Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và
do nguồn lực này quyết định. Bởi vỡ:
_ Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa
lý tự nú chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và
có ý nghĩa tớch cực xó hội khi được kết hợp với nguồn lực con người thông
qua hoạt động có ý thức của con người. Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy
nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chớ, biết “lợi dụng” cỏc nguồn lực khỏc,
gắn chỳng kết lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp, cùng tác động
vào quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá. Các nguồn lực khác là những
khách thể chịu sự cải tạo, khai thác của con người, hết thảy chúng đều phục
vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và
chi phối. Vỡ thế trong cỏc yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao
động là yếu tố quan trọng nhất, là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
nhân loại”.
Chẳng hạn như vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhưng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cấp thiết
của sự phát triển khi nó nằm trong tay những người biết sử dụng đúng mục
đích và có hiệu quả cao.
Tương tự như vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những ưu
thế về vị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng
lực khai thác.
Ngày nay trước xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác
đầu tư nước ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra “cái hích” kinh tế,
nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của “cái hích”
5
này đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào cũn tuỳ thuộc vào yếu tố
con người khi tiếp nhận nguồn lực đó.
Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con
người thỡ mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm “nguồn
lực” cũng khụng cũn lý do gỡ để tồn tại.
_ Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong
khi đó nguồn lực con người lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản
sinh về mặt sinh học mà cũn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất
trong con người xó hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Đó
là cơ sở làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
phát triển như một quá trỡnh vụ tận xột trờn bỡnh diện cộng đồng nhân loại.
Nhờ vậy con người đó từng bước làm chủ tự nhiên, sáng tạo, khám phá ra
nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiều công cụ sản xuất có hiệu quả hơn, đưa xó
hội chuyển qua cỏc nền văn minh từ thấp đến cao.
_ Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật
thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.MáC
đó và đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bóo của cuộc cỏch
mạng khoa học-kỹ thuật và cụng nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các
nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Giờ đây
sức mạnh của trí tuệ đó đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra
những người máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những đặc tính trí tuệ của
chính con người. Rừ ràng là bằng những kỹ thuật cụng nghệ hiện đại do
chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng
kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mỡnh.
_ Thứ tư, kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chĩnh nước ta cho
thấy sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào
6
việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện, nghĩa là
phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Đối
với những nền kinh tế nông nghiệp chưa công nghiệp hoá thỡ mặt số lượng
của nguồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt vỡ nú qui định quy mô của
thị trường. Nhưng khi tiến hành công nghiệp hoá thỡ mặt chất lượng, cơ cấu
và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực lại quan trọng hơn. Cơ cấu lao động cần
cho quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ phải bao gồm: các chính khách, các nhà
hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và
công nghệ, các công nhân lành nghề không có các chính khách, các học
giả tài ba thỡ khú cú thể cú được những chiến lược, chính sách phát triển
đúng đắn; không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thỡ cũng sẽ khụng cú người
sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn, nhân lực, công nghệ. Sự thiếu
vắng hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ
có hại cho quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá đất nước.
Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con người là
nguồn lực có vai trũ quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
thành công thỡ phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành
khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con
người cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và khó
khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.
III . CON NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRề ĐÓ KHÔNG? Vè
SAO?
Có rất nhiều nước trên thế giới đó thực hiện thành cụng cụng cuộc
cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá đất nước với nguồn lực chủ đạo là con người.
Vậy trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hôm nay, Với những thế mạnh và
7
những hạn chế của mỡnh con người Việt Nam có thực hiện được vai trũ của
mỡnh hay khụng?
Trước hết ta tỡm hiểu xem nguồn nhõn lực của Việt Nam cú những
đặc điểm gỡ để phát huy và những hạn chế gỡ cần phải khắc phục.
Những thế mạnh phải nói đến đó là:
_ Thứ nhất, ở Việt Nam hiện nay có lực lượng lao động dồi dào với 36,5
triệu người trong độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2000 con số này sẽ là
45,6 triệu người.
_ Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọng tương đối cao về lao động trẻ, phần lớn có
học vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo
điều kiện tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành
nghề mới. Lực lượng lao động có trỡnh độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào
tạo tương đối lớn (so với các nước có thu nhập như nước ta). Hiện tại nước
ta có trên 9000 tiến sĩ và phó tiến sĩ, trên 800000 người có trỡnh độ đại học
cao đẳng, trên 2 triệu công nhân kỹ thuật. Đây là điều kiện quan trọng cho
quá trỡnh phỏt triển khoa học, tiếp thu, làm chủ và thớch nghi với cỏc cụng
nghệ nhập từ nước ngoài, kể cả công nghệ cao.
_ Thứ ba, chúng ta có một lượng tương đối lớn người Việt sống ở nước
ngoài, tập trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ
người có trỡnh độ cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000
người). Đây là một nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước, là
cầu nối giữa Việt Nam và thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và
các quan hệ quốc tế.
_ Thứ tư, đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con người
Việt Nam. Truyền thống đó cần được nuôi dưỡng và phát huy làm cơ sở cho
việc nắm bắt, tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những
8
phát minh, sáng kiến khoa học của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp phát
triển kinh tế-xó hội của đất nước. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với
cộng đồng được phát huy mạnh mẽ sẽ có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho
việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp mà cũn cú thể giỳp nhau
cả về vốn liếng, tạo dựng và phỏt triển cơ nghiệp, hỗ trợ nhau tỡm kiếm
cụng ăn việc làm, góp phần làm giảm sức ép về lao động hiện nay. Dân tộc
Việt Nam cũn cú truyền thống biết chịu đựng gian khổ để tiết kiệm, tích luỹ
cho đầu tư mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mỡnh và cho nền kinh tế nước nhà
nói chung.
Nhưng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn
chế,những điểm yếu kém sau đây:
_ Thứ nhất, số người lao động được đào tạo quá ít chỉ chiếm 5.5% dân số và
11% tổng số lao động. Mặt bằng dân trí cũn thấp, số năm đi học của người
dân từ 7 tuổi trở lên mới đạt 4,5 năm. Đáng lo ngại hơn là mặc dù chúng ta
đó cố gắng để đạt được 88% dân số biết chữ nhưng hiện nay lại đang diễn ra
quá trỡnh tỏi mự chữ, nhất là cỏc tỉnh miền nỳi (cú xó số người mù chữ lên
tới 70%); trong số trẻ em ở độ tuổi đi học chỉ có 45% em học hết cấp I. Số
người được đào tạo có tay nghề cao cũng như người có học vấn đại học và
sau đại học năm 1982 là 0,26% năm 1993 cũn 0,2%. Tỉ lệ này ở cỏc nước
công nghiệp mới Đông nam á là 0,6 đến 0,8. Trong 75% lao động sản xuất
nông nghiệp chỉ có 7% được đào tạo. Vỡ vậy năng suất lao động thấp, trong
công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bỡnh của thế giới, cũn trong nụng
nghiệp một lao động của ta chỉ nuôi được 3 đến 5 người, trong khi chỉ số
này ở các nước phát triển là 20 đến 30 người. Đây là trở ngại lớn nhất khi
tiến hành công nghiệp hoỏ trong nụng nghiệp trong kinh tế nụng thụn núi
riờng và trong cả nền kinh tế Việt Nam núi chung.
9
_Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trường đại
học thỡ số cỏn bộ giảng dạy dưới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức
cú trỡnh độ trên đại học đang là những chuyên gia đầu ngành đó ở độ tuổi 55
đến 60. Hơn 60% phó tiến sĩ và tiến sĩ, hơn 70% giáo sư và hơn 90% giáo sư
đều ở độ tuổi này.Trong khi đó sinh viên giỏi sau khi tốt nghiệp đều không
muốn ở lại trường. Vỡ vậy việc chuẩn bị cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ gặp
không ít khó khăn.
_Thứ ba, việc bố trớ sử dụng cỏn bộ cũn nhiều việc bất hợp lý giữa cỏc
vựng, cỏc ngành: 80% cỏn bộ khoa học cụng nghệ làm việc tại Hà Nội, ở
thành phố Hồ Chớ Minh chỉ cú 12%. Đa số các cán bộ khoa học của ta làm
việc trong các viện nghiên cứu, các trường học, cũn trong cỏc ngành sản
xuất vật chất thỡ rất ớt Chẳng hạn, trong cỏc ngành nụng lõm ngư nghiệp chỉ
có 8,1% cán bộ có trỡnh độ đại học và 6,49% cán bộ có trỡnh độ sau đại
học. Trong khi cú tới 34% cỏn bộ cú trỡnh độ đại học và 55,47% trỡnh độ
sau đại học làm việc trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xó hội.
Nhỡn vào một số nước trong khu vực, cán bộ khoa học làm việc trong các
ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao như Thái Lan: 58%, HànQuốc: 48%, Nhật
Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lượng lao động không hợp lý này gõy
nờn hiện tượng thừa thiếu giả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong lao
động tri thức. Qua điều tra ở 55 trường đại học có khoảng 14 nghỡn sinh
viờn ra trường chưa có việc làm. Chẳng hạn từ năm 1988 đến nay số sinh
viên tốt nghiệp ở 19 trường đại học và cao đẳng khu vực Hà Nội chưa tỡm
được việc làm tăng dần từ 13,4% (năm 1988) lên 35,38% (năm 1992). Trong
khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu vùng xa lại thiếu
cán bộ khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do sinh viên ra
trường muốn ở lại công tác tại các thành phố, khu công nghiệp, nơi kinh tế
10
phát triển để có thu nhập cao hơn và điều kiện việc làm tốt hơn, mặt khác
chúng ta chưa có chính sách thu hút để điều chỉnh sự phân bố này.
_ Thứ tư, thể chất, sức khoẻ của thanh niờn Việt Nam cũn rất nhiều hạn chế.
Sự phỏt triển về phương diện sinh lý và thể lực dường như chững lại “sau
hơn 40 năm thanh niên nước ta không cao thêm 1cm nào và không cân nặng
thêm 1kg nào”, mức duy dinh dưỡng ở trẻ em dưới năm tuổi là 51,5%.
_ Thứ năm, người lao động nước ta nói chung chưa có nếp lao động công
nghiệp, quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn cũn gũ bú trong nếp
sống phương đông, cha truyền con nối. Chớnh vỡ thế mà cho tới tận thế kỷ
20 cụng cụ làm việc ở cỏc bễ lũ rốn Bắc Ninh vẫn khụng khỏc bao nhiờu với
cụng cụ đó rốn cày cuốc và vũ khớ đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô
gái Hà Đông vẫn dệt lụa trên các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái
triều Lý đó sử dụng.
Trên đây là những điểm trong nguồn lực con người ở Việt Nam với
những thế mạnh cũng như các mặt hạn chế. Phải có những nố lực phi thường
bằng hành động thực tiễn trong việc huy động và sử dụng nguồn lực này thỡ
cụng nghiệp hoỏ hiện đại hoá mới có thể thành công. Đó cũng là lý do vỡ
sao nhiều nhà khoa học kờu gọi phải tiến hành một cuộc “cỏch mạng con
người” mà thực chất là cách mạng về chất lượng nguồn lao động. “Cách
mạng con người” với công nghiệp hoá hiện đại hoá là hai mặt của một quỏ
trỡnh thống nhất, giữa chỳng cú mối quan hệ biện chứng với nhau. Bởi vậy,
mỗi bước tiến lên của cuộc “cách mạng con người” sẽ đem lại những thành
tựu to lớn cho quá trỡnh cụng nghiệp hoỏ hiện đại hoá và ngược lại.
IV. ĐỂ CON NGƯỜI VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRề ĐÓ CẦN CÓ
NHỮNG CHÍNH SÁCH Gè?
Thực chất căn bản của chủ nghĩa Mác về con người là sự phát triển
tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi
11
người. Xó hội loài người chỉ được phát triển khi phát triển tối đa từng cá
nhân. Vấn đề phát triển cá nhân không cũn là vấn đề lý thuyết mà là nhu cầu
thiết yếu trong thực tiễn xó hội ta ngay từ hụm nay. Cụ thể để công nghiệp
hoá hiện đại hoá cần phải tiến hành một cuộc “cách mạng con người” nhằm
tạo ra một số lượng lớn các nhà khoa học một đội ngũ đông đảo các nhân
viên kỹ thuật có trỡnh độ tri thức tương đối cao và những người lao động
lành nghề. Điều đó đũi hỏi sự nghiệp giỏo dục bồi dưỡng nhân tài phải phát
triển tương ứng.
Thử nhỡn vào lịch sử kinh tế của một số nước tư bản phát triển, ta
thấy nói chung những nước này đều rất coi trọng công tác giáo dục. Chẳng
hạn thời kỳ đầu sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản bị phá hoại nặng nề, tài
chính quốc gia vô cùng nguy ngập nhưng chính phủ Nhật bản không hề
giảm chi phí giáo dục, tỷ trọng kinh phớ giỏo dục luụn chiếm 20% trở lờn
trong kinh phớ hành chớnh của Nhật cũn ở Mỹ năm 1985 chi tiêu nhà nước
cho giáo dục chiếm 4,2% GDP và chiếm 12,8% chi tiêu của nhà nước. Thực
tế đó chứng minh, ở Mỹ nếu đầu tư cho giáo dục 1$ thỡ sẽ lói 4$, cũn ở
Nhật thỡ 1$ sẽ lói 10$.
Thực ra không chỉ có các nước tư bản phát triển nhỡn thấy vai trũ của
giỏo dục trong phỏt triển kinh tế mà một số nước Đông nam á cũng đó nhận
thức được vấn đề này. Và kết quả là sự ra đời của những nước công nghiệp
mới ở chõu ỏ. Suốt 40 năm qua, các nước này đó đầu tư cho giáo dục ngày
một tăng. Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong ngân sách nhà nước ở cộng hũa
Triều Tiờn năm 1972 là 13,9%, năm 1981 tăng 17,9%, năm 1983 tăng lên
21,6%. Trong 30 năm từ 1952 đến 1981 ở Đài Loan tổng giá trị sản phẩm
quốc dân tăng 26,43 lần nhưng kinh phí giáo dục tăng hơn 90 lần. Hoặc như
ở Singapore, hiện nay kinh phí giáo dục chiếm 4% giá trị GDP, mấy năm
nữa sẽ lên đến khoảng 6% ngang với mức của các nước phát triển phương
12
Tây. Những con số, ở một mức độ nào đó tự nó đó giải thớch rằng khụng
phải ngẫu nhiờn mà trong một tời gian dài một loạt cỏc nước quanh ta đó
vươn lên trở thành “ những con rồng châu á”.
Đó là do kinh nghiệm của các nước đi trước, cũn ở Việt Nam thỡ
sao?
Trong nhiều năm qua, nhà nước ta đó chỳ ý phỏt triển nguồn lực con
người bằng những chính sách, biện pháp kịp thời, khá hợp lý tuy không
tránh khỏi một số hạn chế do điều kiện kinh tế hạn hẹp.
Thử đi sâu vào một trong những chính sách đó- chính sách phát triển
giáo dục -đào tạo; từ đó rút ra nhận xét, tỡm ra bước đi tiếp theo để hoàn
thành cuộc “ cách mạng con người” ở Việt Nam. Có thể khái quát tỡnh hỡnh
giỏo dục ở Việt Nam như sau:
_ Quy mô giáo dục không ngừng được tăng lên, liên tục phát triển ở các
ngành học và cấp học. Chẳng hạn, quy mô đào tạo sinh viên đại học và cao
đẳng có nhiều biến động lớn. Hỡnh thức đào tạo cao học của ta rất phong
phú: chính quy tập trung, tại chức và ngắn hạn Tỷ lệ sinh viên đại học, cao
đẳng trong độ tuổi đi học của Việt Nam là 2,3_2,5%, cao hơn mức 2% của
Trung Quốc nhưng thấp hơn so với mức16% của Thái Lan, 40% của Hàn
Quốc.
_ Hệ thống giáo dục được mở rộng: số trường học tăng nhanh, mỗi làng xó
cú ớt nhất một trường tiểu học hoặc trung học cơ sở. Số trường phổ thông
trong cả nước liên tục tăng từ năm 1991-1992 đến năm 1994-1995 là 16%.
Trước tỡnh hỡnh phải tăng số lượng người có trỡnh độ chuyên môn cao, nhà
nước chủ trương phát triển hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng. Tính đến
năm 1994, Việt Nam đó cú 109 trường đại học, cao đẳng và đào tạo hơn 200
ngành học. Tuy nhiên so với tiêu chuẩn quốc tế thỡ hầu hết cỏc trường đại
học của Việt Nam cũn nhỏ bộ.
13
_ Trong chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, hỡnh thức giỏo dục tại
chức được nhà nước quan tâm chú ý đặc biệt. Hiện nay đó cú khoảng 200
trung tâm đào tạo nghề theo các chương trỡnh ngắn hạn và dài hạn, nhưng
hàng năm mới chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu của người học.
_ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cũng được phát triển.
Tính đến cuối năm1994, đó cú 1900 sinh viờn, 394 sinh viên cao học, 715
nghiên cứu sinh, 298 thực tập sinh đang học tập nghiên cứu tại 25 nước trên
thế giới. Để có vốn đầu tư phát triển giáo dục Việt Nam đó kờu gọi cỏc tổ
chức quốc tế tài trợ và cho vay vốn. Trong chu kỳ 1991-1995, UNICEF đó
hỗ trợ 10 triệu USD để nâng cấp các nhà trẻ, mở thêm các trung tâm dạy
nghề. Chính phủ Việt Nam đó vay của Nhật Bản từ nguồn ODA thời kỳ
1993-1995 là 1431,02 triệu yờn, của ngõn hàng thế giới 70 triệu USD để
nâng cấp và cải tạo một số trường học lụp xụp. Ngoài ra ngõn hàng thế giới
cũn cam kết cho Việt Nam vay 60 triệu USD thời kỳ 1995-1998 để đầu tư
phát triển trường ĐH Quốc gia HN và ĐH Quốc gia thành phố HCM. Có thể
nói hợp tác trong lĩnh vực khoa học và giáo dục là tiền đề nâng đỡ Việt Nam
vượt qua những khó khăn về vốn, khắc phục các mặt yếu kém về chương
trỡnh, về cụng nghệ giỏo dục, tăng cường sự hiểu biết giữa Việt Nam và các
nước trong khu vực.
_ Từ năm 1990, ngân sách giáo dục của Việt Nam đó ở mức 10-11% tổng
ngõn sỏch hàng năm của nhà nước. So với những năm trước đây, ngân sách
này đó tăng nhưng cũng mới chỉ đáp ứng được 50% yêu cầu của ngành giáo
dục. Giá trị thực tế bỡnh quõn đầu người về ngân sách giáo dục của Việt
Nam vào khoảng 7,7 USD chỉ bằng 1/29 của Hàn Quốc, 1/22 của Malaixia
và 1/8 của Thái Lan.
Tuy nhiên so với các nước có thu nhập bỡnh quõn đầu người thấp như
Việt Nam thỡ nền giỏo dục Việt Nam vẫn được xếp vào loại khá.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét