhuận trong đời
sống.
Trên thực tế các nhà t bản không chỉ quan tâm tới lợi nhuận và còn quan
tâm tới tỷ xuất lợi nhuận.
Tỷ xuất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d và toàn
bộ t bản ứng trớc.
Nếu lý luận tỷ xuất lợi nhuận là p' ta có
p'= x 100%
Giữa p' và m có sự khác nhau:
Về mặt lợng p' luôn nhỏ hơn m', vì
p'= x 100% m'= x 100%
Về mặt chất: m phản ánh trình độ bóc lột của nhà t bản đối với công nhân
làm thuê còn p' không thể phản ánh đợc điều đó mà nó chỉ nói lên mức lãi của
việc đầu t t bản.
Việc theo đuổi tỷ suất lợi nhuận cao là động lực thúc đẩy các nhà t bản là
mục tiêu cạnh tranh của các nhà t bản. Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp còn phụ
thuộc vào nhiều nhân tố khách quan: tỷ suất giá trị thặng d; sự tiết kiệm t bản
biến chất; cấu tạo hữu cơ của t bản; tốc độ chu chuyển của t bản.
Vai trò của tỷ suất lợi nhuận trong đời sống:
Tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ nghịch với sự nâng cao cấu tạo hữu cơ của t bản,
tức là trong trờng hợp các điều kiện khác không đổi cấu tạo hữu cơ của t bản
càng thấp thì tỷ suất lợi nhuận càng cao nhng trong một xí nghiệp cá biệt cấu
tạo hữu cơ của t bản tăng lên sẽ dẫn tới nâng cao năng suất lao động trong xí
nghiệp ấy, dẫn tới giá trị cá biệt của hàng hoá do xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn
giá trị xã hội và làm cho xí nghiệp thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Do đó thúc đẩy
6
sự tiến bộ kỹ thuật, tăng cờng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đồng thời
trình độ của ngời lao động cũng đợc nâng cao.
Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp sẽ quyết định thu nhập của xí nghiệp nhiều
hay ít. Trong trờng hợp các điều khác không đổi, thời gian sản xuất và thời gian
lu thông càng rút ngắn thì lợi nhuận của xí nghiệp càng cao và ngợc lại. Do đó
trong khâu sản xuất các xí nghiệp tích cực tìm tòi, không ngừng sáng kiến và
chủ động áp dụng những thành tựu khoa học mới, bồi dỡng đào tạo nhân lực để
rút ngắn thời gian sản xuất thực hiện hợp tác hoá sản xuất không riêng gì những
ngời lao động trong xí nghiệp mà ngay cả lao động của toàn thể các thành viên
trong xã hội cũng đều hợp tác hoá với nhau một cách có kế hoạch sử dụng hợp
lý sức lao động, bố trí ngời một cách có kế hoạch và làm cho họ đều chuyên
môn hoá tạo ra những hình thức mới tiên tiến trong việc tổ chức sản xuất và lao
động. Đồng thời nó còn phát huy rộng rãi tính chủ động tích cực sáng tạo của
ngời lao động. Không chỉ rút ngắn thời gian sản xuất mà xí nghiệp còn rút ngắn
thời gian lu thông nhằm tăng thu nhập của xí nghiệp.
f. Tỷ suất lợi nhuận bình quân và sự hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ suất tính theo % giá tổng giá trị thặng d
trong xã hội t bản và tổng t bản xã hội đầu t vào tất cả các lĩnh vực các ngành
của nền sản xuất t bản chủ nghĩa.
Nếu ký hiệu p' là tỷ suất lợi nhuận bình quân thì:
p'= x 100%
Trong các ngành có cấu tạo hữu cơ t bản cao hơn (với số t bản bằng nhau)
thì giá trị thặng d đợc tạo ra ít hơn so với các ngành có cấu tạo hữu cơ thấp.
Việc hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân có nghĩa là phân phối lại giá trị
thặng d giữa các nhà t bản trong các ngành sản xuất khác nhau theo nguyên tắc:
t bản bằng nhau thì lợi nhuận bằng nhau.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân hình thành dới ảnh hởng của sự cạnh tranh
giữa các ngành thông qua việc t bản di chuyển một cách tự phát từ ngành có tỷ
suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc bình quân hoá tỷ
suất lợi nhuận làm cho hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản
xuất. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong quá trình cạnh tranh giữa các nhà t bản
nó thể hiện lợi ích chung của giai cấp nhà t bản trong việc tăng cờng bóc lột
nhân dân lao động. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất t bản chủ nghĩa cấu
tạo hữu cơ của t bản tăng lên, do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân có xu hớng
giảm xuống. Bằng cách bóc lột công nhân nhà t bản ra sức ngăn cản sự giảm
7
xuống của tỷ suất lợi nhuận. Phạm trù tỷ suất lợi nhuận bình quân còn che dấu
hơn nữa quan hệ bóc lột, che dấu hơn nữa nguồn gốc thực sự trong việc làm
giàu của nhà t bản. Mác là ngời đầu tiên phân tích một cách khoa học phạm
trù tỷ suất lợi nhuận bình quân, ông đã vạch trần những luận điệu giả dối của
các nhà kinh tế học t sản cho rằng lợi nhuận không phải là kết quả của sự bóc
lột và chỉ rõ rằng lợi nhuận là hình thức của giá trị thặng d và vạch ra những
mâu thuẫn giai cấp gắn liền với tham vọng theo đuổi lợi nhuận lớn nhất của nhà
t bản.
Sự hoạt động của qui luật tỷ suất lợi nhuận bình quân là biểu hiện cụ thể
của sự hoạt động của quy luật giá trị thặng d trong thời kỳ tự do cạnh tranh của
chủ nghĩa t bản. Mác viết " Những tỷ xuất lợi nhuận hình thành trong những
ngành sản xuất khác nhau, lúc đầu rất khác nhau. Do ảnh hởng của cạnh tranh
những tỷ xuất lợi nhuận khác nhau đó san bằng thành tỷ xuất lợi nhuận chung,
đó là con số trung bình của tất cả các tỷ xuất lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận
của một t bản có một lợng nhất định thu đợc căn cứ theo tỷ xuất lợi nhuận
chung đó, không kể cấu tạo hữu cơ của nó nh thế nào gọi là lợi nhuận bình
quân".
Giả sử có ba nhà t bản ở ba ngành sản xuất khác nhau t bản mỗi ngành đều
bằng nhau và bằng 100, tỷ xuất giá trị thặng d đều bằng100%. Tốc độ chu
chuyển củ t bản ở các ngành đều nh nhau. T bản ứng trớc đều chuyển hết giá trị
vào sản phẩm. Nhng do cấu tạo hữu cơ của t bản ở từng ngành khác nhau nên
tỷ xuất lợi nhuận khác nhau.
Ngành sản xuất Chi phí sản xuất
Giá trị thặng d với
m' = 100%
p'(%)
Cơ khí 80c+20v 20 20
Dệt 70c + 30v 30 30
Da 60c + 40v 40 40
Nh vậy cùng một lợng t bản đầu t nhng do cấu tạo hữu cơ khác nhau nên
tỉ suất lợi nhuận khác nhau. Nhà t bản không thể đứng yên ở những ngành có tỷ
suất lợi nhuận thấp. Trong ví dụ trên các nhà t bản ở ngành cơ khí sẽ di chuyển
t bản của mình sang ngành da làm cho sản phẩm của ngành da nhiều lên (cung
lớn hơn cầu) do đó giá cả hàng hoá ở ngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của
nó, và tỉ suất lợi nhuận ở ngành này sẽ giảm xuống. Ngợc lại sản phẩm ở ngành
cơ khí sẽ giảm đi (cung thấp hơn cầu) nên giá cả sẽ cao hơn giá trị và do đó tỉ
suất lợi nhuận ở ngành cơ khí sẽ tăng lên. Nh vậy hiện tợng di chuyển t bản từ
ngành này sang ngành khác làm cho ngành có cung (hàng hoá) lớn hơn cầu
(hàng hoá) thì giá cả giảm xuống còn ngành có cầu (hàng hoá) lớn hơn cung
8
(hàng hoá) thì giá cả tăng lên. Sự di chuyển tự do t bản từ ngành này sang
ngành khác làm thay đổi tỷ suất lợi nhuận cá biệt của các ngành. Kết quả hình
thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
g. Sự chuyển hoá giá trị thành giá cả sản xuất
Giá cả sản xuất của hàng hoá bằng chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với
lợi nhuận bình quân (giá cả sản xuất = k + p)
Giá cả thị trờng lên xuống xung quanh giá cả sản xuất
Việc biến giá trị thành giá cả sản xuất là kết quả sự phát triển lịch sử của
nền sản xuất t bản chủ nghĩa. Sự cạnh tranh giữa các nhà t bản đầu t vào các
ngành kinh tế khác nhau có cấu tạo hữu cơ của t bản không giống nhau việc
chuyển t bản từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác làm cho số t bản
bỏ ra bằng nhau thu đợc lợi nhuận ngang nhau tức là lợi nhuận bình quân.
Ngoài ra trong một thời gian nhất định tổng giá cả sản xuất bằng tổng số giá trị
của tất cả các hàng hoá. Giá cả sản xuất là hình thức biểu hiện cụ thể của quy
luật giá trị và quy luật giá trị thặng d.
Quá trình hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất có thể
tóm tắt nh sau.
Ngành
sản xuất
T bản
bất biến
(c)
T bản
khả
biến (V)
m với
m'
=100%
Giá trị
hàng
hoá
P
(%)
Giá cả
hàng
hoá
chênh lệch
giữa giá cả
sản xuất và
giá trị
Cơ khí 80 20 20 120 30 130 +10
Dệt 70 30 30 130 30 130 0
Da 60 40 40 140 30 130 -10
Tổng số 210 90 90 390 0
h. ý nghĩa cách mạng của lý luận lợi nhuận bình quân.
Với một lợng t bản nhất định bỏ vào đầu t ở các ngành sản xuất khác nhau
thu đợc lợi nhuận nh căn cứ theo tỷ suất lợi nhuận bình quân không kể cấu tạo
hữu cơ của nó nh thế nào. Tỷ suất lợi nhuận bình quân hình thành trong quá
trình cạnh tranh giữa các nhà t bản nó thể hiện lợi ích chung của giai cấp nhà t
9
bản trong việc bóc lột nhân dân lao động. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình
quân làm giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất.
3. Các hình thức của lợi nhuận
a. Lợi nhuận công nghiệp
Lợi nhuận công nghiệp là phần giá trị thặng d do công nhân tạo ra trong
lĩnh vực công nghiệp và bị nhà t bản chiếm không. Thời gian lao động trong
ngày của công nhân chia làm hai phần: một phần thời gian lao động trong ngày
công nhân tạo ra một lợng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động. Phần còn
lại của ngày là phần lao động thặng d, lao động trong khoảng thời gian này là
lao động thặng d. Phần lao động thặng d của công nhân thuộc về nhà t bản. Khi
hàng hoá đợc bán trên thị trờng thì phần giá trị thặng d này mang hình thức là
lợi nhuận. Lợi nhuận cao luôn là mục đích của nhà t bản cho nên nhà t bản tìm
ra hai phơng pháp để làm tăng lợi nhuận đó là sản xuất giá trị thặng d tuyệt đối
và sản xuất giá trị thặng d tơng đối.
b. Lợi nhuận th ơng nghiệp.
Lợi nhuận thơng nghiệp là một phần giá trị thặng d đợc tạo ra trong lĩnh
vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng nghiệp. Lợi
nhuận thơng nghiệp có nguồn gốc từ trong lĩnh vực sản xuất, nó là số chênh
lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá. Nhng điều đó không có nghĩa là nhà t
bản thơng nghiệp bán hàng hoá cao hơn giá trị của nó, mà là nhà t bản thơng
nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của
nó.
Nhà t bản công nghiệp luôn tìm ra các phơng pháp sản xuất để làm tăng lợi
nhuận. Vậy tại sao nhà t bản công nghiệp lại chịu nhờng một phần lợi nhuận
cho nhà t bản thơng nghiệp. Sở dĩ nhà t bản công nghiệp bằng lòng nhờng một
phần lợi nhuận cho nhà t bản thơng nghiệp là do nhà t bản thơng nghiệp có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với nhà t bản công nghiệp.
T bản thơng nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lu thông, đó là một khâu,
một giai đoạn của quá trình sản xuất, không có giai đoạn này thì quá trình sản
xuất không thể tiếp diễn đợc. T bản thơng nghiệp chuyên trách nhiệm vụ lu
thông hàng hoá phục vụ cho nhiều nhà t bản cùng một lúc do vậy lơng t bản và
các chi phí bỏ vào lu thông sẽ giảm đi rất nhiều do đó t bản của từng nhà t bản
công nghiệp cũng nh của toàn xã hội bỏ vào sản xuất sẽ tăng lên, qui mô sản
xuất mở rộng và lợi nhuận cũng tăng lên. Mặt khác chủ nghĩa t bản càng phát
triển thì mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng càng gay gắt do đó cần phải có
các nhà t bản biết tính toán, am hiểu đợc nhu cầu thị trờng, biết kỹ thuật thơng
mại chỉ có t bản thơng nghiệp đáp ứng đợc các yêu cầu đó.
10
Đối với nhà t bản công nghiệp, khi lĩnh vực lu thông đã có t bản thơng
nghiệp đảm nhiệm nên rảnh tay trong lu thông chỉ tập trung vào đẩy mạnh sản
xuất, do đó lợi nhuận cũng tăng lên.
c. Lợi nhuận ngân hàng
Ngân hàng t bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh t bản tiền tệ làm môi giới
giữa ngời đi vay và ngời cho vay. Trong nghiệp vụ nhận gửi ngân hàng trả lợi
tức cho ngời gửi tiền vào, còn trong nghiệp vụ cho vay ngân hàng thu lợi tức cho
ngời đi vay. Lợi tức nhận gửi bao giờ cũng nhỏ hơn lợi tức cho vay.
Lợi nhuận ngân hàng là chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận
gửi trừ đi các khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng cộng với các
khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ.
Lợi nhuận ngân hàng ngang bằng với lợi nhuận bình quân
T bản ngân hàng là t bản hoạt động cho nên lợi nhuận ngân hàng hoạt
động theo qui luật tỷ suất lợi nhuận bình quân.
d. Lợi tức cho vay.
Có nhà t bản cần t bản để hoạt động bởi vì họ cha có đủ vốn. Một số nhà t
bản có tiền nhng cha cần sử dụng vốn. Vì vậy nhà t bản cần vốn để hoạt động sẽ
đi vay còn nhà t bản cha sử dụng đến sẽ cho vay. Nhà t bản đi vay (nhà t bản
hoạt động) vay tiền để sản xuất kinh doanh nên thu đợc lợi nhuận. Nhà t bản
cho vay đã nhợng quyền sử dụng t bản của mình cho ngời khác trong một thời
gian nhất định cho nên họ nhận đợc một số tiền lời do ngời đi vay trả cho họ. Số
tiền lời gọi là lợi tức.
Lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản đi vay phải trả cho
nhà t bản cho vay căn cứ vào món tiền nhà t bản cho vay đã đa cho nhà t bản đi
vay sử dụng.
Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng d do công nhân sáng tạo
ra trong lĩnh vực sản xuất.
e. Địa tô
Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa không chỉ hình thành và thống trị trong
lĩnh vực công nghiệp mà còn phát triển trong lĩnh vực nhà t bản kinh doanh
trong nông nghiệp muốn kinh doanh thì phải thuê ruộng đất của địa chủ. Cũng
nh nhà t bản kinh doanh trong công nghiệp nhà t bản kinh doanh trong nông
nghiệp phải thuê đất cho nên ngoài lợi nhuận bình quân ra họ phải thu thêm đ-
ợc một phần giá trị thặng d dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân gọi là lợi nhuận
siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tơng đối ổn định và lâu dài, họ phải trả nó
cho chủ đất dới hình thái địa tô.
11
Địa tô t bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng d còn lại sau khi đã khấu
trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà t bản kinh doanh ruộng đất.
Nguồn gốc của địa tô t bản chủ nghĩa là kết quả của việc bóc lột công
nhân làm thuê cho nông nghiệp.
II. Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị tr-
ờng.
1. Tiến hành phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất
a. Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức kinh tế - xã
hội đã tồn tại trong lịch sử. Hai hình thức này đợc hình thành trên cơ sở trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất xã hội trình độ phân công lao động xã hội trình
độ phát triển và phạm vi của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên ngời sản xuất đồng thời là ngời tiêu dùng. Tự
sản xuất tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự nhiên. Mục đích của sản
xuất là tạo ra những giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính
bản thân ngời sản xuất vì thế có thể nói quá trình sản xuất tự nhiên chỉ gồm có
hai khâu: sản xuất - tiêu dùng. Các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế tự nhiên
mang hình thái hiện vật.
Trong nền kinh tế hàng hoá mục đích của sản xuất là trao đổi hay là để
bán. Mục đích đó đợc xác định trớc quá trình sản xuất và có tính khách quan.
Sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất đều gắn liền với thị trờng.
So với kinh tế tự nhiên kinh tế hàng hoá có u điểm sau:
Một là: Trong kinh tế hàng hoá do có sự phát triển của phân công lao động
xã hội cho nên sản xuất đợc chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trờng ngày
càng mở rộng. Điều đó tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng,
mỗi đơn vị sản xuất, thúc đẩy việc cải tiến công cụ lao động nâng cao trình độ
kỹ thuật mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Hai là: Trong nền kinh tế hàng hoá mục đích của sản xuất không phải là
để tiêu dùng cho chính bản thân ngời sản xuất mà là để thoả mãn nhu cầu ngày
càng cao của thị trờng. Chính nhu cầu ngày càng tăng của thị trờng đã làm hình
thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Nhu cầu tiêu
dùng càng cao thì sản xuất phải mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu.
Ba là: Trong kinh tế hàng hoá, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Yêu cầu của
cạnh tranh đòi hỏi những đơn vị sản xuất hàng hoá phải thờng xuyên quan tâm
tới năng suất lao động, nâng cao chất lợng sản phẩm để thu lợi nhuận ngày
12
càng cao hơn. Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận siêu ngạch đã làm lực lợng sản
xuất có những bớc tiến bộ dài.
Bốn là: Trong kinh tế hàng hoá, do sản xuất xã hội ngày càng phát triển,
quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng mở rộng cho nên sản phẩm hàng hoá ngày
càng phong phú và đa dạng, giao lu kinh tế và văn hoá giữa các vùng, các địa
phơng, các quốc gia ngày càng phát triển. Đời sống vật chất, tinh thần văn hoá
của dân c ngày càng đợc nâng cao.
Những tiền đề của quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng
hoá sự ra đời và phát triển cuả kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan.
Nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ làm xuất hiện những tiền
đề của kinh tế hàng hoá. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá cũng chính là sự
xuất hiện những tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định kinh tế hàng
hoá. Mỗi bớc phát triển của kinh tế hàng hoá là một bớc đẩy lùi kinh tế tự
nhiên. Quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của kinh tế hàng hóa diễn ra
với sự tác động mạnh mẽ của những tiền đề sau:
Phân công lao động xã hội: Phân công lao động xã hội tạo ra những ngành
nghề sản xuất khác nhau. Do phân công lao động xã hội cho nên mỗi ngời
chuyên làm một việc trong một ngành với một nghề nhất định và chuyển sản
xuất ra một số sản phẩm nhất định. Nhng nhu cầu tiêu dùng của họ lại cần
nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu của mình những ngời sản
xuất phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Phân công lao động xã hội làm nảy sinh
những quan hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất với nhau.
Sự độc lập tơng đối về kinh tế giữa những ngời sản xuất: do phân công lao
động xã hội và sự độc lập giữa những ngời sản xuất về kinh tế, cho nên quan hệ
của những ngời sản xuất là quan hệ mâu thuẫn: họ vừa liên hệ, và phụ thuộc vào
nhau vừa độc lập với nhau. Giải quyết mối quan hệ mâu thuẫn này tất yếu đòi
hỏi phải có quan hệ trao đổi dựa trên cơ sở giá trị nghĩa là dựa trên cơ sở trao
đổi ngang giá.
Phân công lao động xã hội phát triển thì quan hệ trao đổi cũng đợc mở
rộng và ngày càng phức tạp.
Phân công lao động xã hội phát triển dẫn tới sự ra đời của ngành thơng
nghiệp. Thơng nghiệp phát triển làm cho sản xuất và lu thông hàng hoá cùng
với lu thông tiền tệ phát triển.
Quan hệ trao đổi đợc mở rộng và phát triển đòi hỏi hệ thống giao thông
vận tải cũng phải mở rộng và phát triển.
b. Quá trình chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh
tế thị tr ờng.
13
Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trờng chỉ khác nhau về trình độ phát triển.
Kinh tế thị trờng là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng
hoá phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá tiền tệ và thị trờng đợc
phát triển và đợc mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu
ra của sản xuất mà còn bao gồm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất. Dung lợng
thị trờng và cơ cấu thị trờng đợc mở rộng hoàn thiện. Mọi quan hệ kinh tế đều
đợc tiền tệ hoá. Khi đó ngời ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trờng.
Những điều kiện hình thành kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng đợc hình thành với những điều kiện sau:
Một là, sự xuất hiện hàng hóa sức lao động và thị trờng sức lao động. Trớc
hết cần khẳng định sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động là một tiến bộ lịch
sử. Ngời lao động đợc tự do, anh ta có quyền làm chủ khả năng lao động của
mình và là chủ thể bình đẳng trong việc thơng lợng với ngời khác. Sự xuất hiện
hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành kinh tế thị trờng là vì:
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế phát triển. Nó có năng suất lao động cao,
ngoài những sản phẩm cần thiết còn có những sản phẩm thặng d. Chính sự xuất
hiện hàng hóa sức lao động đã phản ánh điều đó, sự xuất hiện hàng hoá sức lao
động phản ánh giai đoạn sản xuất đã phát triển trong đó năng suất lao động đã
cao. Nhờ có sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động và thị trờng mà tiền tệ
không chỉ đơn thuần là phơng tiện lu thông mà còn trở thành phơng tiện làm
tăng giá trị, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh thúc đẩy tăng truởng và
phát triển kinh tế.
Với sự suất hiện của hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành các yếu
tố sản xuất một cách hoàn chỉnh,kinh tế thị trờng ra đời.
Hai là, phải tích luỹ đợc một số tiền nhất định và số tiền đó phải trở
thành vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích có lợi nhuận.
Ba là, kinh tế thị trờng là kinh tế tiền tệ cho nên vai trò của tiền tệ vô cùng
quan trọng. Để hình thành đợc nền kinh tế thị trờng cần phải có hệ thống tài
chính tín dụng ngân hàng tơng đối phát triển.
Bốn là, sự hình thành phát triển kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có hệ thống
kết cấu hạ tầng tơng đối phát triển, trên cơ sở đó mới đảm bảo lu thông hàng
hoá và lu thông tiền tệ đợc thuận lợi dễ dàng.
Năm là, tăng cờng vai trò kinh tế của Nhà nớc. Nhà nớc tạo ra môi trờng
và hành lang cho thị trờng phát triển lành mạnh.
Với tất cả các tiền đề trên nền kinh tế thị trờng đợc xã hội hoá cao, các
quan hệ kinh tế mang hình thái phổ biến là quan hệ hàng hoá - tiền tệ và nó đợc
tiền tệ hoá.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét