5
Luận văn tốt nghiệp
đánh giá kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động và giúp cho việc đánh giá đúng
đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình
sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản xuất sản phẩm chi phí được tính trên cơ
sở số liệu chi phí sản xuất thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ.Giá thành
thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm.Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của
doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật công
nghệ để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm đồng thời là cơ sở để xác định kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với Nhà nước cũng như với các đối tác liên doanh, liên kết.
2.2.Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành
- Giá thành sản xuất: Là giá thành tính trên cơ sở các chi phí sản xuất còn gọi
là giá thành công xưởng, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.Giá thành sản xuất của sản phẩm được sử
dụng để hạch toán thành phẩm nhập kho và giá vốn hàng bán(Trong trường hợp
hàng mang bán thẳng không qua kho), giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá
vốn hàng bán là mức lãi gộp trong kỳ của các doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ: Là giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ, gồm giá
thành sản xuất và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản
phẩm tiêu thụ.Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ được xác định và tính toán
khi sản phẩm được xác nhận là tiêu thụ.Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ
để tính toán xác định mức lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.
>0%ZJ>[\1UH %C%D6EF?1>G1D%5H1%G%6E
C%IJ
Để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đồng thời để việc phân
tích, đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
chỉ có thể dựa trên việc xác định giá thành sản phẩm chính xác, nhưng việc xác
định giá thành sản phẩm lại chịu ảnh hưởng kết quả của việc tập hợp chi phí sản
xuất. Do vậy, để tổ chức tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm, đòi hỏi kế toán cần phải làm tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức quản
lý của doanh nghiệp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ chi phí theo đúng đối tượng đã xác định, tập
hợp các khoản mục chi phí, các yếu tố chi phí đồng thời xác định đúng đắn chi phí
sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Vận dụng phương pháp tính giá thành phù hợp để tính giá thành và giá
thành đơn vị của sản phẩm theo đúng khoản mục quy định trong kỳ tính giá thành.
- - Lập báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tiến hành phân tích
tình hình thực hiện các định mức chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và
kế hoạch giá thành sản phẩm. Phát hiện các hạn chế và các tiềm tàng, đề xuất các
biện pháp để giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm.
>0\1UH1BC%]C %C%D6EF?1
5
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
6
Luận văn tốt nghiệp
K0%":-L^/-L72
Chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu
phụ, nhiên liệu được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm, đối với những
nguyên vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi
phí riêng biệt
(phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm)thì hạch toán trực tiếp cho đối
tượng đó. Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp
chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp
phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan, tiêu thức phân
bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo số
lượng sản phẩm.Công thức phân bổ như sau:
C
H = –––
T
Trong đó: - H là hệ số phân bổ
_C là tổng chi phí đã tập hợp được cần phân bổ
_T là tồng đại lượng của tiêu thức phân bổ
Ci = H x Ti
Trong đó: - Ci là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i
_ Ti là tiêu chuẩn phân bổ cho đối tượng i
Tài khoản 621“chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” được mở chi tiết theo
từng đối tượng hạch toán chi phí(phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm, nhóm
sản phẩm, đơn đặt hàng).(Sơ đồ1).
M0%N!72
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả cho lao động trực
tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương
chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương. Ngoài ra, chi phí nhân
công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ BHXH, BHYT,
KPCĐ do chủ sử dụng lao động chịu và tính vào chi phí kinh doanh theo một tỉ lệ
nhất định với tiền lương phát sinh của công nhân sản xuất.
Tài khoản 622“chi phí nhân công trực tiếp”được mở chi tiết cho từng đối tượng
hạch toán chi phí.(Sơ đồ 2).
`0%
Chi phí sản xuất chung là chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm ngoài
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực phát sinh trong phạm vi
các phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp.Do các chi phí sản xuất chung
có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trong phân xưởng nên cần
phải phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng(sản phẩm, dịch vụ)theo tiêu
thức phù hợp.
Đối với chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến
cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
6
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
7
Luận văn tốt nghiệp
Đối với chi phí sản xuất chung cố định, trong trường hợp mức sản phẩm thực
tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định
được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường
thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường.
Tài khoản 627“chi phí sản xuất chung”mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ
phận sản xuất, dịch vụ.(Sơ đồ3).
a0%&bcbdbc
Các chi phí sản xuất nói trên cuối cùng được tổng hợp vào bên Nợ Tài
khoản154“chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”. Tài khoản 154 phản ánh trị giá
thực tế của sản phẩm dở dang cuối kỳ.(Sơ đồ 4).
e0%
Để phục vụ cho việc tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm kế
toán sử dụng Tài khoản 631“giá thành sản xuất”. Tài khoản 631 được hạch toán chi
tiết theo địa điểm phát sinh chi phí(phân xưởng, bộ phận sản xuất)và theo loại,
nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, lao vụ tương tự như Tài khoản 154.(Sơ đồ 5).
>0 H C%;<5C%HCH%5H6EC%IJP5 %\1WUYfYP5
gh
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quá trình
sản xuất, gia công chế biến trên các quy trình của giai đoạn công nghệ hoặc đã
hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng còn phải gia công chế biến tiếp mới
hoàn thành thành phẩm.
Việc xác định sản phẩm dở để:
+ Tính giá thành sản phẩm
iĐiều hành sản xuất theo đúng tín độ một cách đồng bộ
+ Quản lý và xử lý trong trường hợp bị mất mát thiếu hụt, dở dang
+ Để hạch toán ghi sổ kế toán
Tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản
phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp đánh giá sản phẩm dở
dang sau:
K0bdbcj":-L^/-L72
+ Nội dung: Theo phương pháp này sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ đánh giá
khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính trực
tiếp còn các chi phí chế biến như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung tính cả cho giá thành của thành phẩm hoặc giá thành nửa thành phẩm chịu.
Dđ + C
Dck = –––––––– x Qd
Qht + Qd
Trong đó:
Dck: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Dđk: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
Qht : Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
7
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
8
Luận văn tốt nghiệp
Qd : Khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
C : Chi phí sản xuất trong kỳ
iƯu điểm: Tính toán đơn giản, khối lượng tính toán ít.
iNhược điểm: Giá thành của sản phẩm không chính xác do tính cho sản phẩm
dở khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
iĐiều kiện áp dụng: Áp dụng cho những doanh nghiệp chế tạo sản phẩm có
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn(> = 80%).
M0bdj&k-'l'(+'(
+ Nội dung: Theo phương pháp này căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở kiểm kê
cuối kỳ và mức độ chế biến hoàn thành của chúng để tính đổi ra khối lượng sản
phẩm hoàn thành tương đương, trên cơ sở đó tính toán xác định trong khoản mục
chi phí cho sản phẩm dở dang theo nguyên tắc.
- Đối với chi phí bỏ một lần ngay từ đầu của dây chuyền công nghệ: Chi phí
nguyên vật liệu chính trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì tính cho
sản phẩm theo công thức tính:
Dđk + C
Dck= –––––––– x Qd
Qht + Qd
- Đối với các chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất chế biến như chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thì tính cho sản phẩm dở theo công thức:
Dck + C
Dck = –––––––––––––– x Qd x M%
Qht + Qd x M%
Trong đó: M là mức độ hoàn thành
+ Ưu điểm: Tính toán có căn cứ khoa học, mức độ tính toán chính xác cao
làm cho giá thành sản phẩm hợp lý hơn.
+ Nhược điểm: Tính toán phức tạp, khối lượng tính toán nhiều.
+ Điều kiện áp dụng: Áp dụng đối với doanh nghiệp có chi phí chế biến
chiếm tỷ trọng lớn.
`0bdj+4m
+ Nội dung: Theo phương pháp này căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở kiểm kê
cuối kỳ và định mức khoản mục chi phí ở từng công đoạn sản xuất tương ứng để
tính ra chi phí định mức của khối lượng sản phẩm dở dang ở từng công đoạn sau
đó tập hợp lại cho từng sản phẩm.
Dck = Qd x Định mức chi phí từng khoản mục
+ Ưu điểm: Phương pháp tiên tiến, mức độ chính xác cao.
+ Điều kiện áp dụng: Doanh nghiệp có định mức chi phí, việc quản lý, áp dụng
định mức đã đi vào hợp lý, sản xuất ổn định.
a0bdbcjenop
8
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
9
Luận văn tốt nghiệp
Để đơn giản hóa cho việc tính toán, đối với những loại sản phẩm mà chi phí chế
biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí, kế toán thường sử dụng phương pháp
này. Thực chất đây là một dạng của phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo
sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương ở mức độ 50% so với thành phẩm.
>0 H C%;<5C%HC1D%5H1%G%
Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối
tượng tính giá thành mà có sự phân biệt giữa phương pháp hạch toán chi phí và
phương pháp tính giá thành sản phẩm. Về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao
gồm những phương pháp sau:
K0C'(72q+(r
Phương pháp này áp dụng trong những doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất
giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn,
sản xuất dở dang không có hoặc không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác
than, quặng …Các doanh nghiệp sản xuất động lực(điện, hơi nước…). Do số lượng
mặt hàng ít nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất được tiến hành theo sản
phẩm, mỗi mặt hàng sản xuất được mở một sổ(hoặc thẻ)hạch toán chi phí sản xuất.
Việc tính giá thành thường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực
tiếp(giản đơn)và được tính theo công thức sau:
Z = Ddk + C – Dck
Z
z = ––
Q
Trong đó: Z là tổng giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành
z là giá thành đơn vị của sản phẩm hoàn thành
C là tổng chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ theo từng đối
tượng
Trường hợp cuối kỳ không có sản phẩm dở dang hoặc có ít và ổn định thì
không nhất thiết phải xác định trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, vậy tổng chi phí
sản xuất đã tập hợp được trong kỳ chính là tổng giá thành sản phẩm hoàn thành.
Z = C
M0C'(j+(+s
Xuất phát từ quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo công việc
đã xác định: Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng, sản phẩm,
loại sản phẩm, đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng, từng sản phẩm, loại
sản phẩm đã hoàn thành. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành phù hợp nhau, kế toán sử dụng phương pháp giản đơn để tính giá thành với
kỳ tính giá thành phù hợp chu kỳ sản xuất.Trong phương pháp này, mỗi đơn đặt
hàng đã được mở một“phiếu chi phí công việc”hay còn gọi là “phiếu tính giá thành
theo đơn đặt hàng”. Phiếu này được thành lập cho từng đơn đặt hàng khi lệnh sản
xuất đã được ban hành. Tất cả các phiếu tính giá thành công việc được cập nhật và
lưu trữ khi đang tiến hành sản xuất, chúng có tác dụng như các báo cáo chi phí sản
xuất dở dang cho từng đơn đặt hàng. Khi sản xuất hoàn thành kế toán chỉ việc tổng
9
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
10
Luận văn tốt nghiệp
cộng toàn bộ chi phí trên từng phiếu là xác định được giá thành của đơn đặt hàng
hoàn thành.
`0C'(jLk
Phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một
quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu thu được đồng thời nhiều sản
phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà
phải tập hợp cùng cho cả quá trình sản xuất…Theo phương pháp này, kế toán căn
cứ vào hệ số quy đổi để quy đổi sản lượng sản phẩm sản xuất thực tế thành sản
lượng sản phẩm tiêu chuẩn, rồi từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành
các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn
vị của từng loại sản phẩm.
Q = ∑QiHi
Trong đó: - Q là tổng số sản lượng sản phẩm thực tế hoàn thành quy đổi ra
sản lượng sản phẩm tiêu chuẩn
- Qi là sản lượng sản xuất thực tế sản phẩm i
- Hi là hệ số kinh tế, kỹ thuật của sản phẩm i
Dđk + C – Dck
Zi = ––––––––––––– x QiHi
Q
Zi
zi = ––
Qi
a0C'(jt-L
Phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản
phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí
chế tạo(dụng cụ, phụ tùng…)để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường
tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ
chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch(hoặc định mức), kế toán sẽ
tính ra giá thành thực tế cho từng quy cách và tỷ lệ tính giá thành theo từng khoản
mục chi phí:
Giá thành thực tế cả nhóm sản phẩm
Tỷ lệ tính giá thành = –––––––––––––––––––––––––––––– x 100%
Tổng tiêu chuẩn phân bổ
Giá thành thực Tiêu chuẩn phân Tỷ lệ tính
tế từng quy = bổ của từng quy x giá thành
cách sản phẩm cách sản phẩm
e0C'(Np'u
Phương pháp tính giá thành phân bước mà có nửa thành phẩm: Theo phương
pháp này kế toán phải lượt tính giá thành nửa thành phẩm của giai đoạn trước và
10
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
11
Luận văn tốt nghiệp
kết chuyển chi phí nửa thành phẩm sang giai đoạn sau, cứ thế tiếp tục cho đến khi
giá thành sản phẩm cuối cùng.
Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm:
Theo phương pháp này kế toán chỉ tính giá thành và giá thành đơn vị của thành
phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng, do đó chỉ cần tính toán xác định chi phí
sản xuất của từng giai đoạn trong thành phẩm theo từng khoản mục sau đó tổng
hợp chi phí sản xuất cho thành phẩm của các giai đoạn lại để được giá thành của
thành phẩm.
Dđki + Cgđi
Czi = ––––––––––––– x Qtp
Qhtgđi + Qdgđi
Trong đó: -Czi : là chi phí sản xuất nằm trong sản phẩm của giai đoạn i
-Dđki : là chi phí dở dang đầu kỳ của giai đoạn i
-Cgđi : là chi phí phát sinh trong giai đoạn i
-Qdgđi: là khối lượng sản phẩm dở giai đoạn i
-Qtp : khối lượng thành phẩm giai đoạn i
>01v %w R51H \1UH1TU5@Zw5Y[5JH9
>1D%
K0":xp'u&
Việc tập hợp các chi phí sản xuất hoàn toàn do máy tự nhận dữ liệu từ các bộ
phận liên quan và tự máy tính toán, phân bổ chi phí sản xuất trong kỳ.Do đó, từng
khoản mục chi phí phải được mã hóa ngay từ đầu tương ứng với các đối tượng chịu
chi phí.
Căn cứ kết quả kiểm kê đánh giá sản xuất, kinh doanh dở dang trong kỳ theo
từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và nhập dữ liệu sản phẩm dở dang cuối kỳ
vào máy.
Lập thao tác các bút toán điều chỉnh, bút toán khóa sổ, kết chuyển cuối kỳ trên
cơ sở hướng dẫn có sẵn.
Căn cứ vào yêu cầu của người sử dụng thông tin, tiến hành kiểm tra các báo
cáo cần thiết.
M07:"
2.1.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Phân loại chứng từ gốc:
+ Hóa đơn + Phiếu thu
+ Phiếu nhập + Phiếu chi
+ Phiếu xuất + Biên bản giao nhận
….
Mỗi loại chứng từ có một màn hình nhập liệu khác nhau với các yếu tố khác
nhau tuân theo hệ thống chế độ kế toán hiện hành hoặc theo yêu cầu quản lý. Một
số phần mềm màn hình nhập liệu chung cho các chứng từ. Muốn nhập dữ liệu một
11
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
12
Luận văn tốt nghiệp
chứng từ gốc nào đó, ta chỉ cần lựa chọn và nhập dữ liệu vào ô cần thiết ngầm định
sẵn.
Kế toán chi phí nguyên vật liệu thường xuyên phải sử dụng đến chứng từ
xuất vật liệu. Khi nhập dữ liệu phiếu xuất kho, người sử dụng thường chỉ nhập số
lượng xuất là bao nhiêu còn giá trị xuất kho là do máy tự động tính theo công thức
doanh nghiệp đã ngầm định.
2.2.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Phần mềm cho phép người dùng tạo ra bảng lương theo ý muốn và thực hiện
việc tính lương tùy thuộc vào yêu cầu của doanh nghiệp và tiện ích của phầm
mềm.
Sau khi lập phương thức tính lương thì chỉ cần lập một số mục như ngày công,
giờ công, lương cơ bản, lập tức máy sẽ tự động tính toán.
2.3.Kế toán sản xuất chung
Dữ liệu cố định nhập một lần, chi phí sản xuất chung liên quan đến phần hành
kế toán khác, do đó máy sẽ tự động tập hợp các phần khác như các chứng từ về
tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, xuất vật tư…
Riêng đối với KHTSCĐ thì cần xác định phương pháp tính và tính khấu hao.
Mặt khác,CPSXC liên quan đến nhiều sản phẩm mà trong quá trình nhập liệu chưa
chỉ ra trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí nào. Do vậy, phải xây dựng và cài đặt
tiêu thức vào cuối tháng khi đã tập hợp được đầy đủ chi phí phát sinh.Để chương
trình tự động tính khấu hao một TSCĐ thì thường phải khai báo ở CMTSCĐ để
lưu trữ trên số liệu, ngày tháng sử dụng, nước sản xuất…của các loại TS mà doanh
nghiệp quản lý.
2.4.Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh cuối kỳ
Các phần mềm có thể thiết lập Menu kết chuyển cuối kỳ hoặc thiết kế một
chứng từ để tiến hành kết chuyển từ TK đầu 6 sang TK154.
Nếu tập hợp CP theo địa điểm phát sinh chi phí thì phải xây dựng danh mục
các khoản mục chi phí, kết hợp các TK chi phí để tập hợp các TKchi phí vào các sổ
sách, báo cáo theo các khoản mục. Từ đó, lấy số liệu lên bảng tính giá thành theo
khoản mục hoặc tập hợp chi phí theo khoản mục. Khi nhập dữ liệu, các chi phí
phát sinh phải chỉ ra khoản mục chi phí để chương trình tập hợp.
2.5.Kế toán giá thành sản phẩm
Phần mềm kế toán không tự xác định được khối lượng và mức độ hoàn thành
của sản phẩm. Do vậy, kế toán phải xây dựng phương pháp tính toán sản phẩm làm
dở cuối kỳ và mức độ hoàn thành để lập vào chương trình.
12
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
13
Luận văn tốt nghiệp
13
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
14
Luận văn tốt nghiệp
%;<5
1%y 1\ R51H \1UH %C%D6EF?1>G1D%5H
1%G%6EC%IJ1W R519 vC%%G5%R5
0z {J %5 QP R519 vC%%G5%R5
K0S|c7}}7~ !"#$%&!
Hàng không dân dụng là ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại, các chứng từ ấn phẩm
của ngành phải đạt tiêu chuẩn quốc tế, đó chính là cơ sở cho Công ty cổ phần In
Hàng không tồn tại và phát triển.Công ty cổ phần In Hàng không là một doanh
nghiệp Nhà nước hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, có tư cách pháp
nhân, có tài khoản riêng, con dấu riêng.Công ty là một doanh nghiệp in tổng hợp
của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.Trụ sở chính của Công ty cổ phần In
Hàng không đặt tại Sân bay Gia Lâm - Hà Nội.
Công ty cổ phần In Hàng không tiền thân là Xưởng In Hàng không, được thành
lập ngày 01tháng 04 năm 1985 theo Quyết định số 250 / TCHK của Tổng cục
Trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam.
Năm1985 khi mới thành lập, Xưởng In Hàng không thuộc Cục chính trị, Tổng
cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Lúc đầu có nhiệm vụ in báo Hàng không,
giấy tờ quản
lý kinh tế xã hội, tình hình hạch toán nội bộ thuộc Tổng cục Hàng Không dân dụng
Việt Nam.
Đến tháng 3 năm1990, Xưởng In Hàng không được đổi thành Xí nghiệpIn
Hàng không, được xác định là đơn vị kinh tế hạch toán độc lập, có tài khoản riêng
và con dấu riêng.
Ngày14 tháng 9 năm1994, Công ty cổ phần In Hàng không được thành lập
trên cơ sở Xí nghiệp In Hàng không theo quyết định số 1481/QĐ/TCCB- LĐ do
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ký, là Doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập,
trực thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam. Ngày 01/01/2006 Công ty chuyển
đổi thành Công ty cổ phần In Hàng không.
Từ một cơ sở In Typo nhỏ bé thuộc Binh đoàn 678 do Bộ Quốc phòng chuyển
sang, sau gần 20 năm xây dựng Công ty cổ phần In Hàng không đã có một cơ ngơi
bề thế trên mặt bằng có diện tích hơn 6000 m² nhà xưởng và các công trình phụ trợ
phục vụ cho sản xuất kinh doanh và phúc lợi.Trong đó có 2 tòa nhà 3 tầng với tổng
diện tích hơn 2000m². Công ty đã nâng cấp Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ
Chí Minh thành chi nhánh phía Nam phụ trách một phân xưởng sản xuất giấy vệ
sinh, khăn giấy Napkin cao cấp phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài ngành
trên một khuôn viên nhà xưởng rộng hơn 2000m², chi nhánh miền Trung hiện nay
cũng đã được thành lập và đang chuẩn bị đi vào hoạt động chính thức.
Về công nghệ, từ 3 máy Typo ban đầu do Trung Quốc chế tạo, được sự giúp
đỡ của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam,CụcHàng không Dân dụng Việt
Nam,Bộ Văn hóa thông tin và các cơ quan ban ngành Trung ương, đến nay Công
ty đã xây dựng được 5 phân xưởng sản xuất hoàn thiện, đồng bộ.Đã tạo lập được
dây chuyền in Offset khép kín, gồm 5 máy in Offset hiện đại và một dây chuyền in
14
Đồng Thị Phương - 703/02D0517N
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét